MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Ngày nay, thông tin có ảnh hưởng sâu sắc tới các hoạt động của con người. Thông tin đang
càng ngày càng chứng tỏ là nguồn tài nguyên đặc biệt và một trong những nguồn lực quan trọng trong
sự phát triển của mỗi quốc gia, là công cụ điều hành sản xuất và quản lý xã hội. Thông tin tham gia
trực tiếp vào lực lượng sản xuất, và là nhân tố có ý nghĩa tiên phong quyết định sự thành bại của mỗi
tổ chức, cá nhân.
Suy cho cùng, mọi quan hệ, mọi hoạt động của con người, đều dựa trên một hình thức giao
lưu thông tin nào đó. Việc nghiên cứu thông tin, phát huy tác dụng tích cực của thông tin đã dần được
con người chú ý với mức độ sâu sắc hơn.
Thông tin, tư liệu và thư viện là một phần quan trọng trong hệ thống văn hoá, giáo dục, khoa
học… Trình độ chuyển tải tri thức của chúng phản ánh sự tiến bộ ít hay nhiều của một xã hội hay một
quốc gia về mặt giáo dục, khoa học và văn hóa, và hơn thế còn hể hiện trình độ phát triển con người.
Thực tế lịch sử phát triển văn hoá cho thấy, sự hình thành thư viện như một thành tố trong
thiết chế văn hoá của mỗi cộng đồng, xã hội, quốc gia, là quan trọng và là tất yếu, bởi vì, thông tin tư
liệu cá nhân thường không ̣đủ cho việc nghiên cứu chuyên sâu, nên các nhà nghiên cứu và những
người có nhu cầu thông tin cần phải thu thập thêm thông tin, tư liệu trong thư viện và các nguồn cơ sở
dữ liệu khác. Thư viện chính là nơi lưu giữ chủ yếu, đồng thời là nơi truyền bá rộng rãi các thông tin,
tư liệu ấy. Do đó, các nguồn thông tin, tư liệu trong thư viện trở thành kho tri thức giúp con người tự
học, tự nghiên cứu, trau dồi kiến thức nâng cao trình độ một cách hiệu quả và bền vững nhất.
Rộng hơn, thông tin, tư liệu và thư viện sẽ cung cấp tri thức để phát triển con người về chất
một cách lý tưởng nhất và thư viện cũng là nơi hội tụ thông tin, tư liệu phong phú của cộng đồng nhân
loại để phục việc trao đổi, chuyển giao thông tin, tri thức của mỗi quốc gia dân tộc và nhân loại, là nơi
cấp “vốn văn hóa” cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia dân tộc.
Trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển hiện đại, họat động thông tin, tư liệu và thư
viện càng trở nên phổ biến, có tính chuyên nghiệp, có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của quốc gia.
Vai trò của chúng ngày càng được các quốc gia coi trọng, được nhìn nhận một cách đúng đắn hơn,
đồng thời có chương trình khai thác, phát triển chúng một cách chuyên nghiệp, hiện đại, nhằm đáp
ứng những nhu cầu ngày càng cao của sự phát triển kinh tế -xã hội.
Lào là một quốc gia có trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp. Do những điều kiện lịch
sử, địa lý đặc biệt của mình đã chưa tạo ra các điều kiện tốt cho sự phát triển của thông tin, tư liệu và
và xã hội Lào nói.
Nhiệm vụ của Luận án:
Luận án có 3 nhiệm vụ cơ bản:
Một là, chỉ ra vai trò của thông tin, tư liệu và thư viện đối với sự phát triển của khoa học xã
hội.
Hai là, nêu lên một số vấn đề về thực trạng, vai trò của thông tin, tư liệu và thư viện đối với
sự phát triển của khoa học xã hội Lào gần 40 năm qua
Ba là, đưa ra những định hướng, giải pháp thúc đẩy việc phát huy vai trò thông tin, tư liệu và
thư viện đối với khoa học xã hội, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển khoa học xã hội ở
Lào hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung vào nghiên cứu mối quan hệ của thông tin tư liệu và thư viện với sự phát
triển của khoa học xã hội Lào trong gần 40 năm qua. Tựu trung lại đó chính là mối quan hệ giữa
thông tin và sự phát triển khoa học xã hội Lào.
Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của thông tin – tư liệu – thư viện đối với khoa học xã hội.
Phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu nói trên được xem xét chủ yếu là ở Lào: Mối
quan hệ giữa thông tin, tư liệu và thư viện với khoa học xã hội ở Lào. Về lý luận, luận án tìm hiểu mối
quan hệ này trong các tài liệu triết học, khoa học luận và thư viện học. Về mặt thực tiễn, luận án giới
hạn những nghiên cứu của mình trong phạm vi thực trạng ở Lào. Những nội dung đề cập đến Việt
Nam chủ yếu là để đối chiếu, so sánh rút ra những bài học kinh nghiệm và những kết luận lý thuyết.
Về mặt thời gian, do thực tế quy định, luận án cũng chủ yếu là xem xét mối quan hệ giữa thông tin, tư
liệu và thư viện với khoa học xã hội Lào trong khoảng 40 năm qua.
2
Các vấn đề đặt ra về vai trò của thông tin tư liệu, thư viện đối với hoạt động của khoa học xã
hội ở Lào là khá nhiều. Trong khuôn khổ của một luận án triết học về ngành khoa học thông tin tư
liệu và thư viện, chúng tôi chỉ chú trọng đến những vấn đề lớn, đặt ra từ phương diện triết học, đặc
biệt là các vấn đề đặt ra đối với sự phát triển còn có nhiều hạn chế, lạc hậu của khoa học xã hội Lào
hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
+ Cơ sở lý luận và phương pháp luận:
động của lĩnh vực này.
- Đưa ra được các giải pháp phát triển thông tin, tư liệu và thư viện ở Lào trong giai đoạn
tới.
Trên đây cũng là cái mới của Luận án
6. Bố cục của Luận án:
3
Luận án gồm 4 chương: chương Tổng quan tài liệu nghiên cứu và 3 chương gồm 8 tiết.
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Tài liệu về thông tin, tư liệu và thư viện; về hoạt động thông tin tư liệu nói chung cũng như
về vai trò của thông tin, tư liệu và thư viện đối với hoạt động của xã hội, của khoa học xã hội phục vụ
cho việc nghiên cứu viết Luận án, được chúng tôi tập hợp, tra cứu từ các nguồn tư liệu của Nga (bao
gồm tài liệu Liên Xô trước đây), tài liệu tiếng Anh được dịch qua tiếng Việt, tài liệu tiếng Anh, tài
liệu tiếng Việt (do người Việt viết) và tài liệu tiếng Lào.
