Biểu tượng "nước" trong thơ ca dân gian và thơ ca hiện đại các dân tộc ít người Phần 2 potx - Pdf 19

Biểu tượng "nước" trong thơ
ca dân gian và thơ ca hiện đại
các dân tộc ít người
Phần 2

b. Cặp đôi tương hỗ
Xuất hiện trong một cặp đôi tương hỗ, biểu tượng nước cũng bộc lộ nhiều nét nghĩa
sâu sắc. Cặp đôi cá - nước là cặp đôi tiêu biểu trong mối quan hệ tương hỗ, thường được tác
giả dân gian sử dụng trong chuyện thề nguyền của đôi lứa:
- Lòng dạ còn yêu đôi da diết
Như thể cá dưới nước sóng xanh
Kết nghĩa cho một lời nên nghĩa.
- Thương nhau ta thương nhau nồng mặn
Như thể cá với nước không sai
(Lượn phuối phác, Tày, tr.433)
III. Biểu tượng nước trong thơ ca hiện đại của dân tộc Tày, Mường, Giáy dưới cái
nhìn đối sánh với thơ ca dân gian
1. Các tầng nghĩa và sự mở rộng nghĩa
Sự tồn tại xuyên qua thời gian, xuyên qua không gian của biểu tượng khiến cho các biểu
tượng có khả năng bồi đắp thêm nhiều nét nghĩa mới. Vậy nên, chúng ta không thể coi những
giá trị biểu cảm đã định hình trong văn học dân gian là những giá trị bất di bất dịch của biểu
tượng trong dòng chảy văn học đương đại. Những khác biệt về lối tư duy, về cách cảm nhận
đời sống của các tác giả văn học hiện đại so với tác giả dân gian chắc chắn đem lại những “tấm
áo” mới cho biểu tượng. Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm rằng, những hàm nghĩa vốn có của
biểu tượng trong tâm thức dân gian vẫn không hề mất đi trong lối suy tư mới của lớp tác giả
hiện đại, bởi lẽ, trong đời sống văn hóa tinh thần, cái mới sinh ra không nhất thiết phải là sự
phủ định sạch trơn cái cũ. Cái mới thường được xây dựng trên nền tảng của những giá trị bền
vững cổ xưa. Chính vì vậy mà khi khảo sát biểu tượng nước trong thơ của các nhà thơ dân tộc

mới cho biểu tượng.
b. Nước là số phận
Khía cạnh ý nghĩa này có thể xem là một giá trị biểu đạt đã ổn định trong biểu
tượng nước. Tính trôi chảy, biến thiên củanước đem đến một hình dung sắc nét về số phận con
người. Nhà thơ Dương Thuấn đã chớp lấy hình ảnh nước máng - một hình ảnh rất đặc trưng
của cuộc sống vùng cao để khắc sâu nỗi nhớ thương đau đáu trong tâm hồn người phụ nữ giữa
cái bình thản chảy trôi của số phận:
Ngày cưới
Anh đánh giặc ở chiến trường Nam Bộ
Tôi rất bé cũng đóng làm chú rể
Trèo non đi đón chị về

Đêm đó tôi nghe
Chị nấc
Đêm đó chị nghe
Nước máng đầu nhà rơi lắc tắc…
(Một ngày một đêm)
(9)

Nước máng đầu nhà rơi lắc rắc hay là thời gian cứ thờ ơ nhỏ giọt, hay là đời sống cứ
chậm rãi đi theo cái mạch tự nhiên, như thể đứng ngoài mong mỏi của con người. Người phụ
nữ trong bài thơ cảm nghe được số phận qua tiếng nước máng chảy, và sự ý thức ấy càng
khiến nỗi buồn sầu trĩu nặng, bởi số phận cũng như dòng nước kia, chỉ chảy trôi ơ hờ bằng lối
riêng của nó, bất chấp nỗi lòng của một người đang chờ đợi trong khắc khoải.
c. Nước là cội nguồn
Mạch nghĩa này được các nhà thơ hiện đại người dân tộc khai thác khá sâu trong sáng
tác của họ và đây cũng là mạch nghĩa mới so với những trầm tích nghĩa của biểu
tượng nước trong thơ ca dân gian. Nhà thơ Dương Thuấn đã lấy nước làm hình tượng chủ
đạo xuyên suốt bài thơ Theo nước đi:
Người làm nương ăn theo lửa

