Giáo trình- Mô phôi răng miệng - phần 3 - Pdf 19

24
SỰ KIẾN TẠO CHÂN RĂNG

1. ĐẠI CƯƠNG

Sự kiến tạo chân răng bao gồm:
- Kiến tạo ngà chân răng.
- Khởi đầu biệt hoá từ bao răng, tạo mô quanh chân răng, tạo ximăng, dây chằng
nha chu, xương ổ răng.
Sự kiến tạo chân răng tiếp liền quá trình sinh men và thành lập ngà cổ răng. Kết
quả của quá trình biệt hoá tế bào tiếp theo là sự biệt hoá mô tạo điều kiện cho sự lan
rộng cơ quan men: hình thành bao biểu mô Hertwig-Von Brunn.

2. BAO RĂNG

Bao răng được hình thành sớm: chỉ sau một chút của giai đoạn mủ răng ở giai
đoạn chuông răng. Bao răng bọc toàn bộ cơ quan men và nhú trung mô, tuy nhiên ở
phần đáy của nhú trung mô bao bị đứt đoạn bởi các trục mạch máu xâm nhập vào
nhú trung mô.
Bao răng là một mô liên kết giàu sợi collagene, những sợi này dày đặc ở trung mô
quanh răng và nhú răng, chúng có những xoang đệm, những tế bào trung mô kém
biệt hoá, những nguyên bào sợi chạy dọc theo các bó sợi collagene, mạch máu rất
phát triển, đặt biệt ở biểu mô men ngoài. Trong quá trình kiến tạo chân răng, những
tế bào biểu mô men sát với ngà răng tiêu biến, lớp nguyên bào sợi ở phía trong bao
răng sẽ biệt hoá thành nguyên bào cement, tạo khuôn hữu cơ bị khoáng hoá: cement
răng.
Tế bào lớp ngoài của bao răng biệt hoá thành tạo cốt bào, những tế bào này tổng
hợp và tiết chất căn bản tạo xương ổ răng.
Lớp trung gian tạo dây chằng nha chu. Dây chằng nha chu sẽ gắn một đầu vào lớp
ximăng, đầu kia gắn vào xương ổ răng. Những sợi này sẽ đạt được đến sự định
hướng sinh lý phù hợp cho quá trình mọc răng.

Nguyên bào ngà

26

Vào cuối kỳ sinh men răng, sự phân bào tiếp tục xảy ra ở vùng tương phản, theo
cách này sẽ phủ quanh nhú trung mô, tạo thành hai lớp tế bào: lớp ở ngoài sẽ tạo
thành biểu mô ngà răng ngoài, lớp bên trong tạo thành biểu mô ngà răng trong. Tất
cả gọi là bao biểu mô Hertwig-Von Brunn.
- Lớp tế bào biểu mô ngoài hơi dẹt trong khi lớp tế bào bên trong có hình vuông.
- Ở vùng đáy nhú trung mô, bao Hertwig gấp ngang tạo hoành biểu mô.
- Bao biểu mô Hertwig phân thành hai vùng: vùng ngà tuỷ ở trong và vùng nha
chu ở ngoài.
Bao biểu mô Hertwig tiếp tục phát triển cho đến khi vùng tương phản chấm dứt
sự tạo men, ở đây về sau sẽ là vùng cổ răng. Bao biểu mô phát triển về phía chỏm
răng để tạo chân răng.
Ngược với quá trình xảy ra ở vùng quanh cổ răng, lớp tế bào biểu mô trong không
biệt hoá để tạo nguyên bào men, mà chúng cảm ứng những nguyên bào sợi quanh
nhú trung mô biệt hoá thành nguyên bào ngà, tổng hợp và chế tiết ngà, điều này tạo
nên ngà chân răng. Sự hình thành cement răng Tủy phụMen
Ngà
Cement

