Nguyên lí "đồng sáng tạo" qua các kiểu kết thúc của truyện ngắn Pháp những thập niên cuối thế kỉ XX doc - Pdf 19


Nguyên lí "đồng sáng tạo" qua các
kiểu kết thúc của truyện ngắn Pháp
những thập niên cuối thế kỉ XX

1. Trải qua nhiều thế kỉ, tư tưởng nghệ thuật phương Tây luôn bị chi phối bởi
hai luận thuyết "tái hiện" và "biểu hiện", theo đó, một tác phẩm thường được coi là
kết quả của thế sự khách quan hay biểu hiện nội tâm của tác giả. Tuy nhiên, sự ra đời
của lí thuyết tiếp nhận vào những năm 60 của thế kỉ XX, với sự đóng góp của hai nhà
khoa học Đức là Hans Robert Jauss và Wolfgang Iser, đã tạo ra những thay đổi lớn
trong tư duy nghệ thuật ở phương Tây và trên thế giới nói chung.
Với luận đề "Vấn đề chính của sáng tác nghệ thuật không phải là do cấu trúc
tinh vi, phức tạp như thế nào, mà quan trọng nhất là người thưởng ngoạn tác phẩm đó
đã tiếp nhận nó ra sao", Hans Robert Jauss không chỉ đặt lại vấn đề viết lịch sử văn
học, mà còn đưa ra một tiêu chí đánh giá tác phẩm nghệ thuật mới. Theo ông, "sự
thực của tác phẩm văn học gồm hai mặt: với nhà văn, nó là sự thể hiện ý đồ sáng tạo;
tuy nhiên, với bạn đọc, nó phải được đánh giá bằng sự tiếp nhận thực tế như thế nào.
Thành thử, nếu viết lịch sử văn học mà chỉ bao gồm lịch sử nhà văn và tác phẩm, thì
đó chỉ là cách nhìn phiến diện [ ] Chỉ khi nào viết được lịch sử tiếp nhận của người
đọc đối với tác phẩm của nhà văn, thì đó mới đúng là lịch sử văn học"
(1)
. Vậy là tác
phẩm văn học chỉ trở nên hoàn chỉnh khi được người đọc tiếp nhận.
Wolfang Iser cũng coi tác phẩm là kết quả sự gặp gỡ giữa văn bản và người đọc.
Trong Hành động đọc. Lí thuyết hiệu ứng thẩm mĩ (L'Acte de lecture. La théorie de
l'effet esthétique, Bruxelle, Margada, 1985), ông khẳng định "chỉ có qua hành động
đọc thì một văn bản mới có thể trở thành một tác phẩm", vì thế, văn bản cần có "kết
cấu vẫy gọi" - tức là những yếu tố vừa là cơ sở cấu thành tác phẩm, vừa có khả năng

Trong lĩnh vực văn học, lí thuyết tiếp nhận có ảnh hưởng rõ rệt đến quan điểm
mĩ học của nhiều nhà văn đương đại. Các tác giả này ý thức rằng "Mỗi một người
đọc, trước khi tiếp xúc với một tác phẩm cụ thể nào đó, đã có những kinh nghiệm
sống và kinh nghiệm thẩm mỹ ở một mức độ nhất định. Đó là tầm đón đợi [ ]. Sự
tiếp nhận là kết quả của sự cọ sát giữa tầm đón đợi và tác phẩm [ ] là sự dung hợp
giữa tầm đón đợi của nhà văn và tầm đón đợi của độc giả. Như vậy, tầm đón đợi
không đứng yên một chỗ mà thay đổi theo quá trình đọc, còn ý nghĩa của tác phẩm
cũng không cố định, mà thay đổi theo từng tầm đón đợi cụ thể"
(4)
. Trong Thời đại
hoài nghi, thông qua việc khẳng định mỗi khi nhà văn "định sáng tác một câu chuyện
gì đó, anh ta tưởng tượng ra đôi mắt ranh mãnh của độc giả", Nathalie Sarraute muốn
đề cập tới mối quan hệ tri thức đặc biệt giữa tác giả - văn bản và người đọc. Đó là
mối quan hệ "sinh lợi", bởi "nhà văn cứ việc tung ra một cách dè xẻn những kinh
nghiệm nho nhỏ của anh ta và khoác cho chúng chiếc vỏ "giống như thực". Còn độc
giả sẽ làm công việc của người bóc vỏ, tháo dỡ chúng ra để sắp xếp theo các ngăn
phù hợp mà anh ta tìm thấy trong bản thân mình". Cứ như thế, từ một tiểu thuyết do
tác giả sáng tác ban đầu, chính độc giả, thông qua hành động đọc, đã "không ngừng
làm phong phú thêm bằng những tiểu thuyết không đếm xuể"
(5)
.
