Biểu tượng đá trong truyền thuyết dân gian Việt Nam - Pdf 40

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN THỊ QUỲNH HƯƠNG

BIỂU TƯỢNG ĐÁ
TRONG TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

HUẾ - NĂM 2016


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài................................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................................. 2
3. Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu ...............................................................2
4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu ..................................................................3
5. Đóng góp khoa học của luận án ...................................................................................5
6. Bố cục luận án ................................................................................................................5
NỘI DUNG.........................................................................................................................7
Chương 1. LÝ THUYẾT BIỂU TƯỢNG VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH
NGHIÊN CỨU ........................................................................................................ 7
1.1. Lý thuyết biểu tượng và nghiên cứu văn học dân gian từ lý thuyết biểu tượng 7
1.1.1. Lý thuyết biểu tượng ....................................................................................... 7
1.1.2. Nghiên cứu văn học dân gian từ lý thuyết biểu tượng .................................. 12
1.2. Các công trình nghiên cứu đá ở Việt Nam ...................................................... 17
1.2.1. Công trình về tín ngưỡng thờ đá ................................................................... 17
1.2.2. Công trình nghiên cứu Đá với tư cách biểu tượng........................................ 19
1.2.3. Công trình nghiên cứu motif Đá trong truyện kể dân gian Việt Nam (thần

NGƯỠNG DÂN GIAN: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP THAI DƯƠNG
PHU NHÂN VÀ KỲ THẠCH PHU NHÂN ............................................................... 104
4.1. Văn bản và cấu trúc văn bản của truyền thuyết về Thai Dương phu nhân và
Kỳ Thạch phu nhân ............................................................................................... 105
4.1.1. Truyền thuyết về Thai Dương phu nhân và Kỳ Thạch phu nhân nhìn từ
văn bản .................................................................................................................. 106
4.1.2. Truyền thuyết về Thai Dương phu nhân và Kỳ Thạch phu nhân nhìn từ
cấu trúc văn bản .................................................................................................... 112
4.2. Biểu tượng đá trong truyền thuyết về Thai Dương phu nhân và Kỳ Thạch
phu nhân trong mối quan hệ với tín ngưỡng dân gian Chăm ............................... 117
4.2.1. Tín ngưỡng thờ đá ....................................................................................... 119
4.2.2. Tín ngưỡng thờ Mẫu ................................................................................... 125
4.3. Biểu tượng đá trong truyền thuyết về Thai Dương phu nhân và Kỳ Thạch
phu nhân trong mối quan hệ với tục thờ đá tại đền Thai Dương phu nhân và


miếu Kỳ Thạch phu nhân ...................................................................................... 130
4.3.1. Hình thức đá thờ ......................................................................................... 131
4.3.2. Hình thức thờ cúng ..................................................................................... 135
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 140
DANH MỤC CÁC BÀI BÁO KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ .............................. 143
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 144
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đá là sự vật gắn kết với loài người từ thuở hồng hoang bởi con người trú thân
trong hang đá, mượn cạnh sắc của đá để làm công cụ săn bắt, nhờ cái cứng rắn của
đá mà tạo ra lửa sưởi ấm và nấu chín thức ăn,… Ngay cả khi con người trở về với