1.1. Tài liệu từ tiếng Nga và tài liệu tiếng Anh và được dịch qua tiếng Việt:
Từ những thập niên giữa thế kỷ XX, đã có khá nhiều công trình bàn về thông tin.
Dưới cách nhìn của triết học, những nghiên cứu về thông tin, bản chất, đặc thù và ý nghĩa của
thông tin đã được đặt ra khá sâu và đặc biệt sôi nổi trong giới triết học, khoa học luận và thư viện học của
Liên Xô (cũ) và Bungari. Nhiều công trình đã đi sâu luận giải những vấn đề như bản chất triết học của thông
tin, mối quan hệ giữa thông tin và tri thức khoa học, thông tin và các quá trình điều khiển… dựa trên nền
tảng của lý luận phản ánh.
Ngoài ra, một số bài viết của các tác giả nước ngoài viết bằng tiếng Anh đề cập đến thông
tin, hoạt động thông tin, thư viện. Các học giả phương Tây cũng quan tâm nhiều đến thông tin, tư liệu
và thư viện, cũng như vai trò, ý nghĩa của thông tin, tư liệu và thư viện trong sự phát triển của xã hội
và khoa học, bên cạnh xu hướng quan tâm đến thông tin và công nghệ về thông tin, thông tin và thông
tin học. Trong các nghiên cứu nói trên, quan tâm sâu sắc, đề cập đến thông tin và thư viện phần lớn là
các nghiên cứu cũng như khuyến cáo của Hiệp hội thư viện thế giới (IFLA).
1.2. Tài liệu Tiếng Việt:
Trong vòng gần 20 năm nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ,
ngành khoa học thông tin, tư liệu và thư viện được chú ý quan tâm nghiên cứu khá nhiều ở Việt Nam,
đặc biệt là ngành thông tin- thư viện học. Dưới góc độ triết học về thông tin cũng dần dần được các
của thông tin và kinh tế tri thức”, tạp chí Triết học, số 1 (1-2005), tr.57-61. Hai bài viết này đã gắn
thông tin với lí luận phản ánh.
Cũng đăng trên tạp chí Triết học, số 3 (166), tr.33-37, tháng 3-2005, tác giả Nguyễn Hữu Đễ
với bài ‘Thông tin xã hội và vai trò của nó trong quản lý xã hội” đã đề cập đến thông tin xã hội và vai
trò của nó trong việc quản lí xã hội. Tác giả đã đề cập đến khái niệm thông tin, cũng thừa nhận thông
tin là sự phản ánh thế giới vật chất và mang tính khách quan, thông tin là thuộc tính vốn có của thế
giới vật chất.
Nhìn chung các tiếp cận dưới góc độ triết học vẫn chủ yếu quan tâm nhiều tới mảng thông
tin theo nghĩa rộng, tất nhiên bao hàm cả hoạt động thông tin tư liệu và thư viện. Những tiếp cận này
vẫn là những nghiên cứu đơn lẻ chứ chưa có một công trình tầm cỡ về thông tin và vai trò của thông
tin đối với sự phát triển của khoa học xã hội nói chung.
Tiếp cận thông tin từ góc độ thông tin học, với bài “Tiếp cận thông tin học từ góc độ phương
pháp luận của phân loại khoa học”, tạp chí Thông tin và phát triển, số 2/2011 và bài: “Thông tin học:
có phải là một khoa học liên ngành?”, tạp chí Thông tin và phát triển, số 10 (32), 2009, tác giả Trần
Thị Quý đã cho thấy bản chất và vị trí của thông tin học trong hệ thống các khoa học.
Tác giả Vũ Văn Sơn trong bài "Khái niệm và nội hàm thông tin học qua nghiên cứu và hoạt
động thực tiễn", tạp chí Thông tin và phát triển, 1&2 (34) 2010, tác giả cho rằng, đa số các nước trên
thế giới, cụm từ thông tin khoa học và kỹ thuật hoặc đơn giản chỉ là thông tin khoa học, được sử dụng
nhiều hơn và đa phần được xếp vào khoa học liên ngành.
Tác giả Nghiêm Xuân Huy (ĐHQG Hà Nội) qua hai bài nghiên cứu: “Vai trò của năng lực
thông tin đối với cán bộ nghiên cứu khoa học”, Mạng Thông tin –thư viện Việt Nam, tại địa chỉ
http://vietnamlib.net, truy cập ngày 24/1/2010 và bài: “Vai trò của kiến thức thông tin đối với cán bộ
nghiên cứu khoa học”, Tạp chí Thư viện Việt Nam, số 3 (23) năm 2010 . Cả hai bài viết nói trên, đều
bàn về thông tin, vai trò của thông tin đối với cán bộ nghiên cứu khoa học, đã chỉ ra tầm quan trọng
của kiến thức thông tin, của năng lực (cái mà người làm việc có thể đảm nhận tốt) đối với người cán
bộ nghiên cứu khoa học như thế nào.
Tác giả Lê Như Diệm, với bài viết "Thông tin khoa học và nghiên cứu khoa học", tạp chí
Thông tin KHXH, Hà Nội, 1993, tác giả đã tiếp cận thông tin ở góc độ hẹp là thông tin khoa học và
đặt chúng trong mối quan hệ với nghiên cứu khoa học.
5
khảo đối với Lào.
1.3. Tài liệu tiếng Lào:
Với nước Lào, những phân tích triết học về thông tin tư liệu và thư viện là một vấn đề hoàn
toàn mới, theo những thông tin mà chúng tôi thu thập được trong thời gian làm luận án, thì sách và
báo viết về vấn đề này hoàn toàn không có. Kể cả những luận án, hoặc thấp hơn là luận văn của các
tác giả, nghiên cứu sinh, trong và ngoài nước quan tâm đến những vấn đề có tính lý luận, có tầm vĩ
mô, có khả năng định hướng là rất hiếm hoi.
Các luận án của các nghiên cứu sinh trên đây chưa có luận án nào đề cập đến thông tin tư
liệu và vai trò của thông tin tư liệu đối với sự phát triển xã hội và khoa học và nhất là đề cập từ khía
cạnh triết học về vai trò của thông tin tư liệu và thư viện đối với sự phát triển của xã hội và khoa học
xã hội Lào.
6
Việc đề cập đến thông tin, tư liệu chỉ nằm trong các báo cáo nội bộ của các cơ quan thư
viện, trường học Tuy nhiên, ngay cả việc tìm được các thông tin tư liệu này ở Lào là tương đối khó
do công tác lưu trữ kém.