Dòng nước mạnh kia là nguồn cội của sự sống, của tình yêu. Dường như, tất cả sức
mạnh tinh thần của thế giới đều đã hòa nhập vào trong biểu tượng nước. Nỗi khát khao tìm
được người yêu dẫn nhân vật trữ tình đi đến mạch nguồn thiêng liêng ấy một cách vô thức, tự
nhiên như thể, trong cõi tâm linh sâu thẳm của con người, nước vẫn luôn luôn ngự trị với vai
trò khởi nguyên. Hành trình ngược chiều lần tìm về gốc cội đã dẫn lối cho các nhà thơ hiện
đại nắm bắt lấy biểu tượng nước ở một khía cạnh ngữ nghĩa mới.
2. Khả năng xuất hiện trong trạng thái sóng đôi
Nếu biểu tượng nước trong thơ ca dân gian các dân tộc ít người thường xuất hiện trong
trạng thái sóng đôi, trong những tình thế tương phản hoặc tương hỗ như một đặc trưng thì
biểu tượng nước trong thơ ca hiện đại của các nhà thơ dân tộc thiểu số lại không kế thừa nét
đặc trưng ấy. Thơ ca dân gian thường chỉ lẩy ra một biểu tượng để làm biểu tượng căn cốt
diễn tả tinh thần, tư tưởng trong một câu dân ca ngắn ngủi. Để tăng thêm hiệu quả biểu cảm
cho biểu tượng, tác giả dân gian đã khéo léo "kích hoạt" biểu tượng bằng một lối biểu đạt đặc
trưng: đặt biểu tượng trong trạng thái sóng đôi. Còn trong thơ ca hiện đại - những sáng tạo
nghệ thuật mang đậm phong cách cá nhân của nhà thơ, chúng ta thường gặp hoặc là một biểu
tượng lẻ loi, đơn độc nhưng chuyên chở hết mọi hàm nghĩa sâu sắc của bài thơ, hoặc là một
dãy nhiều biểu tượng san sát liền kề nhau. Với một dung lượng lớn, với sự tự do mở rộng
biên giới của tư tưởng, các nhà thơ hiện đại không câu nệ đưa vào thơ của mình dày đặc các
biểu tượng. Ở đó, không có biểu tượng nào là chính. Và hiệu quả nghệ thuật mà tác phẩm đạt
được chính là ở sự giao thoa, kết nối của không phải một cặp đôi mà là một dãy biểu tượng
có vai trò ngang hàng trong việc chuyển tải ý nghĩa, khơi mở những giá trị tiềm tàng của tác
phẩm.
Chủ đích lấy nước làm biểu tượng xuyên suốt bài thơ Theo nước đi, nhà thơ Dương
Thuấn đã khai thác đến tận cùng biểu tượng này dưới mạch nghĩa là nguồn cội. Chỉ sử dụng
duy nhất một biểu tượng trong một mạch nghĩa, Dương Thuấn đã đưa độc giả đi đến thẳm
sâu ý nghĩa về nguồn cội của con người. Hiện diện trong trạng thái đơn độc nhưng biểu
tượng nước không vì thế mà trở nên đơn điệu trong suốt bài thơ bởi nhà thơ đã tạo ra những
biến tấu đa thanh cho biểu tượng này. Những khía cạnh ngữ nghĩa chi tiết được khai thác triệt
để nhằm đem lại một cái nhìn toàn diện và sâu sắc về biểu tượng này trong mạch nghĩa đã
được nhà thơ lựa chọn ký thác.