đá qua hai trường hợp trên không chỉ thuận lợi trong quá trình điền dã cho chúng
tôi mà thông qua việc khảo sát và nghiên cứu trường hợp văn hóa dân gian tại
địa phương, chúng tôi còn có thể mở rộng hiểu biết về văn học dân gian, lịch sử
và văn hóa Thừa Thiên Huế.
Từ những lý do đó, chúng tôi chọn đề tài Biểu tượng đá trong truyền thuyết
dân gian Việt Nam để nghiên cứu trong luận án. Chúng tôi hi vọng luận án mang
lại những kiến giải mới về biểu tượng đá trong truyền thuyết dân gian Việt Nam và
đóng góp vào khuynh hướng nghiên cứu các lớp nghĩa của biểu tượng đá trong văn
học/ văn hóa dân gian của người Việt.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài Biểu tượng đá trong truyền thuyết dân gian Việt Nam đặt mục tiêu
giải mã những lớp nghĩa của biểu tượng đá trong các bản kể truyền thuyết và trong
trầm tích văn hóa của tín ngưỡng dân gian Việt Nam; từ đó, có thể hiểu sâu hơn về
các vấn đề bản sắc văn hóa, biến đổi văn hóa - xã hội qua các giai đoạn lịch sử.
Mục tiêu cụ thể:
- Từ hệ thống phân loại, phân tích các lớp nghĩa của đá để cho thấy sự biến
thiên của biểu tượng đá trong truyền thuyết.
- Đặt biểu tượng đá và nhân vật truyền thuyết trong trường so sánh nhằm đánh
giá vai trò của biểu tượng đá trong quá trình khám phá, nhận diện sức mạnh của
nhân vật lịch sử, của cộng đồng dân tộc.
- Thông qua hoạt động điền dã tại di tích và khảo sát văn bản hai trường
hợp Thai Dương phu nhân và Kì Thạch phu nhân, phân tích làm rõ lớp trầm tích
văn hóa, tín ngưỡng trong biểu tượng đá, xem xét những biến chuyển của tục thờ
đá trong đời sống tâm linh của người dân Việt, cũng như mối quan hệ giữa tín
ngưỡng của người Việt và tín ngưỡng của các dân tộc tiền trú trên mảnh đất
Thừa Thiên Huế.
3. Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Biểu tượng đá
Phạm vi nghiên cứu: Truyền thuyết dân gian Việt Nam
Phạm vi tư liệu được sử dụng chủ yếu để tiến hành nghiên cứu là Tổng tập

hợp nhiều lớp nghĩa văn hóa, tín ngưỡng nên trong luận án, chúng tôi đặt biểu
tượng đá trong mối liên hệ mật thiết với văn hóa, nhân học, dân tộc học,… Để thực
hiện đề tài luận án, chúng tôi sử dụng các cách tiếp cận sau đây:
- Cách tiếp cận văn học dân gian: Từ việc tập hợp truyền thuyết dân gian về đá
trong thư tịch và quá trình điền dã, chúng tôi tiến hành phân tích các truyền thuyết từ

3


hai góc độ: thứ nhất là hệ thống nghĩa và thứ hai là cấu trúc văn bản. Hai vấn đề này
là nội dung chính của luận án được thể hiện trong chương 2 và chương 3.
- Cách tiếp cận văn hóa học: Trên cơ sở khảo sát những dị bản đang được lưu
truyền của hai trường hợp Thai Dương phu nhân và Kì Thạch phu nhân, chúng tôi
soi chiếu biểu tượng đá trong truyền thuyết từ góc độ tín ngưỡng, cụ thể là tục thờ
đá và tín ngưỡng thờ mẫu. Trên cơ sở đó, luận án chỉ ra một cách rõ ràng nhất giá
trị biểu tượng văn hóa của đá trong truyền thuyết dân gian Việt Nam.
- Cách tiếp cận nhân học: Để thực hiện luận án, chúng tôi tiến hành điều
tra, khảo sát hiện tượng văn hóa dân gian trong đời sống thông qua di tích và
hình thức thờ cúng tại đền Thai Dương phu nhân, miếu Kì Thạch phu nhân. Với
cách tiếp cận này, luận án hy vọng làm rõ mối quan hệ giữa đá của truyền thuyết
và tín ngưỡng thờ đá ở hai trường hợp trên. Đồng thời, công tác điều tra, khảo
sát giúp chúng tôi xác định được vai trò và những biến chuyển của tục thờ đá ở
các di tích.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phân tích tài liệu thứ cấp: Từ văn bản truyền thuyết dân gian đã được sưu
tầm, biên soạn và số liệu thống kê trong nghiên cứu của người đi trước, phương
pháp phân tích giúp chúng tôi xác định các hướng tiếp cận phù hợp với đề tài.
- Điền dã: Đối với hai trường hợp Thai Dương phu nhân và Kì Thạch phu
nhân, phương pháp điền dã hỗ trợ chúng tôi trong quá trình tìm hiểu thực trạng đá
thờ, kiến trúc đền/ miếu và đời sống tín ngưỡng của cộng đồng.