Ở cấp độ các hoạt động thực tiễn cụ thể, vẫn có xuất hiện trong các báo cáo quốc tế, của các
tổ chức dự án đầu tư cho Lào chúng tôi thấy, ít nhiều, đã đề cập đến hoạt động thông tin, thư viện
Lào. Có thể thấy được điều này trên một số website, dữ liệu online.
Tìm trong văn kiện của Đảng, Nhà nước Lào, quan điểm thực tiễn về thông tin, tư liệu và
thư viện, chưa có đề cập một cách trực tiếp có hệ thống. Tuy nhiên, trong một số văn kiện, hoặc phát
biểu của các lãnh đạo cấp cao của Lào, chúng tôi thấy có một số ý đề cập đến công tác thông tin, tư
liệu và thư viện ở Lào.
Tiểu kết chương 1
Chương 2.
Vai trò của thông tin, tư liệu và thư viện đối với sự phát triển của khoa học xã hội
2.1. Một số khái niệm về thông tin, tư liệu và thư viện và công tác thông tin, tư liệu và
thư viện
2.1.1. Thông tin và tư liệu
2.1.1.1. Thông tin
Theo nghĩa thông thường, thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán được
tầm, lưu trữ, hoặc xử lý thông tin theo một chủ đề, nội dung nhất định. Còn thư viện là nơi lưu giữ,
bảo quản, cung cấp, chia sẻ, thậm chí là tạo lập thông tin, tư liệu.
Khi xác định, thông tin gắn liền với tư liệu và thư viện tức là gắn với những dạng thức, địa
chỉ tồn tại lưu trữ của thông tin, trong khi “bỏ qua” hoặc gác lại những dạng thức tồn tại và biểu hiện
khác của thông tin. Hay nói cách khác, thông tin được đặt trong mối quan hệ với tư liệu và thư viện.
Trong thực tế hoạt động thông tin, thực sự thông tin-tư liệu và thư viện thường đi liền với nhau một
cách chặt chẽ. Không phải ngẫu nhiên, trong truyền bá thông tin, người ta thường nhắc đến cụm từ
thông tin tư liệu- thư viện, bởi vì nói đến thư viện là nói đến sách, báo, tài liệu…tức là nói đến tư liệu,
mà nói đến tư liệu là nói đến thông tin –cái nội dung được chứa đựng trong các tư liệu ấy.
Thông tin được chúng tôi đề cập trong Luận án này không phải là tín hiệu đơn lẻ, rời rạc mà
là nằm trong hệ thống gắn liền với tư liệu và thư viện, hoạt động thư viện, thuộc phạm trù khoa học
thông tin và thư viện (hay còn gọi là thông tin học và thư viện học).
Một điều cần phải nhấn mạnh, cũng ở trong luận án này, chúng tôi không đi về mặt tự nhiên
của thông tin mà đi vào mặt xã hội của thông tin, bản chất xã hội của thông tin để trên cơ sở đó
nghiên cứu thông tin với đời sống xã hội và khoa học. Tuy nhiên, lúc cần, chúng tôi cũng có đề cập
đến những thuộc tính tự nhiên, những giá trị, ý nghĩa phổ quát của thông tin để có thể hình dung rõ
hơn vấn đề, nội dung đang bàn.
Các thuộc tính của thông tin nói chung:
Thông tin với tính cách là sự vật hiện tượng, đặc biệt khi xem xét chúng là một hiện tượng
xã hội, chúng ta có thể nhận diện được các thuộc tính của chúng: tính giao lưu; Tính khối lượng; Tính
chất lượng; Tính giá trị; Tính giá thành.
Phân loại thông tin
Có thể thấy có các sự phân loại căn bản thường thấy như sau: theo giá trị và quy mô sử
dụng; theo nội dung của thông tin; theo đối tượng sử dụng; theo mức độ xử lý nội dung; theo các hình
thức thể hiện thông tin:
Thông tin đại chúng (Mass media). Dùng để chỉ thông tin qua các phương tiện truyền
thông báo chí, mạng online.
Thông tin khoa học (Scientific Informs). Thông tin khoa học là loại thông tin có độ chính
xác cao, đã được kiểm nghiệm qua các công cụ nghiên cứu bằng những phương pháp nghiên cứu
khoa học, đối tượng sử dụng thông tin khoa học có thể là các nhà lãnh đạo và quản lý, các nhà nghiên
trữ của nó chứ không đơn thuần chú ý mặt nội dung khoa học của chúng. Do vậy, không nên đồng
nhất thông tin tư liệu và thông tin khoa học làm một, mặc dù trong thực tế, đôi khi hai khái niệm này
được dùng thay thế cho nhau.
Tóm lại, thuật ngữ tư liệu thường gắn liền với khái niệm thông tin hợp thành thuật ngữ
thông tin tư liệu hoặc thông tin- tư liệu. Nói đến thuật ngữ này, người ta thường hiểu là, thông tin và
các dạng tư liệu thực hiện chức năng lưu trữ và chuyển tải thông tin
2.1.1.3. Thông tin, tư liệu và việc nghiên cứu khoa học
Có thể hiểu, công tác thông tin, tư liệu, về cốt lõi chính là công tác thông tin khoa học, phục
vụ hoạt động khoa học mặc dù không phải mọi công tác thông tin, tư liệu đều là công tác thông tin
khoa học và đều đẻ ra thông tin khoa học. Tuy nhiên, xét trong tính tổng thể của công tác thông tin, tư
liệu, là nhằm mục đích đạt được những thông tin có giá trị khoa học, có ý nghĩa đối với sự phát triển
của khoa học.
Thực tế cho thấy, quy trình của một hoạt động khoa học đã bao chiếm phần lớn công tác
thông tin, tư liệu. Có thể thấy, công tác thông tin, tư liệu là một dạng của lao động khoa học được
hình thành có tổ chức do cán bộ thông tin thực hiện nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của việc
nghiên cứu và triển khai, bao gồm việc thu thập xử lý, phân tích tổng hợp, bảo quản và tìm tin khoa
học kỹ thuật có trong những tài liệu, cũng như giới thiệu những thông tin này cho cán bộ làm công tác
khoa học kỹ thuật vào những thời điểm cần thiết, dưới những hình thức thuận tiện đáp ứng nhu cầu về
thông tin khoa học của họ.
