Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Kết cấu trận đồ bát quái theo luật âm dương ngũ hành "nhịp 1: khấn nguyện" trong tập thơ về Kinh Bắc của Hoàng Cầm" - Pdf 19

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007
15
Kết cấu TRậN Đồ BáT QUáI THEO LUậT ÂM DƯƠNG NGũ HàNH
"NHịP 1: KHấN NGUYệN" TRONG TậP THƠ Về KINH BắC
CủA HOàNG CầM

LƯƠNG MINH CHUNg
(a)

Tóm tắt. Kết cấu trận đồ bát quái theo luật âm dơng ngũ hành "nhịp 1: Khấn nguyện"
trong tập thơ Về Kinh Bắc của Hoàng Cầm đợc xem nh một thế giới hình tợng m ít
ngời nói tới. Bằng việc phân tích chùm thơ (Đêm Thổ, Đêm Kim, Đêm Mộc, Đêm Thuỷ,
Đêm Hoả), bài viết góp phần lí giải những đặc điểm của kết cấu hình tợng cái Tôi trữ
tình trong mối quan hệ với: vũ trụ, nhân sinh, kiếp ngời và quê hơng Kinh Bắc. Qua đó
rút ra một số đặc điểm thi pháp thơ Hoàng Cầm.

Cần phải nói ngay rằng kết cấu
trận đồ bát quái vận hành theo luật
âm dơng ngũ hành nhịp 1 trong tập
thơ Về Kinh Bắc của Hoàng Cầm là
cách gọi tên ớc lệ.

đây chúng tôi
muốn nói đến "trận đồ bát quái" nh
một đặc điểm của hình tợng cái Tôi

soạn, Hoàng Cầm và gia đình cung cấp
t liệu, Hội Nhà văn và Trung tâm Văn
hóa Ngôn ngữ Đông Tây tổ chức xuất
bản. Đây là bộ sách đầu tiên tập hợp đầy
đủ, hệ thống các sáng tác của Tác giả và
là văn bản đáng tin cậy nhất để chúng
tôi làm cơ sở nghiên cứu kết cấu thế giới
nghệ thuật thơ Hoàng Cầm.
Điều dễ nhận thấy là tập thơ Về Kinh
Bắc đợc Thi nhân nhuận sắc và sắp xếp

Nhận bài ngày 28/11/2006. Sửa chữa xong 15/12/2006.
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007
16
theo tám nhịp nh: nhịp 1 Khấn
nguyện, nhịp 2 Kiếp trớc, nhịp 3 Rũ
bụi gia phả, nhịp 4 Rồi cùng đi tất cả,
nhịp 5 Còn em, nhịp 6 Điểm trang, nhịp
7 Rồi lại đi, nhịp cuối Về với ta. Chùm
thơ đêm ngũ hành thuộc nhịp 1: Khấn
nguyện" gồm các bài thơ: Đêm Thổ,
Đêm Kim, Đêm Mộc, Đêm Thuỷ, Đêm
Hoả. Theo quy luật âm dơng ngũ
hành, trật tự ngũ hành phải sắp xếp

trong tâm hồn con ngời. Kết cấu trận
đồ bát quái trong nhịp 1: Khấn
nguyện là một thế giới hình tợng
chợt âm chợt dơng của: kiếp trớc và
kiếp này, đi tất cả và về với ta, rũ bụi
gia phả và điểm trang Đó là sự vận
hành bên trong của hình tợng cái Tôi
trữ tình lung linh giữa mơ và thực, là
cõi lên đồng âm thanh, là phờng bát
âm chữ nghĩa, là cơn cuồng phong lịch
sử loạn mầu trong từ trờng đồng thiếp,
những dân ca, phong tục, truyền
thuyết Hiện tại nhập hồn quá khứ gọi
nhau trong những vũ điệu bất thờng
hoang dại [1].
2. Hình tợng cái Tôi - Con trữ
tình nh một chỗ dựa căn bản, một
nguyên tắc kết cấu để tổ chức thế
giới nghệ thuật trận đồ bát quái
Điều độc đáo là ở câu mở đầu các bài
thơ đêm ngũ hành đều bắt đầu gieo
bằng quẻ "trở về Kinh Bắc" nh: Cúi lạy
Mẹ con trở về Kinh Bắc (Đêm Thổ), Về
Kinh Bắc phải đâu con nghẹn khóc
(Đêm Kim), Về Kinh Bắc phải đâu con
hé miệng (Đêm Mộc), Về Kinh Bắc phải
đâu con nhắm mắt (Đêm Thuỷ), Về
Kinh Bắc tìm chơi đàn kiến lửa (Đêm
Hoả). Tuy nhiên sự biến hoá của mỗi
"hào" có những nét nối liền và đứt gãy