tượng đá (truyện kể, tín ngưỡng và hình thức thờ cúng) để góp phần minh giải mối
liên hệ truyền thuyết và tín ngưỡng thờ đá mà chúng tôi đề cập ở trên. Với hai
trường hợp này, biểu tượng đá trong truyền thuyết Thừa Thiên Huế đã hình thành
lớp nghĩa riêng và là minh chứng cho sự dung hòa tín ngưỡng trong quá trình sinh
tồn của người Việt.
Sự phân tích cấu trúc trần thuật và các lớp nghĩa của biểu tượng đá cũng như
mối quan hệ mật thiết của truyền thuyết - nghi thức thờ cúng - di tích - lễ hội thờ đá
ở Thừa Thiên Huế sẽ góp phần lí giải các vấn đề bản sắc văn hóa, biến đổi văn hóa xã hội qua các giai đoạn lịch sử.
6. Bố cục luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung
chính của luận án được triển khai trong 4 chương:
Chương 1: Lý thuyết biểu tượng và tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Biểu tượng đá và hệ thống nghĩa của biểu tượng đá trong truyền
thuyết dân gian Việt Nam

5


Chương 3: Cấu trúc trần thuật của dạng truyện kể dân gian có sử dụng biểu
tượng đá trong truyền thuyết dân gian Việt Nam
Chương 4: Biểu tượng đá trong truyền thuyết dân gian và tín ngưỡng dân gian:
nghiên cứu trường hợp Thai Dương phu nhân và Kì Thạch phu nhân

6


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
LÝ THUYẾT BIỂU TƯỢNG
VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

từng mặt tinh thể tiếp nhận ánh sáng” [dẫn theo Đinh Hồng Hải, 34, tr.87]. Vậy nên,
giải mã biểu tượng không phải là một hành trình bằng phẳng và con đường thẳng
tắp. Việc xác định ý nghĩa/ giá trị của biểu tượng còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố: nền văn hóa sản sinh, bối cảnh và thời điểm biểu tượng ra đời, cùng với mục
đích sử dụng ở từng thời điểm,… Điều đó cho thấy nghiên cứu biểu tượng phải là
ngành khoa học liên ngành với nhiều hướng tiếp cận khác nhau: triết học, văn học,
dân tộc học, mỹ học, phân tâm học, xã hội học… Trong đó, các lĩnh vực ngôn ngữ
học, nhân học và ký hiệu học được xem là nền tảng để nghiên cứu biểu tượng.
Trước tiên, với ký hiệu học, theo Claude Levi-Strauss, “Mọi nền văn hóa có
thể được xem như là một tổng thể các hệ thống biểu tượng mà ở hàng đầu là ngôn
ngữ, các quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật khoa học, tôn giáo. Tất
cả các hệ thống đó nhắm đến sự thể hiện một số mặt của thực tại thể xác và thực tại
xã hội, và hơn thế nữa, thể hiện các quan hệ mà hai loại hình thực tại đó và bản thân
các hệ thống biểu tượng có với nhau” [dẫn theo Đinh Hồng Hải, 34, tr.143]. Biểu
tượng tồn tại dạng ngôn ngữ đặc biệt, có khả năng xóa nhòa khoảng cách về không
gian và thời gian để con người có thể tri nhận những thông điệp cổ xưa qua các di
vật văn hóa. Mang trong mình nhiều tầng lớp nghĩa nhưng lại được biểu đạt dưới
hình thức súc tích của ngôn ngữ, biểu tượng có quan hệ chặt chẽ với ký hiệu. Dựa
trên mô hình cấu trúc nổi tiếng của F.D. Saussure, hai tác giả tiêu biểu của cấu trúc
luận là L. Hjelmslev và R. Barthes đã phát triển để làm rõ mối liên hệ này.
Cái biểu đạt (Signifier)
Ký hiệu (Sign) =

Cái được biểu đạt (Signified)