Thực tế sáng tác văn học Pháp nửa sau thế kỉ XX cho thấy những tác phẩm
thuộc các thể loại "mới" như Tiểu thuyết Mớihay Kịch Mới là sự cụ thể hoá của quan
niệm mĩ học tiếp nhận. Cũng phải nói thêm rằng đây không hẳn là những trường phái
văn học thực thụ, mà chỉ là tên gọi do các nhà phê bình nghiên cứu đặt ra để chỉ
những nhà văn có cùng quan điểm thẩm mĩ và tư tưởng đổi mới kĩ thuật viết, chống
lại những quy tắc khắt khe cứng nhắc từ lâu vốn được áp đặt cho các thể loại văn
học.Tiểu thuyết Mới từ chối những nhân vật có đầy đủ "lí lịch trích ngang", những
câu chuyện có đầu có cuối với mục đích "tải đạo".Kịch Mới không chỉ đặt lại vấn đề
phân chia loại hình (bi kịch, hài kịch) mà cả vấn đề "hành động kịch" truyền thống,

những tác phẩm đưa ra một hướng giải quyết cho vấn đề đặt ra là những tác phẩm để
ngỏ nhiều giả định, thậm chí có tác phẩm chỉ mô tả tình huống để người đọc tự xác
định chủ đề và suy ngẫm. Từ những cách thức kết thúc câu chuyện khác nhau, có thể
phân ra ba dạng chính: truyện ngắn có kết thúc đóng, truyện ngắn có kết thúc mở và
truyện ngắn không có kết.
Trước hết nói về truyện ngắn có kết thúc đóng. Trong truyện ngắn có kết thúc
đóng truyền thống, vấn đề đặt ra luôn được giải quyết dứt điểm thông qua hành động
"gỡ nút". Một truyện ngắn có kết thúc đóng thành công là truyện ngắn trong đó tất cả
mọi vấn đề được tháo gỡ ở "những dòng cuối, và nếu có thể, vào câu cuối, thậm chí
vào những từ cuối truyện"; đồng thời, chương đoạn kịch tính nhất phải được giữ "đến
phút cuối, làm sao để câu chuyện kết thúc vào thời điểm gay cấn nhất, tạo xúc cảm
mạnh nhất"
(7)
. Khá nhiều truyện ngắn đương đại vẫn tuân thủ nguyên tắc truyền thống
này. Tuy nhiên, mặc dù cùng chọn kiểu kết thúc đóng, mỗi tác giả lại có cách riêng
dẫn dắt câu chuyện đến hồi kết. Những thủ pháp dẫn chuyện thường gặp là che
giấu, nhận ra và giãn nhịp.
Điển hình của thủ pháp che giấu là truyện ngắn Ngày tổng dọn dẹp (Le jour du
ménage-à-fond, Marie-Françoise de Decker, Truyện ngắn Mới số 20, tr.5-13). Truyện
nói về nhân vật bà Doplan. Chồng chết, cô con gái duy nhất cũng đã đi lấy chồng, bà
Doplan sống một mình trong căn phòng nhỏ trên tầng cao của một khu chung cư. Bà
tự đặt ra lịch "tổng dọn dẹp" nhà cửa hai lần một tuần, vào các sáng thứ ba và thứ
bảy, và luôn thực hiện nhiệm vụ một cách háo hức. Sáng hôm đó như thường lệ bà
dậy sớm chuẩn bị cho ngày tổng dọn dẹp thường kì. Cũng như mọi lần, bà lau chùi
cẩn thận tất cả đồ đạc trong nhà, và luôn nhớ về những kỉ niệm xưa mỗi khi chạm tay
vào các lưu vật. Cũng như mọi lần, xong công việc, bà Doplan hài lòng thích thú ngồi
trên chiếc đi-văng ngắm nhìn căn phòng̣ đã được dọn dẹp lau chùi sạch bóng. Nhưng
hôm nay là một ngày đẹp trời, bà "quyết định đi dạo một vòng", bà "đội mũ cầm can
của ông Doplan, kéo chiếc ghế lại gần và bước lên cửa sổ".