tạo chất căn bản ngà.
- Ngà răng dần dần đắp theo hướng hướng tâm, càng chế tiết nguyên thân nguyên
bào ngà càng rút sâu vào phần tuỷ răng, chỉ để lại các nhánh bào tương nằm sâu
trong các tiểu quản ngà ở bên ngoài.
Trong quá trình phát triển có một vài vùng của chân răng biểu mô Hertwig bị
khiếm khuyết, sự khiếm khuyết này dẫn đến việc không tạo được ngà chân răng,
hậu quả là tạo các đường khuyết bên, gọi là tuỷ phụ. Trong quá trình điều trị sự bịt
các đường khuyết bên này rất khó thực hiện, tuy nhiên trong phần lớn trường hợp
sau khi bịt lỗ chân răng chính, tế bào trung mô của tuỷ phụ bị thoái hoá và tự
khoáng hoá.
Song song với quá trình phát triển ngà chân răng, theo hướng từ cổ đến đỉnh chỏm
chân răng dài ra và sự dài ra được định hướng và cảm ứng của bao biểu mô Hertwig
lúc này gọi là màng hoành biểu mô.
Sự đóng chóp đỉnh xảy ra một năm sau khi răng mọc, do đó cần cẩn thận khi
quyết định điều trị ngà răng khi răng chưa trưởng thành, tức là sự phát triển chân
răng chưa chấm dứt.
Trường hợp răng có nhiều chân thì ngà răng được phát triển dựa trên bao biểu mô
Hertwig, kết quả là với sự cảm ứng tạo nguyên bào ngà sẽ tạo ra hai hay nhiều chân
răng.
28Sự kiến tạo chân răng


được ximăng hoá, làm lộ ngà răng, thường xảy ra ở vùng cổ răng. Hiện tượng này
gây cảm giác đau buốt do kích thích thần kinh nằm trong tiểu quản ngà.

6. SỰ HÌNH THÀNH XIMĂNG

Sự sinh ximăng được hình thành từ biểu mô ngoài của bao Hertwig, bắt đầu từ cổ
răng đến chân răng. Cùng với sự tan rã của bao biểu mô Hertwig, các nguyên bào
sợi của bao răng biệt hoá thành nguyên bào ximăng. Trong giai đoạn đầu nguyên
bào sợi áp sát và dọc theo lớp ngà chân răng, gia tăng thể tích tế bào, nhân lệch tâm,
bộ máy bào quan phát triển mang tính chất chế tiết, màng tế bào ở phần ngà chân
răng gấp lại thành nhiều nếp. Nguyên bào ximăng có cấu trúc tương tự tạo cốt bào,
chúng tổng hợp và chế tiết chất căn bản ximăng gồm:
Sợi Sharpey Cement Tế bào ngà
Ngà

Hoành biểu
mô 30
- Collagene (80%), phosphoprotein, glycosaminoglycan, proteoglycan,
glycoprotein.
- Chất căn bản ximăng được khoáng hoá ngay khi được chế tiết, nguyên bào
ximăng dần dần rút ra khỏi lớp ximăng mà chúng bồi đắp.
- Lớp ximăng chạy song song với trục chân răng, vùi trong chất căn bản ximăng là
các sợi ngoại sinh (sợi Sharpey) về sau biến thành dây chằng nha chu.


quá trình phát triển của răng và mào xương ổ.
Nha chu thành lập cuối cùng là ở phần đỉnh chỏm chân răng, ở phần này trong
quá trình tái cấu trúc răng chưa được hình thành, ở thời kỳ đầu chúng hình thành
những sợi ngang gọi là dây chằng Hamac. Dây chằng này chỉ có tính chất tạm thời
về sau chân răng nối với xương ổ răng bằng những sợi hình rẻ quạt.
MEN RĂNG

31
1. ĐẠI CƯƠNG

Men răng bao quanh vùng cổ răng, là tổ chức cứng nhất cơ thể do sự khoáng hoá
cao độ.
Kết quả của sự khoáng hoá chất căn bản men được chế tiết từ nguyên bào men.

2. THÀNH PHẦN CỦA MEN RĂNG

2.1. Chất căn bản hữu cơ:
Chất căn bản hữu cơ của men răng chiếm 2% trọng lượng men răng ở người lớn.
- Thành phần protein chiếm 58%, lipid 40%, nước 2%. Thành phần protein gồm
protein cấu tạo men răng chiếm một lượng lớn acide amine: glycine, glutamique,
serine và aspartique; phosphoproteine.
- Thành phần lipide: thành phần chính là phospholipide và phospholipoprotein, là
thành phần chính của nhú Tomes kéo dài, bị vùi trong chất men trong.
- Những phức hợp proteines-saccharides chiếm một lượng rất nhỏ 0,4-0,5%.
Chất căn bản men do nguyên bào men chế tiết ở giai đoạn trưởng thành, sau đó
phần lớn bị tái hấp thụ bởi tế bào này khi quá trình khoáng hoá chất căn bản xảy ra.

2.2. Pha khoáng hoá:
Thành phần khoáng chiếm 96-98% khối lượng men, 2% nước. Pha khoáng hoá là
quá trình hình thành tinh thể hydroxyapatite (Ca₁₀(PO₄)₆(OH)₂). Mỗi tinh thể

trục dài nhất.
Ở vùng ngoại vi trụ men tinh thể thường chạy xiên.
Đuôi của trụ men hướng một góc 40º so với trục thẳng đứng của tâm trụ men.
Giữa các trụ men là chất hữu cơ gọi là bao trụ.