Mô hình của F.D. Saussure
“Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu, mỗi ký hiệu ngôn ngữ có hai phần: cái biểu
đạt (le signifiant) và cái được biểu đạt (le signifié). Cái biểu đạt là một hình ảnh thính
giác, cái được biểu đạt là một khái niệm. Không có mối liên hệ tất yếu nào giữa ký
hiệu với vật được chỉ định, hay như người ta thường nói, liên hệ giữa chúng là võ

CBĐ:

CĐBĐ:

Sự hàm nghĩa (HT)

Sự hàm nghĩa (ND)

A: Ký hiệu học biểu thị (Semiotic denotative) - Ngôn ngữ thông thường
B: Ký hiệu học hàm nghĩa (Semiotic connotative) – Ngôn ngữ biểu tượng
Mô hình cấu trúc của ký hiệu của R. Barthes [68, tr.78]
Thông qua sơ đồ, R. Barthes đã cụ thể hóa tính “hệ thống kép” hay “hệ thống
trong hệ thống” đặc trưng của ngôn ngữ biểu tượng. Nghĩa là trong ngôn ngữ biểu
tượng, bình diện biểu đạt (hình thức) lại ẩn chứa một ký hiệu biểu thị - ngôn ngữ
thông thường. Đây cũng chính là mô hình mà R. Barthes sử dụng để giải mã cấu
trúc của thần thoại.

9


Trong bài viết “Biểu tượng như là “đơn vị cơ bản” của văn hóa”, Nguyễn Văn
Hậu chuyển đổi sơ đồ của R. Barthes thành sơ đồ giải thích ký hiệu hàm nghĩa
nhằm giải mã ngôn ngữ biểu tượng:
Hình thức sự biểu thị Nội dung sự biểu thị
A Sự vật, hiện tượng, nội dung, ý nghĩa, tên
cái dùng biểu thị
B

gọi v.v..


10


observation), nhân học đem lại giải pháp để khám phá biểu tượng trong chính môi
trường “sống” của nó một cách tối ưu. Do đó, nhân học được xem là phương pháp
bổ khuyết cho giới hạn của ký hiệu học trong nghiên cứu biểu tượng.
Ngoài ra, nghiên cứu biểu tượng không thể không đề cập đến hướng tiếp cận
từ cấu trúc luận. Claude Levi-Strauss đã có những đóng góp lớn cho việc nghiên
cứu biểu tượng. “Ông cho rằng phân loại nhị nguyên (binary classification) là một
điểm đặc trưng phổ quát của nhận thức con người. Các nghiên cứu mở rộng của ông
đối với thần thoại, nghệ thuật và hệ thống thân tộc đã khám phá ra những hình mẫu
văn hóa khác nhau ở mức độ phức tạp và diện mạo bên ngoài, về bản chất, dựa vào
tính đối ngẫu: tự nhiên/ văn hóa, đàn ông/ đàn bà, tinh khiết/ không tinh khiết, v.v…
Hệ thống văn hóa, dưới góc nhìn này, với những nền tảng tinh vi của nó khai hóa
thế giới, xã hội hóa nó, đưa ra sự phân loại tùy theo biểu hiện của tự nhiên. Mối
quan tâm của các nhà cấu trúc luận trong các hệ thống văn hóa của ý nghĩa ở những
gì họ có thể bộc lộ ra và khi nào thì phân tích về tiến trình nhận thức phổ quát của
con người” [dẫn theo Đinh Hồng Hải, 34, tr.130]. Có thể thấy cấu trúc luận đã tạo
nền tảng để ký hiệu học và nhân học (nhân học cấu trúc và nhân học biểu tượng)
nghiên cứu biểu tượng với những hướng tiếp cận hiệu quả khác nhau. Trong công
trình nghiên cứu Nghiên cứu biểu tượng – Một số hướng tiếp cận lý thuyết (2014), ở
phần “Cấu trúc luận trong nghiên cứu biểu tượng: từ ký hiệu học đến nhân học biểu
tượng”, Đinh Hồng Hải đã đưa ra sơ đồ tóm tắt diễn trình của khoa học nghiên cứu
biểu tượng như sau:
CBĐ
Cái biểu đạt
CĐBĐ
Cái được