Kết cục của câu chuyện được tóm gọn trong bốn từ "bước lên cửa sổ" và được

giả dịch từ nguyên bản tiếng Pháp).
Cách kết thúc truyện này quả đã tạo được ấn tượng mạnh: trong lúc độc giả
đang cám cảnh cho kẻ si tình đã "gục ngã" và cận kề với cái chết vẫn muốn nhìn mặt
người yêu, hành động trả thù cuối cùng của nhân vật chính (dùng dao lam rạch mặt
cô gái) thực sự là một cú "sốc", gây hiệu ứng "phản lại", buộc người đọc phải xem lại
những nhận định ban đầu của mình về các nhân vật trong truyện.
Ngoài kĩ thuật "che giấu" và "giãn nhịp", thủ pháp "nhận ra" cũng thường được
sử dụng trong truyện ngắn có kết thúc đóng. Đó là trường hợp tác giả để đến cuối
truyện mới cho nhân vật trong truyện và người đọc cùng lúc ngộ ra thực chất của sự
việc diễn ra trước đó. Quán cà phê của Monique Houssin (Cafétéria, Truyện ngắn
Mới số 9, tr.40-45) là một truyện ngắn như vậy. Nhân vật chính - bà chủ quán cà phê
- tỏ ra bức xúc khi thấy một phụ nữ đã luống tuổi và một thanh niên trẻ dắt tay nhau
bước vào quán. Cảnh họ chuyện trò vui vẻ với nhau khi dùng cà phê càng làm bà chủ
quán ngán ngẩm cho cái thời buổi mà mọi giá trị đều bị đảo lộn: ngoài những cặp ông
già - gái trẻ, bà đã chứng kiến không ít những cặp tình nhân bà già - trai trẻ như thế
trong quán cà phê này. Bị cuốn theo những suy nghĩ về nhân tình thế thái, những
bằng chứng và suy diễn của bà chủ quán, độc giả nhìn "cặp tình nhân" với con mắt ác
cảm, khinh thị. "Dòng ý thức" của bà chủ quán cứ tiếp tục chi phối người đọc như
vậy cho tới khi người thanh niên lên tiếng nhắc nhở người phụ nữ đứng tuổi: "Đã hai
giờ rồi, phải nhanh lên thôi, mẹ". Truyện ngắn kết thúc, và, chỉ bằng một từ "mẹ",
đảo lộn toàn bộ những suy luận trước đó của người kể chuyện, đồng thời đảo lộn
hoàn toàn thái độ của người đọc với cặp nhân vật trong truyện: từ khinh ghét chuyển
sang có thiện cảm, từ buồn chán về nhân tình thế thái bỗng thấy vui trước một tình
mẫu tử đẹp. Và rồi người ta ngộ ra rằng ở đời nhiều điều tưởng thế mà không phải
thế!
Kết thúc đóng - mà nét đặc trưng là luôn đưa ra một kết cục gây bất ngờ - cũng
được Louis Monestier khai thác và sử dụng rất thành công với tác phẩm Trong gia
đình (En famille, Truyện ngắn Mới số 7, tr.62-71). Truyện ngắn đặt độc giả trước một
sự kiện "không bình thường": chỉ trong có vài ngày, bố mẹ, ông bà của nhân vật
chính - những người đã chết từ năm, mười, ba mươi và ba mươi lăm năm trước -

những tác phẩm mang tính "nhân quả", những tác phẩm mà từ những trang đầu có
thể suy đoán nội dung phần kết. Điều này giải thích sự lên ngôi của truyện ngắn có
kết thúc mở trong giai đoạn này.
Qua khảo sát các tác phẩm trong tạp chí Truyện ngắn Mới có thể thấy, trong
những truyện ngắn có kết thúc mở, vấn đề đặt ra cũng được tháo gỡ, nhưng sự "gỡ
nút" này lại làm nảy sinh một vấn đề mới, một "nút" mới. Và khi "nút mới" hình
thành cũng là lúc câu chuyện khép lại, để độc giả tự do tưởng tượng những gì có thể
xảy ra tiếp theo. Thạch sùng (Le lézard, Pierre Pastre, Truyện ngắn Mới số 16, tr.53-
59) và Những ngày đẹp trời (Beaux fixe, Gérard Gueguin, Truyện ngắn Mới số 9,
tr.18-29) là những ví dụ điển hình của dạng kết thúc này.