Cũng nh chiếc lá dù xanh tốt đến đâu
cũng có ngày phải rụng về cội. Vì thế
khi phản ánh mối quan hệ của con
ngời và đất mẹ, thi ca đã viết nên
những hình ảnh cảm động nhất, chẳng
hạn Giã mẹ ra đi kháng chiến bốn năm
trời/ Kết nạp Đảng bỗng quay về quê
mẹ/ Có phải quê hơng gọi ta về đấy
nhỉ/ Dặn dò ta, khuyên nhủ ta thêm
(Kết nạp Đảng trên quê mẹ - Chế Lan
Viên) hoặc "Nay yêu quê hơng vì trong
từng nấm đất/ Có một phần xơng thịt
của em tôi" (Quê hơng - Giang Nam),
hay hình ảnh Mẹ Tơm "Sống trong cát,
chết vùi trong cát/ Những trái tim nh
ngọc sáng ngời"(Mẹ Tơm - Tố Hữu).
Kinh Thánh có câu "Thân cát bụi lại trở
về cát bụi". Về Kinh Bắc "Đêm Thổ" là
trở về với mảnh đất có một thế giới của
tuổi ấu thơ, tìm lại hạnh phúc êm đềm
trong thời gian. Nơi ấy có những buổi
"chiều xa", những "Thân cau cụt vẫy
đuôi mèo trắng mốc/ Chuồn chuồn
khiêng nắng sang sông". Những hình
ảnh, những giá trị văn hoá vật chất và
tinh thần của vùng đất địa linh ấy cứ
hiện về nh: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp
Lôi, Pháp Điện (Phật Mây, Phật Ma,
Phật Sấm, Phật Chớp) tạo thành không
gian tâm linh của làng xã Việt Nam cổ

sống và cái chết của đời ngời trên
mảnh đất Quê hơng. Nếu Chế Lan
Viên một thời muốn gọi hồn Chiêm quốc
trong Điêu tàn, thì có thể ví Hoàng
Cầm là ngời con tha phơng đã cao tay
gọi hồn Quê hơng bằng chiếc xe thơ
Về Kinh Bắc. Tác giả gọi Mẹ và Quê
hơng bằng vẻ đẹp âm nhu của quẻ
Khôn, bởi khôn tợng trng cho đất,
cho bà mẹ () và đất lớn và bà mẹ đều
có đức tính hóa dục, chịu nhận, bao
dung [2, tr. 69]. Vì thế những khúc "ca
dao sáo diều chiều lịm tím lng trâu" ở
không trung vọng về nh "nhạc điệu
tâm hồn"(chữ dùng của Hoàng Ngọc
Hiến) xoáy sâu vào tâm trạng cái Tôi -
Con trữ tình biết bao xót xa, tủi buồn,
cứ da diết, rng rng khi tìm về lời ru
cũ. Hình ảnh "Bởi Nga My sao mẹ bắt
đèo bòng" là hình ảnh tợng trng của
thứ quả mang vị ngọt đợc chắt ra từ
đất mẹ "Thổ". Có lẽ bởi Nga My không
có hơng vị lạ giống nh bởi Đoan
Hùng (Phú Thọ), Phúc Trạch (Hà Tĩnh),
hay bởi Năm Roi Nam Bộ nhng
hơng vị của nó rất đậm đà nh hình
ảnh ngời mẹ hiền vẫn suốt đời địu đứa
con xa. Địa danh Nga My gợi ta liên
tởng đến ngọn núi ở tỉnh Cam Túc
Trung Quốc nơi từng là đề tài, là cảm