ND

tượng

Hình

biểu đạt

thức

“Diễn trình của khoa học nghiên cứu biểu tượng” (Đinh Hồng Hải) [34, tr.145]
Ý nghĩa của biểu tượng chỉ có thể giải mã được một cách đầy đủ khi đặt nó
trong bối cảnh xuất hiện với những mục đích sử dụng cụ thể. Điều này cho thấy các

11


phương pháp tiếp cận nghiên cứu biểu tượng như triết học, xã hội học,… đều góp
phần hỗ trợ tích cực trong việc phân tích mỗi biểu tượng.
Như vậy, nghiên cứu biểu tượng là một trong những phương pháp không chỉ
nhằm tìm hiểu con người mà còn cắt nghĩa thế giới ở những tầng nghĩa sâu xa nhất.
Leslie A. White đã nhận xét rằng “Toàn bộ hành vi ứng xử của con người đều bắt
nguồn từ việc sử dụng các biểu tượng. Chính biểu tượng đã làm biến đổi tổ tiên
vượn người của chúng ta trở thành người và làm cho họ có đặc trưng nhân tính. Mọi
nền văn hoá được tạo ra và trường tồn mãi mãi chỉ từ việc sử dụng các biểu tượng.
Biểu tượng đã làm biến đổi một đứa trẻ của người khôn ngoan (Homo Sapiens) trở
thành con người thực sự. Còn người câm điếc lớn lên, nếu không được sử dụng các
biểu tượng thì họ cũng không trở thành người đúng nghĩa. Tất cả hành vi ứng xử
của con người tạo ra hoặc phụ thuộc vào việc sử dụng các biểu tượng. Hành vi của
con người là hành vi mang tính biểu tượng. Nói cách khác, hành vi mang tính biểu
tượng chính là hành vi của con người. Thế giới biểu tượng là thế giới của bản chất
người (nhân tính)” [dẫn theo Nguyễn Văn Hậu, 92].

sẽ trình bày kỹ về công trình trong mục sau, bởi lẽ tác giả đề cập trực tiếp đến biểu
tượng đá trong truyền thuyết dân gian Việt Nam.
Trong bài nghiên cứu đăng năm 2006, Nguyễn Thị Bích Hà đã sử dụng lý
thuyết mã văn hóa để nghiên cứu văn học dân gian. Trong bài viết “Mã và mã văn
hóa” (2006) đăng trên tạp chí Văn hóa dân gian, theo tác giả, biểu tượng văn hóa là
một trong những biểu hiện của mã văn hóa [gồm: kí tín hiệu văn hóa (cultural
signs), biểu tượng văn hóa (cultural symbols, và mật mã văn hóa (secret codes of
cultural) – NTQH]. Tác giả giới thiệu ngắn gọn khái quát về biểu tượng văn hóa:
định nghĩa, mối quan hệ giữa biểu tượng và tín hiệu, đặc điểm, cách giải mã biểu
tượng trong trường liên tưởng và tính quan niệm của biểu tượng (xin xem mục 2.2
của bài viết). Tác giả lấy các biểu tượng nước, rắn, rồng,… để làm rõ phần lý
thuyết. Tác giả viết: “Biểu tượng được hình thành trong một quá trình lâu dài, có
tính ước lệ và bền vững, là cảm quan, nhận thức được lắng đọng, kết tinh, chắt lọc
trải qua bao biến cố thăng trầm vẫn không bị phai mờ mà ngược lại càng khắc sâu
hơn vào tâm khảm con người” [31, tr.23].
Năm 2014, Nguyễn Thị Bích Hà đã xuất bản cuốn Nghiên cứu văn học dân
gian từ mã văn hóa (2014, NXB Đại học Sư phạm). Đây là công trình đầu tiên
chuyên sâu nghiên cứu văn học dân gian theo khuynh hướng biểu tượng luận. Công
trình này đã xác lập một lý thuyết với hệ thống: phương pháp nghiên cứu văn học
dân gian qua các mã văn hoá dân gian; quan niệm về văn hoá, mã văn hoá; mối
quan hệ giữa văn hoá, văn hoá dân gian và văn học dân gian; các khái niệm: tín