Sở dĩ có thể khẳng định công tác thông tin, tư liệu là dạng lao động khoa học, bởi lẽ, bởi
mục đích của công tác thông tin, tư liệu trùng với dấu hiệu quan trọng thứ hai trong định nghĩa về lao
9
động khoa học nói trên là sử dụng hiệu quả, kịp thời các hiểu biết đã thu nhận được vào thực tiễn,
thực tế. Bên cạnh đó, một công trình nghiên cứu hay triển khai nghiên cứu nào, cũng bắt đầu bằng
việc xác định đề tài, tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề, thông thường việc này được thực hiện
bằng công tác chuẩn bị thông tin và việc đó không phải chỉ ở lúc bắt đầu mà trong suốt thời gian triển
khai nghiên cứu. Vì vậy, có thể nói, việc chuẩn bị thông tin chính là bộ phận hữu cơ của việc tiếp cận
nghiên cứu khoa học và nghiên cứu triển khai.
2.1.2. Thư viện
2.1.2.1. Khái niệm Thư viện:
nghiên cứu thông tin, có trách nhiệm thông tin về khoa học xã hội. Nếu bạn muốn biết một cuốn sách
mình đang tìm, thủ thư sẽ chỉ dẫn sâu cho bạn chứ họ không dừng lại ở việc tìm và mang sách ra cho
người đọc.
10
Cũng hàng chục năm nay, tại các nước phát triển, số lượng các bản tin, tạp chí, chuyên san
về khoa học xã hội là rất lớn như triết học, văn hóa, xã hội học, nhiều mạng trực tuyến online ví dụ:
mạng http://csssi.yale.edu/ của Đại học Yale, http://www.ifla.org của Liên minh quốc tế các Hiệp hội
Thư viện http://ssi.sagepub.com của SAGE Publications .v.v đã chia sẽ các công trình nghiên cứu,
các bộ sưu tập tầm cỡ quốc tế
Với xu hướng hiện đại hóa và toàn cầu hóa, thông tin "chảy" khắp mọi nơi, và được lưu trữ
với những storage khá hiện đại, trong đó người ta đề cập đến nhiều thư viện số (digital library), điều
đó cho thấy thư viện và thông tin ngày càng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Thư viện càng ngày là
nơi hội tụ của đa số người dùng tin, là nơi giới thiệu các ấn phẩm thông tin, quảng bá các sản phẩm
văn hóa Thư viện càng ngày đóng vai trò là một không gian văn hóa, hội tụ thông tin và cung cấp tư
liệu một cách nghiêm túc nhất.
Ngày nay, các hiệp hội thông tin tư liệu, các trung tâm thông tin càng có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau trong việc trao đổi thông tin, chia sẻ và tăng cường nguồn lực thông tin. Có thể nói
thông tin tư liệu vừa là phần cấu thành nên thư viện, là nguồn vốn sống của thư viện. Thư viện vừa là
nơi tích tụ thông tin vừa nơi chu chuyển thông tin đầy tin cậy.
Thông tin, tư liệu và thư viện luôn có mối quan hệ hữu cơ với nhau, đương nhiên hoạt động
thông tin, tư liệu và hoạt động thư viện cũng có mối quan hệ với nhau. Tuy nhiên, xét trong tính đặc
thù, thông tin, tư liệu và thư viện có sự khác nhau nhất định.
2.1.3.2. Sự phân biệt về mặt hoạt động giữa thông tin, tư liệu với thư viện
Công tác thông tin, tư liệu và thư viện có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, giao thoa nhau.
Tuy nhiên, đi sâu vào chi tiết thì có sự khác nhau nhất định, song mục tiêu mục đích của các công tác
này là phục vụ tốt nhất nhu cầu dùng tin, nhu cầu khai thác thông tin, tư liệu khoa học của bạn đọc.
Với những giao thoa, cộng hưởng và những đòi hỏi chặt chẽ về chuyên môn nghiệp vụ khiến
hai hoạt động này đi đôi với nhau đến mức khó mà tác bạch một cách rời rạc. Việc nắm vững những
đặc điểm hoạt động này, giúp cán bộ thông tin, thư viện thực hiện tốt hơn các đòi hỏi ngày càng cao
của nghề nghiệp cũng như nhu cầu dùng tin của công chúng.
vụ lớn và mỗi bước phát triển của nó sẽ định vị sức sống của nền kinh tế.
Ngày nay, mọi người đều thừa nhận nước nào biết sử dụng nhanh hơn, tốt hơn và hiệu quả
hơn những thành tựu khoa học và kỹ thuật thế giới thì nước đó sẽ thu được những kết quả lớn hơn
trong việc phát triển kinh tế quốc dân.
2.2.1.2. Vai trò của thông tin, tư liệu trong sự phát triển của khoa học, giáo dục-đào tạo
Thông tin tồn tại phát triển gắn chặt với quá trình giao lưu giữa các cộng đồng người, các
thế hệ, trong đó giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học giữ vai trò trọng yếu.
Trong sự phát triển của khoa học, thông tin được thể hiện trong quy luật phát triển của khoa
học, đó là tính kế thừa. Đây là yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy nhanh tiến bộ khoa học. Người
tiếp nhận và xử lí thông tin ở thời gian sau luôn kế thừa và phát triển thông tin của người đi trước để
từ đó phát hiện ra những quy luật mới, những khám phá mới ngay trong các sản phẩm của khoa học.
Khoa học ở khía cạnh nào đó, chính là một dạng thông tin, những thông tin này được thực
tiễn hóa để làm sống động hơn, giàu có hơn và đúng đắn hơn cho mọi hoạt động của con người.
Khoa học và giáo dục-đào tạo luôn đi liền với nhau. Nếu khoa học tiếp nhận thông tin để
thúc đẩy thông tin phát triển thì giáo dục là hoạt động xã hội nhằm chuyển giao thông tin giữa các thế
hệ, chuyển giao những tri thức tinh túy của xã hội trước cho lớp kế cận xã hội tương lai.
Để tiến hành hoạt động giáo dục phải có thông tin (giáo trình, học liệu ), để người học tìm
kiếm và khai thác những thông tin đó làm thông tin của mình. Ở trong hoạt động giáo dục- đào tạo,
người thầy đóng vài là người định hướng, chỉ dẫn.
Thông qua việc lưu trữ và bảo quản và phổ biến tài liệu, thư viện đồng thời đã phổ biến các
giá trị văn hóa đến người đọc, đến dân chúng. Bản thân sách báo và các tài liệu lưu trữ được coi là
một dạng di sản văn hóa thành văn. Khi tiến hành sưu tập, lưu trữ, bảo quản chúng, có nghĩa là thư
viện đang lưu giữ các giá trị văn hóa cho cộng đồng, cho từng thế hệ mai sau của mỗi quốc gia và
nhân loại. Chính vì thế, trên một phương diện nào đó, người ta coi thư viện là bộ nhớ của quốc gia và
nhân loại.