phủ bụi tàn nhang", hay là những âm
thanh mang dự cảm chia lìa, vang vọng
trong không gian "Phía đông kéo ca xẻ
gỗ/ Phía tây chầy nện ván thiên". Hình
tợng những con ngời trong Đêm Kim
cũng hết sức tiều tuỵ, tội nghiệp, căng
thẳng và bất an, một số phận tuổi già sờ
soạng trong đêm "Ông phó may già
mời đêm chẳng ngủ rủ xô gai biển
động tìm kim". Ông nh nàng Lidơ (Bầy
chim thiên nga - Anđecxen) cứ thao
thức trắng đêm để may áo cứu những
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007
19
ngời ruột thịt của mình ra khỏi bàn
tay ác nghiệt của tử thần. Trong đêm
ấy, có một âm thanh đứt đoạn của khúc
nhạc buồn "kèn già lam ai tập thổi" hay
hình ảnh những liền chị, liền anh "Năm
ba gã trai tập bài lu thuỷ" và tiếng
khóc trong đêm thanh tĩnh của một em
bé mới lọt lòng "Một trẻ sơ sinh đuổi
giọng mèo hoang qua miếu ma phùn".
Hình tợng nhân dân trong thơ Hoàng

phải rơi nớc mắt đó là hình ảnh chiếc
dải yếm nâu sồng của mẹ. Đây không
phải là yếm thắm lụa đào trong ca dao
trữ tình mà là hình ảnh "yếm may ba
ngày mẹ lại vá" khiến ta nghĩ đến tấm
áo vá trăm mảnh của ngời mẹ nghèo
năm xa. Qua thời gian, những mảnh
vá cứ dày thêm, và cứ mỗi lần áo rách,
tình cảm của cái Tôi - Con nh bị một
nhát dao tàn nhẫn cắt sâu vào xơng
thịt của mình. Mỗi lần điệp khúc mẹ
lại vá lặp lại là một giọt nớc mắt tâm
hồn rơi xuống ớt trang thơ. Tấm áo ấy
cứ rách tả tơi sau ba ngày bán mặt
cho đất, bán lng cho trời. Nếu hình
ảnh dải yếm một thời đợc may bằng
vải Tô Châu làm ta trăn trở và căm
ghét cảnh chiến tranh thì hình ảnh dải
yếm rách trong thơ Hoàng Cầm gợi lại
một thời mà số phận luẩn quẩn của con
ngời bị cái nghèo đeo đuổi. Hình tợng
ngời Mẹ hiền với bàn tay cần mẫn,
chắt chiu vá lành dải yếm vào những
canh khuya "buồng động bóng đêm
rằm" là một tứ thơ nhiều vỉa tầng mang
hơi văn Cung oán ngâm của Nguyễn
Gia Thiều nh "cái đêm hôm đó đêm
gì". Đằng sau dáng vẻ bề ngoài lam lũ,
rách rới là một vẻ đẹp lồ lộ của tâm
hồn thanh tao và diễm ảo, đó là một vẻ

lý đợi tua rua" Trong không gian vờn
tình, tác giả đợc hít thở thứ hơng trời
nồng nàn của giàn thiên lý, đợc ngắm
sao trời trong không gian cô tịch của
triết lý Phật giáo. Nhng những hình
ảnh đó chỉ là cái cớ xúc tác để tác giả
gửi gắm những khát khao thầm kín của
hoài niệm phồn thực từ thuở hồng
hoang, thuở ấy mẹ Man Nơng ngủ
quên bị những "bớc chân" của s cha
Khâu - đà - la bớc qua mình. Vì thế
"Chùa Phật tích ruỗi trong màn lụa
bạch" trinh nguyên, thanh khiết cũng
bị nhìn đẫm cái libido "Tợng Quan Âm
má ửng bồ quân" hay "Chuông chiều cởi
yếm/Chuông sớm đội khăn/Câu kinh tê
tê mời ngón tay măng". Trong không
gian đó, có tiếng chuông chùa văng
vẳng của mùa Hạ nh tiếng kêu oan từ
nỗi lòng con quốc quốc "Mõ đêm hè quốc
lội/Ao ma dằng rịt lá trờng sinh". Đó
là hình ảnh ngọn gió đêm hè thổi vào
"trăm cửa", ngọn gió siêu hình nh một
ngời thi sĩ đa tình biết lối ra, ngõ vào
mê cung tình yêu làm "xanh quan lục"
(ngũ hành) - một sắc màu tơi trẻ,
tơng sinh. Đó là một cõi riêng cho con
ong hút mật đời thanh sạch, rũ bỏ bụi
trần "Ong bay vai áo tiểu thon mình".
Thế giới đó con ngời sống với nhau