13


ngưỡng, mã tín ngưỡng, phong tục tập quán, mã phong tục tập quán...; và các thao
tác nghiên cứu văn học dân gian dựa vào mã văn hoá dân gian. Công trình giới thiệu
năm bài viết nghiên cứu các trường hợp cụ thể: “Giải mã văn hóa tết người Việt”
(Nguyễn Thị Bích Hà), “Giải mã biểu tượng Lanh trong dân ca dân tộc H’Mông”
(Đặng Thị Oanh), “Giải mã truyền thuyết Hùng Vương chọn đất đóng đô trong

nhằm giúp người đọc có cái nhìn tổng thể và khách quan nhất. Với Các vị thần,
chúng tôi đặc biệt chú ý Thánh Gióng, bởi lẽ nhân vật có liên quan chặt chẽ với
truyện kể dân gian Việt Nam. Tác giả đã đi từ những vấn đề lý thuyết (khái niệm
huyền thoại và huyền thoại trong mối quan hệ với lịch sử) đến thực tiễn (huyền thoại
Thánh Gióng với lịch sử chống ngoại xâm ở Việt Nam và biểu tượng Thánh Gióng
trong lịch sử thành văn). Theo Đinh Hồng Hải, Thánh Gióng là một biểu tượng dân
tộc, mang bản sắc văn hóa của Đại Việt và “được “cung đình hóa” từ vị thần dân
gian: Thần Đất/ Thổ địa” [35, tr.181] và “trở thành một lễ hội quốc gia: Hội Phù
Đổng” [35, tr.182]. Qua quá trình giải mã, Đinh Hồng Hải thành công khi chỉ ra được
sự tích hợp đa văn hóa và bản sắc dân tộc trong biểu tượng Thánh Gióng.
Nguyễn Văn Hậu, trong bài viết “Đi tìm bản sắc văn hóa dân tộc qua thế giới
biểu tượng” (2009), đã liệt kê các định nghĩa về biểu tượng (từ điển Petit Larousse,
C.G. Jung, trong Dịch thuyết cương lĩnh của Chu Hy), những chức năng của biểu
tượng (khám phá, thay thế, liên kết xã hội và giáo dục) và vai trò của biểu tượng (hạt
nhân tâm lý cho sự sáng tạo, khuôn mẫu văn hóa cho mọi ứng xử của con người và
“khuôn mẫu gốc” chuẩn mực văn hóa của mỗi cộng đồng). Để minh chứng cho
phương thức nhận biết “bản sắc dân tộc” thông qua việc giải mã biểu tượng, tác giả
đã đi vào phân tích ý nghĩa của một số biểu tượng trong huyền thoại truyền thống của
Việt Nam: Con Hồng – cháu Lạc, tóc dài – răng đen,… Tác giả đưa ra nhận định:
“Bản sắc văn hóa dân tộc là sự biểu hiện về bản lĩnh sáng tạo của mỗi dân tộc. Nó
được kết tinh thành những biểu tượng văn hóa và thông qua các hệ thống biểu tượng,
ta có thể hiểu được tính cách của dân tộc đó” [92]. Bài viết tuy không giải mã ý nghĩa
các biểu tượng nhưng đã giới thiệu biểu tượng từ góc độ lý thuyết, khẳng định vai trò
của biểu tượng trong quá trình nhận chân bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc.
Hướng nghiên cứu văn học dân gian từ biểu tượng được quan tâm nhiều hơn
trong thời gian gần đây ở các luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ (luận văn Ý nghĩa
biểu trưng của hệ biểu tượng con số trong ca dao người Việt của Nguyễn Thị
Duyên bảo vệ năm 2006; luận văn Thế giới biểu tượng thần thoại trong Mo Mường
của Bùi Văn Thành bảo vệ năm 2012; luận án Sự phát triển ý nghĩa trong hệ biểu
tượng trang phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam của Nguyễn Thị Ngân Hoa bảo

truyền thuyết của một số dân tộc thiểu số và truyền thuyết dân gian nói chung để
người đọc có thể hình dung về sự giao thoa, chuyển biến trong biểu tượng Rồng của
các tộc người ở Việt Nam. Để trả lời cho câu hỏi “Rồng có phải là tô tem và tín
ngưỡng của dân gian bản địa”, tác giả đã minh xác việc lựa chọn thể loại truyền
thuyết và biểu tượng văn hóa: “Truyền thuyết là thể loại có mối quan hệ hữu cơ với
lễ hội và tín ngưỡng dân gian. Một biểu tượng văn hóa chỉ thực sự xác lập được chỗ