2.2.1.3. Thông tin, tư liệu cũng là một nguồn lực phát triển của quốc gia.
Ngay từ những năm cuối thế kỷ XX, thông tin đã được nhìn nhận là nguồn tài nguyên “thiên
nhiên”, ngày nay, con người đã đề cập đến tài nguyên thông tin (resource inform), nguồn lực thông tin
(inform force) bên cạnh các nguồn tài nguyên khác của tự nhiên xã hội và con người. Và nếu như
12
Thư viện công cộng (public library)
Cập nhật để nắm bắt thông tin là một trong những quyền căn bản của con người. Là một
dịch vụ công cộng mở ra đối với mọi người, thư viện công cộng đóng vai trò then chốt trong sưu tập,
tổ chức và khai thác thông tin. Thư viện công cộng chịu trách nhiệm đặc biệt thu thập thông tin bản
địa và sẵn sàng phục vụ. Thư viện cũng hoạt động như là một bộ nhớ được sưu tập về quá khứ, lịch sử
của cá nhân và cộng đồng.
Thư viện chuyên ngành, đa ngành:
Loại hình thư viện này, với đặc điểm chuyên biệt, chức năng chuyên biệt có nhiệm vụ phục
vụ chuyên sâu cho các đối tượng người dùng tin khác nhau, phù hợp với chuyên môn ngành nghề
công tác. Vai trò của các thư viện chuyên ngành, đa ngành chủ yếu là cung cấp các thông tin tư liệu,
13
tri thức chuyên sâu cho giới nghiên cứu trong cách ngành lĩnh vực, cung cấp tri thức cho cán bộ các
kiến thức chuyên môn, kĩ năng, nghiệp vụ để hoạt động tốt trong ngành lĩnh vực của họ.
2.3. Vai trò của thông tin, tư liệu và thư viện đối với sự phát triển của khoa học xã hội
2.3.1. Khoa học xã hội và đặc điểm của nó
2.3.1.1. Quan niệm về khoa học xã hội
Đến nay, các ý kiến khác nhau về khoa học xã hội đôi khi còn chưa xác định rõ ràng, ít
nhiều gây tranh cãi. Tuy nhiên, quan điểm được thừa nhận rộng rãi đó là, KHXH là một hệ thống lớn
bao hàm cả khoa học nhân văn. Vì vậy, cần quan niệm về KHXH theo nghĩa rộng, nghĩa là bao hàm
cả khoa học nhân văn.
2.3.1.2. Đặc điểm của khoa học xã hội
Đặc điểm đầu tiêu của các khoa học phải là khách quan, tuy nhiên trong khoa học xã hội, do
đối tượng của khoa học xã hội là xã hội con người, cho nên, mọi nghiên cứu rút ra về nó phải qua tư
duy phản ánh của con người vì vậy, ít nhiều không tránh khỏi chủ quan. Trong một chừng mực nào
đó, yếu tố chủ quan vẫn có tác động đến các nghiên cứu của khoa học xã hội.
Mặt khác, trong lĩnh vực khoa học xã hội, tính giai cấp, dân tộc và thời đại vẫn có mức độ
chi phối nhất định đối với các nhà nghiên cứu. Vì vậy, nhiều luận điểm, khó thoát khỏi chủ quan, cảm
tính của nhà nghiên cứu khoa học xã hội.
Người ta có thể phân loại khoa học xã hội thành nhiều chức năng khác nhau, tuy nhiên, ở
tầm triết học, khoa học xã hội có chức năng căn bản là nghiên cứu, tìm ra các quan hệ tất yếu, các quy
thông tin thông thường trở thành thông tin có ý nghĩa phục vụ nghiên cứu.
Năng lực thông tin chính là chìa khóa để mọi người nói chung và các nhà nghiên cứu nói
riêng làm chủ được kho tàng tri thức của nhân loại. Sự bùng nổ thông tin hiện nay đã khiến cho thế
giới thông tin trở nên phức tạp và hỗn loạn. Làm thế nào để tìm "đúng", tìm "đủ" những thông tin mà
mình cần, đồng thời sử dụng chúng một cách hiệu quả? Không khó để trả lời các câu hỏi nếu như
chúng ta có sự hiểu biết sâu sắc về thế giới thông tin.
- Điểm đặc thù của khoa học xã hội xét từ phương diện thông tin:
Một điểm khác biệt gần như tự nhiên của khoa học xã hội so với khoa học tự nhiên và kĩ
thuật công nghệ là khoa học xã hội có mối liên hệ gắn bó mật thiết với thông tin xã hội và luôn có nhu
cầu trang bị thông tin và tìm kiếm thông tin khoa học xã hội. Đối với các khoa học xã hội, những
thông tin xã hội là cơ sở cho các nghiên cứu, lí giải về xã hội. Thông tin xã hội chính là các thông tin
về những hoạt động của đời sống con người từ phương diện kinh tế đến chính trị văn hoá xã hội.
2.3.2.2. Một số ảnh hưởng bất lợi của thông tin đối với nghiên cứu khoa học nói chung và
khoa học xã hội nói riêng.
Trên thực tế, công tác nghiên cứu khoa học, có thể gặp phải những khó khăn do hạn chế từ
công tác thông tin, tư liệu. Cần phải được khắc phục lỗi tư liệu từ khi đưa vào tham khảo, nghiên cứu.
Trong số rất nhiều nguyên nhân dẫn tới sự hạn chế trong hoạt động nghiên cứu khoa học. Có thể kể ra
một số lỗi sau đây:
+ Thông tin sai lệch.
Thông tin không đầy đủ hoặc sai lệch chắc chắn sẽ dẫn tới những quyết định phiến diện
hoặc sai lệch trong nghiên cứu và phát triển ứng dụng.
Thông tin sai lệch cũng bắt nguồn từ việc sử dụng tài liệu tham khảo, đối chiếu về nguồn tài
liệu trong công trình nghiên cứu cũng đã có rất nhiều vấn đề. Hoặc là nhà nghiên cứu không có thông
tin đầy đủ về các nguồn tài liệu đã được trích dẫn, hoặc là họ không biết tổ chức danh mục tài liệu
theo đúng cách đã được quy định.