tình yêu, "mà tình yêu nổi bật ở chất
nhục dục" [5, tr. 493]. Hoàng thi sĩ đã
thả hồn mình vào giấc mộng uyên ơng
hồ điệp trên một thứ "kinh" tụng riêng
cho tình yêu của riêng mình "Tờ kinh
đắp mặt ru bơm bớm/Chuối chín cây
đổ gục đứt dây bìm". Cái Tôi - Hoàng
Cầm đang ráng mình "vợt cạn" một
cách phi thờng để khai sinh ra những
hình tợng thơ ngũ hành từ bờ mê,
bến lú. Những hình ảnh thơ mang
tính chất kỳ bí, kỳ diệu nh những mã
số bí ẩn của t duy nghệ thuật. Điều
này có thể lí giải khi cái Tôi ấy mợn
văn chơng để giải toả những năng
lợng dồn nén bên trong của chính
mình. Nhà thơ đứng trong vờn trần
nhng vẫn mang một giấc mộng hồ
điệp, dẫn dụ ngời đọc bằng cách hoá
mình thành "bơm bớm" bay trong
Đêm Thuỷ về vờn trần, đánh đờng
tìm hơng, "tìm hoa" ở muôn nẻo quê
hơng Kinh Bắc. Có lẽ vì thế mà trong
thơ Hoàng Cầm, cái Tôi ấy luôn bị ám
ảnh nh "cái bóng" nhân tình in trên
bức vách trong huyền thoại Ngời con
gái Nam Xơng. Cái bóng ấy cứ đổ
xuống làm oan khốc cái Tôi - Con. Ta
thấy Hoàng Cầm vừa là nạn nhân vừa
là tội nhân của tình yêu bị nung nấu bởi

nâu". Đêm Hoả là đỉnh cao của sự giao
hoà hai thế giới âm - dơng, của mối
tơng giao Trời - Đất và Ngời. Trong
không gian diệu vợi "Mây nồi rang úp
chụp đỉnh đầu" (trời - dơng), "Giun
đất thòng mỏ con gà trụi" (đất - âm).
Con ngời trong không gian đó có một
nơi lý tởng để mắc võng nơi "vờn
hồng", chạc ổi, thả hồn mình ở chốn
dơng gian. Tác giả vận dụng hai ý thơ
trong truyện Kiều "buông mành
Con Oanh học nói" gợi nhớ đến hình
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007
22
ảnh những ngời phụ nữ trong thời
trung đại "Xăm xăm băng lối vờn
khuya một mình" dám liều mình chạy
theo tiếng gọi của tình yêu mà không sợ
chông gai. Hình tợng ngời mẹ,
ngời vợ thôn quê đời thờng chịu
thơng, chịu khó "xách giỏ cua đồng"
trong mùa đại hạn "mãi dỗ con" trong
cảnh nghèo túng bần hàn "Chiều cơm
suông/ Năm ngón tay lằn mông trẻ