3. ĐẶC TÍNH VẬT LÝ CỦA MEN RĂNG

Đặc tính vật lý của men răng có được là nhờ các thành phần khoáng.
- Độ cứng: theo thang điểm của Moss: 7º.
- Rất dễ vỡ.
- Rất cản quang (tia X).
- Đồng nhất.
- Dễ bị acid làm thương tổn.
- Ít bị bám bởi các chất hữu cơ ngoại sinh.
- Bóng, sáng.

4. CẤU TRÚC MÔ HỌC

4.1. Cấu trúc trụ men:
Men được hình thành bởi các trụ men xếp sát vào nhau. Những trụ là những dải bị
khoáng hoá chạy khắp vùng men, bắt đầu từ vùng nối ngà đến bề mặt của men.
Phần khoáng hoá dày đặc của trung tâm gọi là tâm trụ, phần kéo dài mỏng tạo thành
đuôi trụ. Trụ men này xếp gối lên trụ men kia, ở người khoảng cách gian trụ rất hẹp.
Đường kính tâm trụ chừng 7m, ở trung tâm trụ các tinh thể men xếp song song
với nhau, trục c của tinh thể song song với trục của trụ, ở đuôi trụ tinh thể chạy theo
hướng đuôi.
Bao quanh tâm trụ và đuôi trụ là chất căn bản gian trụ: bao trụ.
Khi men được khoáng hoá các trụ men chiếm phần kéo dài của nhú Tomes, giữa
là chất gian trụ. Quá trình tinh thể hoá đẩy chất gian trụ ra vùng ngoại biên, phần
lớn chất gian trụ được tái hấp thụ khi quá trình tạo men chấm dứt (bởi nguyên bào
Hình ảnh trụ men qua kính hiển vi điện tử tia quét, bao trụ màu trắng
35Búi men ở đường nối men ngà

Đường nối men ngà (mũi tên)

36

4.2. Những đường tăng trưởng:

Ngoài những vạch có chu kỳ của trụ men phản ánh nhịp độ sinh men. Sự đắp
thêm dần các lớp men phản ánh đường tăng trưởng: đường Retzius. Đường Retzius
chạy quanh răng ngay khi men bắt đầu hình thành, chúng chạy đến bề mặt của răng,
dày chừng 30m, các đường xếp song song tạo đường tăng trưởng. Ở bề mặt của
men răng những đường này có hình ảnh tấm lợp gọi là perikymatie, những đường
gồ ghề perikymatie thường bị bào mòn trong quá trình nhai.

Đường tăng trưởng Retzius

Tinh th
ể men

Tr
ụ men h
ình l
ỗ khóa

38
4.5. Mô sinh lý học men răng:

Sau sinh men, cơ quan sinh men thoái triển., cơ quan men thoái biến khi răng
mọc. Theo cách đó men răng có một cấu trúc không có tế bào, không có sự tái cấu
trúc mô. Tuy nhiên có một số thay đổi nhỏ trong sự tạo men sau khi răng mọc.
- Tất cả những thay đổi này phản ánh những thương tổn:
+ Có thể bắt đầu bằng một sang chấn.
+ Độc chất ngoại sinh hoặc trị liệu.
+ Một nhiễm trùng tại chỗ (bệnh lý tuỷ răng trong quá trình tạo men răng sữa, kéo
theo thương tổn vĩnh viễn) hay phổ thông hơn là nhiễm virus.
Yếu tố bệnh lý di truyền (không hoàn thiện tạo men) thường rất khó phát hiện.
Thật vậy nguyên nhân cảm ứng gây ra sự thay đổi cấu trúc men thường rất khó xác
định và những thay đổi cấu trúc men hiếm khi đặc hiệu, thường phụ thuộc vào giai
đoạn mà những cảm ứng đó kích thích lên men.
Mặc dù không có cấu trúc tế bào, men cũng tồn tại một vài thay đổi mang tính
trưởng thành sau khi răng mọc, sự trưởng thành làm thay đổi cấu trúc hữu cơ mà
bản chất men răng sau khi mọc vẫn còn tồn tại.
Bề mặt của men luôn luôn phản ứng tương hỗ với môi trường của xoang miệng.
Sự phản ánh này làm thay đổi cấu trúc bề mặt của men:
* Những tái cấu trúc sau sang chấn: sự bào mòn các vết tích do dấu ấn của nguyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status