Một số lĩnh vực khoa học xã hội có độ trễ nhất định; một số lĩnh vực khác lại có tính vượt
trước. Điều này, đòi hỏi rất cao đối với hoạt động thông tin tư liệu và thư viện. Những thông tin sai
lệch liên quan đến tính vượt trước và độ trễ của khoa học xã hội sẽ trở nên rất nguy hiểm đối với bản
thân khoa học xã hội, và đối với đời sống chính trị xã hội, tâm lí văn hóa tinh thần của xã hội.
+ Dữ liệu phục vụ nghiên cứu không toàn diện và cập nhật.
pháp nghiên cứu, tiết kiệm thời gian và công sức để tổ chức tốt quá trình triển khai các hoạt động
nghiên cứu.
Hai là, thông tin phong phú đa dạng thì vấn đề nghiên cứu sẽ rộng rãi, nguồn tư liệu sẽ trở
tin cậy hơn; trái lại thông tin nghèo nàn, những kết luận của khoa học xã hội sẽ không đủ sức thuyết
phục, kết luận sẽ không sâu sắc, tầm bao quát không đầy đủ, thậm chí dễ phiến diện. sai lệch
Công tác thông tin tư liệu nếu được làm tốt sẽ giúp cho hoạt động nghiên cứu có được nhiều
thông tin để xử lí, nhiều nguồn tư liệu đa dạng và phong phú để đi vào nghiên cứu theo chiều sâu.
Ba là, thông tin tư liệu sẽ luôn là bài toán của khoa học xã hội, là mối quan tâm thường trực
của khoa học xã hội, nhu cầu về thông tin khoa học xã hội sẽ càng trở nên cấp bách và có những đặc
điểm nổi bật sau:
+ Tính định hướng vĩ mô xác định rõ nét trên cơ sở các chủ trương của Đảng và Nhà nước
trong kế hoạch xây dựng và phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển khoa học xã hội nhân văn
nói riêng.
+ Tính tổng hợp, đa dạng và liên ngành ngày càng rõ nét do nhu cầu gắn kết ngày càng tăng
giữa các ngành khoa học và xu thế xuất hiện và phát triển các ngành khoa học xã hội tại phần giao
nhau giữa các ngành khoa học, ngoài yêu cầu nắm bắt thông tin chuyên ngành của họ, còn cần phải
nắm bắt được thông tin mang tính tổng hợp và liên ngành.
Bốn là, ngày nay thông tin khoa học không đơn lập với nghiên cứu mà hai hoạt động này
giao nhau. Trong đó, thông tin khoa học là môi trường để các cán bộ khoa học trình bày các quan
16
điểm, giao lưu khoa học và là một diễn đàn quan trọng để kích thích tư duy, nẩy sinh các ý tưởng
nghiên cứu, nhất là đối với các cán bộ khoa học trẻ đang bước đầu tìm tòi và thiếu kinh nghiệm phát
hiện vấn đề nghiên cứu.
2.3.2.4. Vai trò của thư viện đối với sự phát triển của khoa học xã hội:
Đề cập đến vai trò, vị trí của thư viện đối với khoa học xã hội sẽ là mờ nhạt nếu bàn đến thư
viện nói chung, vì bản thân thư viện nói chung thường là một thư viện công cộng, tổng hợp nhiều vấn
đề, nhiều loại hình tri thức khác nhau, do vậy điều cần thiết cần làm rõ ra vai trò của thư viện trong
lĩnh vực cung cấp thông tin các khoa học xã hội và nhân văn trong các thư viện công cộng, ví như kho
sách khoa học xã hội nhân văn ở thư viện Quốc gia Việt Nam hiện nay. Hoặc là các thư viện chuyên
ngành, đa ngành Khoa học xã hội, ví như thư viện KHXH ở Việt Nam hiện nay, hoặc thư viện của
kinh tế Lào đã và đang tăng trưởng mạnh trong những năm gần đây.
Từ một quốc gia vào loại nghèo nhất thế giới, kinh tế Lào phát triển ngày càng năng động.
Từ năm 1986, Lào tiến hành phi tập trung hoá trong quản lý kinh tế và khuyến khích phát triển các
doanh nghiệp tư nhân. Từ năm 1990, chính phủ bắt đầu tiến hành các cuộc cải cách và mở cửa. Dưới
sự lãnh đạo của Đảng NDCM Lào, các bộ tộc Lào đoàn kết giữ vững độc lập, chủ quyền, xây dựng
một nước Lào văn minh, tiến bộ.
3.1.2. Vài nét về lịch sử lưu trữ thông tin, tư liệu và hình thành, phát triển thư viện Lào
trong gần 40 năm qua.
Mục này mô tả lịch sử hoạt động thông tin thư viện Lào gần bốn mươi năm qua và đi đến
kết luận: Nhìn chung, các hoạt động thông tin tư liệu và thư viện Lào trong vòng 40 năm qua rất yếu
kém, thiếu sức sống, thiếu sự chuyên nghiệp và mọi thứ mờ nhạt, không có gì đáng để ghi nhận một
cách tích cực. Hệ thống tư liệu và thư viện ở Lào chủ yếu nằm trong chùa, nhân dân chủ yếu tiếp cận
vốn tư liệu sách vở ở đây và chủ yếu là các tư liệu tản mạn chứ chưa được sắp xếp một cách có hệ
thống.
Với từng ấy năm cho đến nay, hoạt động thông tin, tư liệu và thư viện Ở Lào không để lại
cho các thế hệ sau những kết quả khả quan nào, gần như mọi việc vẫn phải làm lại từ đầu, vì thế gần
như không có ý nghĩa gì đối với sự phát triển của KHXH cũng như XH của nước Lào.
3.2. Thực trạng thông tin, tư liệu và thư viện ở Lào hiện nay
3.2.1. Tình hình về vốn thông tin, tư liệu ở các trung tâm thông tin, tư liệu và thư viện
lớn ở Lào
Hiện nay ở trong nước Lào có 3 đơn vị lớn tham gia làm công tác thông tin, tư liệu và thư
viện là: thư viện Quốc gia Lào, thư viện Đại học Quốc gia Lào, thư viện Viện Khoa học xã hội Quốc
gia Lào. Luận án mô tả, thống kê, phân tích tình hình tài liệu, nhân sự, cơ cấu hoạt động, vốn tài
chính, tình hình phục vụ và phương thức phục vụ bạn đọc.