Trong Thạch sùng, cậu bé - nhân vật chính tò mò không hiểu vì sao các anh
mình lại khinh bỉ bọn "tapette" đến thế. Và trớ trêu thay, lúc cậu biết nghĩa từ này
cũng là lúc mở đầu tấn bi kịch của đời cậu: một tên đầu gấu cưỡng ép cậu làm tình
với hắn rồi doạ: “Nếu mày làm phiền tao, tao sẽ nói cho tất cả mọi người biết mày là
một thằng đĩ đực”. Cậu chợt nhớ đến thái độ khinh bỉ của các anh mỗi khi họ nhắc
đến từ này, và: “Ý thức về bi kịch của sự việc vừa qua len lỏi trong đầu, cậu thoáng
hiểu sẽ không bao giờ có thể gặp lại các anh mình nữa.
Xa xa, một con chó cất tiếng sủa, báo cho cả khu biết thân phận mới của cậu”
(tr.59).
Truyện ngắn kết thúc, đặt độc giả trước những câu hỏi chưa có lời đáp. Không
dám gặp lại các anh mình, cậu bé sẽ làm gì? đi đâu? về đâu? Trang truyện gấp lại
nhưng âm hưởng của câu chuyện vẫn còn, và, tuỳ vào vốn sống trải nghiệm của
mình, mỗi độc giả sẽ có những giả thiết riêng cho phần đời tiếp theo của cậu bé.
Những ngày đẹp trời là câu chuyện về những hành động điên rồ của một nhóm
thanh niên Paris hư hỏng. Để tránh những ngày cuối tuần mưa dầm ở thành phố,
chúng rủ nhau lấy cắp một chiếc ôtô rồi phóng ra biển. Trên đường đi, chúng trấn lột
hết số tiền ít ỏi của một cô gái đi nhờ xe, ăn cắp bia trong một cửa hàng tự chọn, cạy
cốp lấy đồ của một chiếc xe trong bãi đỗ nghỉ ven đường, thậm chí còn giết một
khách du lịch để cướp của. Một đội cảnh sát theo dõi bám sát chúng đến tận bãi biển,
chia nhau bao vây khi chúng đang nằm phởn phơ trên bãi tắm. Họ chắc mẩm sẽ quét

miêu tả một khung cảnh mà không có ý định "đặt vấn đề". Khoảng trống tự do mà
những truyện ngắn này để lại cho độc giả vì thế lớn hơn nhiều so với truyện ngắn có
kết thúc mở: người đọc phải tự mình xác định chủ đề của tác phẩm và đánh giá sự
việc mô tả trong tác phẩm. Đây có thể gọi là những truyện ngắn "không có kết".
Truyện ngắn Kẻ rình mò ở quảng trường Charmilles (Le guetteur de la place
des Charmilles, Gilles Moraton, Truyện ngắn Mới số 20, tr.72-78) không có hành
động kịch tính nhưng tác giả lại tạo được độ căng bằng chi tiết. Câu chuyện mở đầu
bằng một sự kiện khơi gợi trí tò mò của độc giả: viên chuyên gia tin học phát hiện
một căn hộ có cửa sổ trông ra quảng trường Charmilles đêm nào cũng sáng đèn. Phát
hiện này ám ảnh anh ta đến mức anh ta trở nên lơ đễnh trong công việc. Ông chủ nghĩ
anh ta bị ốm nên cho anh ta nghỉ dưỡng bệnh. Thế là anh ta có dịp để thoả trí tò mò.
Mấy đêm liền anh ta vừa đi quanh quảng trường vừa nhìn lên cái cửa sổ sáng đèn,
rình mò và suy đoán Những gì anh ta thấy là đèn cứ sáng cả đêm mà không có bất
kì dấu hiệu nào cho thấy có người ở bên trong. Một hôm, anh ta quyết định trèo lên
tầng năm của toà nhà nơi có căn hộ kì lạ kia. Nhưng khi đứng trước cửa căn hộ, anh
ta không biết phải làm gì: "Anh ta đứng đó hồi lâu, trống ngực đánh thình thịch, ngón
tay trỏ chần chừ cách ổ chuông vài centimét. Cuối cùng, anh ta xé một tờ giấy trong
cuốn sổ tay, viết nghuệch ngoạc hai chữ "cám ơn", luồn vào phía dưới cửa rồi vội vã
đi xuống cầu thang. Khi nghe tiếng cửa mở, anh ta đã cách căn hộ rất xa" (tr.78).