"kẻ phù du" trong những cuộc tình lỡ: lỡ
yêu, lỡ thơng, lỡ nhớ thì trong chùm
thơ đêm ngũ hành nhịp một hình ảnh
cái Tôi - Con là một "kẻ phù sa" từ dòng
sông văn hoá "đỏ nặng", từ thế giới
huyền sử, tâm linh, thế giới của tình
yêu, gia đình và quê hơng Kinh Bắc.
Những tình cảm đó đợc nối mạch
nguồn từ văn mạch dân tộc, văn mạch
quê hơng, là sự tiếp nối của những giá
trị văn hoá cổ truyền đậm đà bản sắc từ
trong cõi hữu thức và cõi vô thức, cõi
tâm linh. Thi nhân Hoàng Cầm là ngời
đã lặng lẽ chắp nối những cõi này để
long mạch trong văn học dân tộc không
bị đứt đoạn trong dòng chảy tự nhiên từ
chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tợng
trng, chủ nghĩa siêu thực và đạt đến
những giá trị đích thực cuối cùng là tìm
ra bản chất của cái Đẹp từ trong những
hiện tợng của đời sống.
3.2. Cùng với Lê Đạt, Trần Dần,
Hoàng Cầm có những cách tân đáng kể
cho nền thơ Việt Nam hiện đại ở chỗ:
nhiều câu thơ mang tính chất bắc cầu,
nhiều hình ảnh thơ mới lạ, giọng điệu
trữ tình trầm lắng, triết lý và mang
những suy t. Giọng văn ấy trong chùm
thơ đêm ngũ hành là giọng của cái Tôi -
Con, do vậy nó êm đềm, nhỏ nhẹ nh

đáng quý di truyền cho đời sau. Ông
xứng đáng đợc thi đàn Việt Nam trải
chiếu hoa cho ngồi giữa làng thơ tình
xa và nay.
Phải khẳng định rằng cái Tôi - Con
Hoàng Cầm can trờng, quả cảm nhng
rất mực hào hoa. Cái Tôi ấy đứng trong
cuộc đời, không ngông nghênh với đời
mà góp phần tô điểm cho bảng màu văn
hoá có đợc sức sống mạnh mẽ trong
văn chơng. Kết cấu hình tợng trong
chùm thơ đêm ngũ hành chuyển vần
theo trận đồ bát quái có nhiều hào chẵn
- lẻ khác nhau, có tơng khắc và tơng
sinh cho thấy hình ảnh con ngời trong
thời hiện đại không đơn giản một chiều
mà là con ngời phức tạp, có buồn vui,
có lo âu khắc khoải và luôn luôn đấu
tranh giữa hai con đờng. ở đó có cái
nhân văn cao cả và cái ti tiện thấp hèn
của dục tình. Dù sao đi chăng nữa cái
Tôi - Con vẫn mang một khát vọng đợc
sống, đợc yêu, đợc thơng. Đó vốn dĩ
là những tình cảm thiêng liêng nhất mà
thợng đế đã ban tặng cho con ngời.
Tình cảm ấy mang tính chất phổ quát,
nó không chỉ của riêng ai, từ ngàn xa
vẫn vậy, trong anh có em, trong ngời
lớn có trẻ con, trong tuổi già có cả
nguồn sống trẻ để Thi nhân kiên trì

[3] Nhiều tác giả, Vẻ đẹp Văn học cách mạng, NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2006.
[4] Chu Văn Sơn, Hoàng Cầm - Gã phù du Kinh Bắc, Tạp chí Nhà văn số 10, 2005.
[5] Đỗ Lai Thuý, Phân tâm học và tình yêu, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2003.
[6] Lê Ngọc Trà, Lí luận và Văn học, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2005. Summary

The Structure of labyrithine battle array laid on the eight -
sign figure pattern according to Yin and Yang rules and rules
of five - basic - elements Span 1: Pray from collection of
poems Return to Kinh Bac by Hoang Cam

The structure of labyrithine battle array laid on the eight-sign figure pattern
according to Yin and Yang rules (Chinese philosophy) and rules of five-basic-
elements (Eastern philosophy) in span 1: Pray from the collection of poems
Return to Kinh Bac by Hoang Cam is considered as a world of images, which has
been concerned recently. Analyzing the sheaf of poems (Earth-Night, Metal-Night,
Wood-Night, Water-Night, Fire-Night), the article helps to explain characteristics in
the structure of the image I - lyric in relation with universe, human life, human
existence and his country Kinh Bac. From that point, characteristics of Hoang Cam
versification are taken out.
(a)
Cao học 13 - Lí luận Văn học, Đại học Vinh


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status