3.2.2. Vài nhận xét về thực trạng thông tin, tư liệu và thư viện ở Lào; Nguyên nhân của
những vấn đề
- Vốn tư liệu còn ít ỏi, nghèo nàn, chưa đa dạng về chủng loại đầu tư tài chính trang thiết bị
còn yếu kém và hạn chế; Thông tin, tư liệu chủ yếu có được thông qua tài trợ, trao đổi với các nước
bên ngoài (Việt Nam và các nguồn khác) chứ chưa có nguồn cấp ổn định và bổ sung thường xuyên;
Cơ sở vật chất phục vụ lưu trữ, tìm kiếm, khai thác, bảo quản tư liệu còn thiếu và yếu, chưa đồng bộ.
nhìn mới về khoa học xã hội ở Lào, tạo ra bước khỏi đầu mới của khoa học xã hội Lào, tuy nhiên,
trong thực tế các nghiên cứu khoa học xã hội vẫn tồn tại trong các viện của các bộ chủ quan như văn
hoá, truyền thông, giáo dục-đào tạo.v.v ;
Trong 7 năm qua (từ 2007 đến 2013) Viện KHXH Lào đã tiến hành khoảng hơn 40 đề tài
cấp Nhà nước, cấp Bộ và cấp Viện nghiên về đời sống chính trị, kinh tế- xã hội, văn hóa Lào.v.v., và
tiếp tục triển khai 23 đề tài các cấp năm 2013-2014. Có 7 đề tài được triển khai với sự hợp tác của các
chính phủ và các tổ chức nước ngoài.
Nhìn chung, các số lượng công trình không nhiều, tuy đã đề cập tới nhiều vấn đề đời sống xã
hội Lào, sự phát triển của Khoa học xã hội Lào, song tiến độ thực hiện còn chậm, chỉ một số ít trên
công trình được xuất bản và giới thiệu ra công chúng, chưa thu hút được sự đông đảo bạn đọc.
Về đào tạo các ngành khoa học xã hội, được tiến hành chủ yếu trong các khoa/bộ môn Đại
học Quốc gia Lào. Bắt đầu từ năm 1997, các ngành khoa học xã hội nhân văn mới được mở ra và còn
hết sức non trẻ. Tháng 6/2000 mới xây dựng khoa học xã hội nhân văn độc lập, với số lượng sinh viên
ban đầu rất ít ỏi. Riêng về ngành thư viện, tới năm 2011, Trường ĐHQG mới mở thêm chuyên ngành
Thông tin –thư viện với số lượng sinh viên đăng kí nhập học là 14 người.
Cơ quan đứng đầu về công tác thông tin, tư liệu ở Lào là Thư viện Quốc gia Lào, và sau đó
là Viện Thông tin, tư liệu và tạp chí mới được thành lập vào năm 2011 (tiền thân là Trung tâm thông
19
tin, tư liệu và thư viện). Viện này chịu trách nhiệm chính về các hoạt động nghiên cứu, thu thập tài
liệu và trao đổi tài liệu chủ yếu về lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.
Các văn bản của Đảng và Nhà nước Lào về công tác thông tin, tư liệu và thư viện trước đây
có ít, và chỉ được đề cập hết sức sơ sài. Trong các văn kiện Đại hội Đảng Nhân dân cách mạng Lào
lần thứ VII, VIII, IX có đề cập đến thông tin tuy nhiên chỉ chú trọng thông tin đại chúng, tức là các
hoạt động thông tin và truyền thông của báo chí, phát thanh, truyền hình và báo điện tử chứ chưa đề
cập đến hoạt động thông tin, tư liệu và thư viện.
Với thực trạng vốn thông tin, tư liệu ít ỏi, các cơ sở thư viện cầm chừng và sự phát triển hạn
chế như vậy của khoa học xã hội Lào cho thấy mối tương quan, rằng sự phát triển của thông tin, tư
liệu chưa có ý nghĩa nhiều đối với nghiên cứu phát triển khoa học xã hội ở Lào, cũng như khoa học xã
hội Lào chưa thúc đẩy được sự phát triển thông tin, tư liệu vì không có sự nghiên cứu và thúc đẩy
nghiên cứu sẽ không có sự phát triển của tư liệu, khai thác sử dụng tư liệu.
hội Lào, đòi hỏi Lào phải làm tốt công tác thông tin để cung cấp luận cứ, luận chứng cho xây dựng và
phát triển lý luận về các vấn đề kinh tế xã hội, quốc kế, dân sinh. Nhu cầu tìm hiểu khai thác thông tin
tư liệu về các vấn đề chính trị kinh tế xã hội của của người dân, cũng như một bộ phận đông đảo cộng
đồng dân cư đến các vấn đề khoa học xã hội, các vấn đề thuộc phạm trù xã hội càng ngày càng lớn.
Nhu cầu này cần có một chiến lược đáp ứng chí ít cũng là trong một tương lai không xa.
Tiểu kết chương 3
Chương 4.
Một số định hướng, giải pháp phát huy vai trò của thông tin, tư liệu và thư viện đáp
ứng nhu cầu của sự phát triển khoa học xã hội ở Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
Thực trạng hoạt động thông tin tư liệu ở Lào hiện nay còn nhiều hạn chế và yếu kém. Vì
vậy, định hướng và giải pháp để nâng cao vai trò thông tin tư liệu và thư viện ở Lào, bên cạnh việc
phát huy những hiệu quả của những nguồn lực thông tin tư liệu đã có, những hoạt động đã được hình
thành trong thời gian qua, việc tạo ra những cơ sở vật chất mới, xây dựng các nguồn mới, hình thành
những hoạt động mới, hiện đại cho ngành thông tin tư liệu và thư viện là điều hết sức quan trọng và
cần thiết.
4.1. Một số định hướng phát triển, nâng cao vai trò của thông tin, tư liệu và thư viện đối
với sự phát triển KHXH ở Lào trong thời gian tới
Những năm tới, cần có phương hướng, chính sách thay đổi tình hình. Những phương hướng
giải pháp này tập trung trên nhiều mặt, vừa có trọng điểm vừa có sự chú ý đồng bộ.
Luận án đưa ra 9 điểm (khía cạnh) định hướng cho phát triển, nâng cao vai trò của thông tin,
tư liệu và thư viện đối với sự phát triển KHXH ở Lào trong thời gian tới:
Một là, cần đa dạng hóa và nâng cao chất lượng nguồn thông tin, tư liệu; lấy phát triển
nguồn nhân lực thông tin và thư viện có trình độ và chất lượng cao làm khâu đột phá.
Hai là, nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động thông tin, tư liệu và thư viện để
có những sự điều chỉnh, thay đổi hợp lý và thường xuyên bắt nhịp với xu thế phát triển của xã hội
thông tin ngày càng phong phú và đa dạng.