16


đứng vững chãi và lâu đời trong lòng dân gian khi sống bằng nguồn sinh khí được
bồi tụ liên tục bằng các hoạt động tín ngưỡng với những hành động thờ phụng, cầu
cúng – những hành động mang tính chất trao đổi tinh thần, tâm linh giữa người và
thần, người và linh vật” [60, tr. 53]. Chúng tôi hoàn toàn đồng thuận với ý kiến trên
của tác giả, vì đây cũng chính là những lý do lựa chọn đề tài biểu tượng đá trong
truyền thuyết dân gian Việt Nam của chúng tôi.
Từ việc điểm lại kết quả nghiên cứu về biểu tượng, có thể nói, các đề tài
nghiên cứu văn học dân gian từ lý thuyết biểu tượng chưa có nhiều thành tựu; tuy
nhiên, công trình của một số tác giả đi trước đã cung cấp cho chúng tôi nhiều gợi ý
để thực hiện đề tài luận án của mình.
1.2. Các công trình nghiên cứu Đá trong văn hóa ở Việt Nam
1.2.1. Công trình về tín ngưỡng thờ đá
Đầu tiên phải kể đến người đã có công lao to lớn trong việc nghiên cứu tín
ngưỡng thờ đá ở Việt Nam: Leopold Cadiere. Trong Văn hóa tín ngưỡng và thực
hành tôn giáo người Việt (2010), ông đã phân loại đá thờ thành bốn nhóm lớn: đá
hiểm hóc, đá linh (bụt), đá hộ mệnh và thần đá. Bên cạnh những lý giải rất thuyết
phục về tín ngưỡng thờ đá của người Việt, Cadiere còn luận bàn về mối quan hệ
giữa tục thờ đá và truyện kể dân gian. Theo ông, “Có thể là người Việt đã thừa
hưởng từ những thế hệ đi trước về chuyện linh thiêng của viên đá này, tảng đá kia
rồi truyền tụng luôn cả việc thờ kính cũng như những huyền thoại liên quan. Nhiều

rõ mối quan hệ giữa tín ngưỡng thờ đá với các tín ngưỡng, tôn giáo bản địa và ngoại
lai ở Việt Nam (tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ thành
hoàng, cầu tự, Phật giáo, các hình thức thờ đá khác và trong mối quan hệ Việt Chăm). Tiểu luận đã mở ra cái nhìn đa diện về lớp trầm tích tôn giáo, tín ngưỡng
trong biểu tượng đá của văn học dân gian. Bài nghiên cứu đã giúp chúng tôi hiểu kỹ
hơn về tục thờ đá và mở ra hướng nghiên cứu về biểu tượng đá của truyền thuyết
người Việt trong sự tương tác với các tín ngưỡng, tôn giáo khác.
Trong chuyên luận Sự tích vọng phu và tín ngưỡng thờ đá ở Việt Nam (2011,
NXB Văn hóa thông tin), Nguyễn Việt Hùng tập trung khảo sát, thống kê kiểu
truyện vọng phu, đặt trong sự đối sánh với tín ngưỡng thờ đá. Xuất phát từ việc hệ
thống sự tích vọng phu trong đời sống văn hóa dân gian, tác giả khái quát và phân
tích kết cấu truyện vọng phu. Nguyễn Việt Hùng nêu ra khái niệm “ra đi giả” cho sự
di chuyển trong không gian của nhân vật. Theo ông, một vài nhân vật ra đi chỉ bởi
sự ép buộc của tình huống và cốt truyện vẫn tiếp tục diễn biến ở điểm bắt đầu, gắn
với những hành động của nhân vật khác (người chồng ra đi biệt tăm, người vợ đau