Bao nhiêu cố gắng của anh ta thế là thành công cốc. Độc giả đang mong chờ
một phát hiện bất ngờ cũng hụt hẫng. Truyện ngắn kết thúc nhưng câu hỏi "tại sao
căn hộ này lại luôn sáng đèn?" vẫn chưa có lời đáp. Chi tiết cuối cùng "tiếng cửa mở"
là một gợi ý giúp người đọc tưởng tượng những gì diễn ra sau khung cửa sổ luôn
sáng đèn kia.
Tác phẩm Saint John của François Mesnier (Truyện ngắn Mới số 24, tr.73-76)
giống như một đoạn phim phóng sự về sinh hoạt thường ngày của một ông già tám
mươi tuổi có thâm niên ba mươi năm trong nhà dưỡng lão. Thời gian đầu, một ngày
của lão Saint John xoay quanh bốn hoạt động chính: ăn, ngủ, xem vô tuyến, nặn con
giống bằng đất để giải khuây. Năm tháng trôi đi, những gì bây giờ ông lão có thể làm
là ăn, ngủ và hoang tưởng. Mọi sinh hoạt cá nhân đều cần sự trợ giúp của cô hộ lý.

thiết: Một phụ huynh theo dõi con? Một phụ huynh đã li dị không được phép thăm
con nhưng muốn nhìn thấy con? Một người lớn phải lòng một nữ (nam) sinh? Một sự
chuẩn bị bắt con tin? Một người trong ngành nghệ thuật đi tìm diễn viên? Sau mỗi giả
thiết anh ta lại tự phân tích dựa vào những gì quan sát được. Không một giả thiết nào
đứng vững. Rồi kì nghỉ hè đến, chiếc xe không xuất hiện nữa và câu chuyện cũng kết
thúc. Truyện ngắn giống như một bài toán đố mà người kể chuyện không giải được
phải nhờ đến độc giả.
Sóng trong lòng giống như một thước phim ngắn quay cảnh một cô gái trên bãi
biển, với những hành động lặp đi lặp lại một cách chậm chạp. Tác phẩm mở đầu bằng
sự xuất hiện của cô gái: "Cô ta đến vào một buổi sáng", và kết thúc khi "Một sáng kia
không thấy cô ta nữa". Giữa hai thời điểm "xuất hiện" và "biến mất" là hình ảnh cô gái
cô đơn, khi nằm dài trên bãi cát, lúc bơi trên biển. Vậy cô gái đâu? Chuyện gì đã xẩy
ra? Tác giả muốn nói gì qua "đoạn phim" này? Mọi suy đoán thuộc quyền của độc giả.
5. Sự đa dạng trong các kiểu kết thúc của truyện ngắn Pháp cuối thế kỉ XX
không chỉ cho thấy ảnh hưởng của lí luận tiếp nhận trong sáng tác văn học, mà còn
thể hiện những trăn trở cách tân thi pháp của các tác giả truyện ngắn Pháp đương đại.
Ngay cả khi chọn kiểu kết thúc đóng - kiểu kết thúc có vẻ truyền thống - tác phẩm
của họ vẫn có những khoảng trống cho tư duy của độc giả. Trong khi truyện ngắn có
kết thúc mở dẫn độc giả đến trước một tình huống cho phép giả định nhiều viễn cảnh,
thì những "truyện ngắn không có kết" lại gạt bỏ hoàn toàn hai yếu tố từng giữ vai trò
chủ đạo trong các thể loại văn học nói chung và trong truyện ngắn nói riêng, đó là ý
nghĩa và tính thống nhất của tác phẩm. Truyện ngắn có kết thúc mở và không có kết
có thể không làm thoả mãn những độc giả quen với cách đọc truyền thống, nghĩa là
quen đọc những câu chuyện trong đó tất cả phải được giải quyết gọn ghẽ thông qua
kết cục duy nhất do tác giả đưa ra. Nhưng với những "khoảng trắng" để lại trong hay
cuối truyện, những truyện ngắn này sẽ làm hài lòng những độc giả năng động, bởi nó
không áp đặt một kết luận khẳng định hoặc phủ định dứt khoát, mà để người đọc
trước những lựa chọn trên cơ sở trải nghiệm cá nhân, trước "sự hiền minh của lưỡng
lự" theo cách nói của M. Kundera.
Mỗi kiểu kết truyện tạo hiệu quả và mang một ý nghĩa riêng. Nếu kết thúc đóng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status