Ba là, quy hoạch đội ngũ cán bộ làm công tác thông tin, tư liệu và thư viện; tăng cường công
tác, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác thông tin tư liệu và thư viện theo hướng chuẩn hoá,
chuyên nghiệp hoá; có chế độ đãi ngộ đối với cán bộ thông tin, tư liệu và thư viện;
Bốn là, đầu tư về hệ thống cơ sở hạ tầng, kỹ thuật phục vụ công tác thông tin, tư liệu và thư
tư liệu và tạo dựng tác phong chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ làm thông tin, tư liệu và thư viện.
Bốn là, thường xuyên tổ chức các khóa tập huấn về kỹ năng khai thác và tổ chức thông tin
cho cán bộ nghiên cứu, doanh nghiệp, học sinh, sinh viên và các đối tượng bạn đọc khác.
Năm là, tăng cường hợp tác nghiên cứu khoa học quốc tế và trao đổi thông tin, tư liệu trên
tầm độ quốc tế; tận dụng triệt để các nguồn lực thông tin từ bên ngoài.
Sáu là, tăng cường chia sẽ thông tin giữa các trường đại học và viện nghiên cứu nhất là
trong lĩnh vực ngành chuyên môn.
Bảy là, đầu tư thích đáng về nguồn tài chính, đồng thời phân bổ hợp lý nguồn ngân sách cho
hoạt động nghiên cứu thông tin, tư liệu và thư viện; trang bị hạ tầng công nghệ thông tin bền vững.
Tiểu kết chương 4
KẾT LUẬN
Các nghiên cứu của Nga, phương Tây cũng như của Việt Nam đều cho thấy vai trò quan
trọng của thông tin trong phát triển xã hội, phát triển khoa học nói chung, khoa học xã hội nói riêng.
Tuy nhiên, đối với trường hợp nước Lào, những vấn đề này chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu.
22
Thông tin là thuật ngữ còn gây tranh cãi, nhưng dưới góc độ triết học tiếp cận thông tin từ
góc độ lí luận phản ánh, thông tin là toàn bộ những ánh phản vật chất bên ngoài theo những cơ chế
lưu giữ và trao truyền khác nhau mà con người có thể nhận biết và tận dụng vào đời sống của mình.
Thông tin có được nhờ hoạt động tổng hợp lưu trữ và trao đổi thông tin. Để thông tin trở nên
sâu sắc hơn, dễ ghi nhớ, tìm kiếm và có giá trị cho hoạt động xã hội, cho nghiên cứu khoa học thì
nguồn thông tin đó phải được ra đời trên cơ sở nghiên cứu, và được lưu giữ một cách có ý thức, bài
bản tức phải thông qua hoạt động thông tin.
Thông tin sẽ không còn là thông tin nếu không được trao đổi, truyền tải nghĩa là phải qua
những hoạt động thông tin, trong đó hoạt động lưu trữ, trao đổi tư liệu, phục vụ bạn đọc ở thư viện là
một hoạt động căn bản của hoạt động thông tin. Do đó, thông tin cũng có mối liên hệ chặt chẽ với tư
liệu và thư viện.
Thực ra, thông tin, tư liệu và thư viện là những khái niệm độc lập nhưng có quan hệ qua lại
mật thiết với nhau nhờ các hoạt động đan xen nhau. Trong đó, thông tin là khái niệm căn bản và nội
dung bao trùm lên cả tư liệu và thư viện, bởi nội dung bản chất của tư liệu và thư viện thì cũng đều là
thông tin.
hoá của Pháp và Mỹ.
Thời Pháp thuộc, người Pháp xây dựng thư viện nhưng do trình độ dân trí thấp nên việc sử
dụng thư viện, khai thác thông tin, tư liệu còn hạn chế. Đến lượt người Mỹ, hệ thống thư viện đã phát
triển tới các tỉnh lỵ nhưng phần lớn tài liệu được viết bằng tiếng Anh nên đã hạn chế người sử dụng
do rào cản ngôn ngữ. Trước xu thế hội nhập và phát triển trên mọi lĩnh vực, hoạt động thông tin, tư
liệu và thư viện của Lào cũng cần có những bước bổ sung, phát triển mới.
Kế thừa lối lưu trữ dân gian (lá cây Baylan trong chùa) và sau này chịu ảnh hưởng của
những hoạt động thông tin, tư liệu của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, vốn thông tin tư liệu nào khá
nghèo nàn, ít ỏi, không có ảnh hưởng gì lớn đối với đời sống văn hoá xã hội của dân chúng và không
có giá trị gì lớn đối với hoạt động khoa học xã hội Lào.
Hoạt động khoa học xã hội Lào chính thức có từ thập niên 90 của thế kỷ XX và mới được tái
lập vào năm 2006. Nhìn chung, các hoạt động nghiên cứu về khoa học xã hội còn tản mạn, thiếu
chuyên nghiệp và độ sâu cần thiết. Hoạt động đào tạo về thông tin, tư liệu mới được bắt đầu trong vài
năm gần đây với số lượng và chất lượng hạn chế.
Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác thông tin, tư liệu và hoạt động thư viện ở
Lào: do ảnh hưởng của chiến tranh, văn hoá đọc, chính sách phát triển, nguồn vốn đầu tư (chương
III).
Tình hình đó đang đặt ra nhiều vấn đề phải quan tâm nghiên cứu về thông tin tư liệu và thư
viện Lào….để mới có thể thay đổi tình hình và phát huy ảnh hưởng của thông tin tư liệu với cuộc
sống cũng như khoa học.
Về phương diện chủ trương, đường lối của Quốc gia Lào, trước đây, chủ trương đường lối
về phát triển thông tin, tư liệu và thư viện Lào là không được đề cập. Những năm đổi mới, đặc biệt vài
năm gần đây, Lào đã ít nhiều thể hiện sự nhận thức này trên cấp độ nhà nước, tuy nhiên, còn mới
thoáng qua trong phát biểu của lãnh đạo cấp cao có trách nhiệm hoặc văn kiện Đảng và chưa được
xây dựng thành chính sách cụ thể.
Những năm tới, cần có phương hướng chính sách thay đổi tình hình. Những phương hướng
giải pháp này tập trung trên nhiều mặt, vừa có trọng điểm vừa có sự chú ý đồng bộ.
Trong chương IV của Luận án, chúng tôi nêu lên 9 khía cạnh về mặt phương hướng và 7 giải
pháp cụ thể để phát thúc đẩy hoạt động thông tin, hoạt động thư viện, phát huy vai trò ảnh hưởng của
thông tin thư viện đối với xã hội và khoa học Lào nói chung, KHXH Lào nói riêng.