Biểu tượng trong sự hiện tồn các hàm nghĩa vĩnh hằng và sự đắp bồi những hàm nghĩa
mới mẻ đã trở thành một sinh thể sống động qua thời gian và không gian. Xem xét một biểu
tượng từ văn học dân gian cho tới văn học viết, từ cái nhìn của dân tộc này cho tới dân tộc
kia, thực chất, điều mà người viết kỳ vọng nhất vẫn là sự phác họa một đường nét cơ bản về
sự kế thừa hay là sự truyền dẫn lối tư duy của con người từ xưa đến nay bộc lộ đằng sau biểu
tượng ấy.
Trong phạm vi ngắn ngủi của bài viết này, biểu tượng nước đã được khảo sát trên cả
hai bình diện: các lớp nghĩa và phương thức biểu đạt trong từng tác phẩm cụ thể. Những
khám phá chi tiết như vậy mở ra cho chúng ta con đường đi đến lối tư duy của tác giả dân
gian và các tác giả văn học viết một cách tương đối sáng rõ. Qua cái nhìn đối sánh về các lớp
nghĩa và phương thức biểu đạt của biểu tượng nước trong thơ ca dân gian của dân tộc Tày,
Mường, Giáy và thơ ca hiện đại của các nhà thơ dân tộc tương ứng, chúng ta đã thấy rõ
những kế thừa và cả những sáng tạo mới cho biểu tượng này.
Về phương diện ngữ nghĩa, biểu tượng nước xuất hiện trong thơ ca hiện đại của các
nhà thơ dân tộc ít người vẫn chủ yếu ở hai hàm nghĩa đã tồn tại trong thơ ca dân gian. Có thể
nói, đó là những hàm nghĩa đã được định hình của biểu tượng nước trong tâm thức cộng
đồng các dân tộc ít người, mà đại diện là dân tộc Tày, Mường, Giáy. Chính vì thế, những nhà
thơ hiện đại người dân tộc, dù là ở thế hệ nào, dù đã sống xa mường bản quê hương và đã hòa
nhập rất nhanh vào thế giới người Kinh thì họ vẫn nuôi trong tâm thức họ những hàm nghĩa
vĩnh hằng ấy của biểu tượng dân tộc. Như thể, những hàm nghĩa ấy đã thấm sâu vào từng
mạch máu của họ, như thể, những hàm nghĩa ấy là linh hồn của biểu tượng - linh hồn đã
được cộng đồng dân tộc họ xây đắp nên. Các nhà thơ hiện đại người dân tộc thiểu số dường
như đã nắm được sợi dây cảm hứng vô hình giữa thế hệ xa xưa với thế hệ mình bằng cách
gọi lại những hàm nghĩa đã tồn tại từ lâu của biểu tượng nước trong thơ của họ. Mối dây liên
hệ ấy có thể gọi là sự kế thừa hay sự truyền dẫn linh hồn dân tộc.
Nếu như về phương diện ngữ nghĩa, chúng ta dễ dàng tìm thấy mối dây liên hệ giữa
thơ ca dân gian và thơ ca hiện đại của các nhà thơ dân tộc thiểu số thì về mặt phương thức
biểu đạt, dường như, sợi dây ấy biến mất. Quả vậy, nếu như tác giả dân gian lựa chọn kiểu
trình diễn biểu tượng theo lối sóng đôi, hoặc với sắc thái tương phản, hoặc với sắc thái tương
hỗ để đem lại hiệu quả nghệ thuật cao nhất cho biểu tượng thì các tác giả thơ ca hiện đại lại

một thứ cũ mòn của quá vãng. Thậm chí, những giá trị cổ truyền ấy lại được xem như một
nét đặc sắc trong thơ ca của họ với ý thức mạnh mẽ về việc phục hồi vốn cổ. Nhưng mặt
khác, nhu cầu sáng tạo và nhu cầu khẳng định cá tính sáng tạo mạnh mẽ của mỗi nhà thơ
đã khiến họ tìm đến những thay đổi về hình thức biểu đạt để làm tươi mới biểu tượng ấy
trong thơ của mình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status