18


khổ, chờ chồng đến hóa đá). Trên cơ sở làm rõ sự vay mượn, tiếp nối những chi tiết
quan trọng trong kiểu truyện vọng phu người Việt từ truyện cổ Chăm, tác giả đã
chứng minh dấu ấn dung hợp tín ngưỡng, văn hóa ở tín ngưỡng thờ đá.
Qua điền dã, khảo sát và thống kê truyện cổ người Việt ở Thuận Hóa, Hồ
Quốc Hùng nỗ lực giải mã các lớp tín ngưỡng thờ đá trong tiểu luận “Thử nhận diện
dấu vết tín ngưỡng Chăm qua nhóm truyện cổ người Việt ở Thuận Hóa” (Tuyển tập
40 năm Viện Văn học, 1999, NXB thành phố Hồ Chí Minh). Bên cạnh việc sưu tầm
được khá nhiều truyện cổ về chủ đề đá thiêng, công trình đã đưa ra kết cấu người
đánh cá – nhặt đá thiêng – thờ đá – đá mang phúc ấm cho dân làng với những lý
giải thuyết phục và dẫn chứng thú vị. Hồ Quốc Hùng cho rằng huyền thoại và hình
thức thờ đá là một hiện tượng phổ biến ở các tỉnh Nam Bộ, Nam Trung Bộ, và “nếu
kết dính các chuỗi chi tiết trong các dị bản với cốt truyện chính, ta sẽ thấy các mắt

tôi vẫn chưa tìm được thêm thông tin về hai trường hợp này.
Những mục liên quan đến đá trong công trình Từ điển biểu tượng văn hóa thế
giới (2002) của Jean Chevalier và Alain Gheerbrant đã trở thành một bảng tra cứu,
giúp chúng tôi định hướng giải mã các nét nghĩa của biểu tượng đá trong truyền
thuyết dân gian Việt Nam. Hơn thế nữa, thông qua công trình, chúng tôi có thể dễ
dàng nhận ra những nét đồng điệu của đá trong truyền thuyết Việt Nam nói riêng và
văn hóa Việt nói chung với văn hóa thế giới.
Với công trình Đá và Người (2008, NXB Từ điển bách khoa), Trần Sỹ Huệ đã
đem đến cho người đọc một cái nhìn mới về vai trò đa dạng của đá trong đời sống/
văn hóa Phú Yên. Bằng văn phong tùy bút-khoa học, tác giả phân loại, hệ thống sự
xuất hiện và ý nghĩa của đá từ khung cảnh thiên nhiên, địa danh, tên các loại vật,
trong đời sống vật chất đến sinh hoạt tâm linh, văn hóa nghệ thuật, văn học dân gian.
Ở phần viết Đá trong văn học dân gian, tác giả liệt kê sự xuất hiện của đá ở các thể
loại ca dao, tục ngữ, thành ngữ và truyện kể. Đóng góp của Trần Sĩ Huệ là nghiên
cứu vai trò của đá trong tất cả các khía cạnh của đời sống tại một địa bàn cư trú cụ
thể. Dù không gọi tên thuật ngữ “biểu tượng đá” mà chỉ quan niệm “ghi chép qua nét
nhìn dân gian, phân biệt một cách đơn giản nhưng rất rạch ròi, đá là đá, đất là đất, cát
sạn là cát sạn” [46, tr.9] nên công trình không gọi tên đích danh đá là “biểu tượng”
nhưng những thống kê và phụ chú chi tiết trong công trình đã chứng tỏ sự gắn kết
giữa người và đá, đồng thời cũng góp phần gợi ra lớp nghĩa riêng của đá trong văn
hóa dân gian Phú Yên.
Trong Những đỉnh núi du ca – một lối tìm về cá tính H’Mông (2014, NXB
Thế giới), Nguyễn Mạnh Tiến đã lấy dân ca nói riêng, văn học dân gian H’Mông
nói chung làm đối tượng nghiên cứu nhằm khám phá tâm thức, cá tính H’Mông.

20


Nguyễn Mạnh Tiến cho thấy tâm thức mồ côi của người H’Mông hiển lộ khá rõ
trong biểu tượng đá mồ côi. Biểu tượng này có thể được xem là kết quả của sự kết

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status