Hiện tượng nhân vật nữ tu tập Phật
giáo trong truyện cổ dân gian Việt
Nam và một số nước khác ở Đông
Nam Á lục địa
Truyện của người Việt rất hiếm thấy sự miêu tả sinh hoạt tu tập một cách khá tỉ mỉ và
sinh động thể hiện chân tâm của người tu hành. Sinh hoạt tu tập trong truyện cổ dân gian của
ta hầu như chỉ được miêu tả đại khái, giống như chính quan niệm đại khái, chỉ cốt giữ lấy cái
tinh thần của những tôn giáo mà người dân Việt Nam tiếp thu từ bên ngoài. Ngay ở truyện kể
về một nhân vật nhờ công đức lúc sống, sau khi chết được hoá thành Bồ tát, tác giả dân gian
vẫn không miêu tả sinh hoạt tu tập của nhân vật một cách tương đối chi tiết và quy củ mà chỉ
kể rằng: “[…] Buồn chán cho số phận éo le, một hôm nàng cải trang thành một chàng trai,
nhân đêm tối bỏ nhà khăn gói ra đi. Nàng đi mãi, đi mãi, cố tìm một chỗ trú ngụ, một nơi cho
thật xa quê hương để xoá bỏ những ký ức đau xót. Sau cùng đến một tỉnh khác, ở đây có chùa
Vân, nàng tìm đến xin gọt đầu quy y. Sư cụ không biết là gái bèn nhận cho làm tiểu, đặt hiệu
là Kính Tâm. Sự đời đã tắt lửa lòng, từ đấy nàng yên tâm bạn cùng kinh kệ…” (Quan Âm Thị
Kính). Truyện Sự tích ông bình vôi kể về một cô gái con một nhà giàu có. Cô rất đẹp nhưng
cũng rất kiêu, vì thế nên đến tuổi lấy chồng vẫn chưa có đám nào vừa ý. Nhưng rồi cô cũng
lấy được chồng… Cô ghen chồng làm cho xóm giềng cau mặt vì những lời qua tiếng lại của
họ. Cuối cùng hai người không vừa ý nhau và ly dị: “[…] Buồn bực vì chuyện duyên phận,
cô bỏ đi tu. Cô xuất gia ở một ngôi chùa cổ trên núi gần hai mươi năm. Những con chim,
những con thú rừng hầu như quen thuộc bóng dáng của người sư nữ. Hai mươi năm qua cô
vẫn chưa đắc đạo. Một ngày kia cô quyết định sang Tây Trúc một phen để tìm cho ra lẽ…”.
Truyện Sự tích chùa Trà Nồng kể về mối tình chàng Ếch với nàng Nồng. Do sự cấm đoán
của mẹ cha nên chàng Ếch bỏ làng ra đi. Truyện kể rằng: “Chẳng ngờ, sau khi biết tin chàng
bỏ làng ra đi, buồn rầu, nàng Nồng xin cha mẹ cho mình cắt tóc đi tu. Nàng lập một ngôi
cái nhìn về việc tu hành rất khác so với những nước theo đạo Phật Theravada ở Đông Nam
Á. Hiện tượng này xuất phát từ tập quán và quan niệm sống của nhân dân. Nhân dân ta không
coi việc tu tập là một lẽ sống. Điều dễ nhận thấy là ngay trong lời ăn tiếng nói hằng ngày,
người bình dân Việt Nam thể hiện rất rõ tâm tư khao khát cuộc sống trần tục, nhiều khi coi nó
như một đối trọng với việc chay tịnh ở cửa chùa:
Ai lên Hương Tích chùa Tiên,
Gặp cô sư bác anh khuyên đôi lời.
Đem thân làm kiếp con người,
Tu sao cho trọn nước đời mà tu.
Hơn nữa, người dân xứ ta không thích gò bó. Với niềm ham sống, ham dấn thân trải
nghiệm mọi buồn - vui, sướng - khổ trong cuộc đời, người ta coi việc tu hành là một sự trói
buộc:
Đã đành cắt tóc đi tu,
Một ngày cửa Phật, mười thu cửa trần.
Đối với người Việt, thiết thực nhất là ăn ở hiền lành, sống đạo đức, lành thiện:
- Một câu nói ngay bằng làm chay cả tháng,
- Anh tu cho bạc tóc mai,
Sao bằng em lượm cành gai giữa đường.
- Tu chùa chẳng bằng tu nhà,
Ăn ở thật thà mới thật là tu.
Đặc biệt, người Việt quan niệm đạo làm người trước tiên phải giữ tròn chữ hiếu. Nếu
không làm được điều đó thì đừng học đòi cảnh giới tu trì cao siêu, thoát tục:
- Lên chùa thấy Phật muốn tu,
Về nhà thấy mẹ công phu chưa đền.
- Chuối chát măng chua, bốn mùa anh chịu khổ,
Em tu hành anh chỉ chỗ em tu.
Kìa trông hai vị Phật sanh,
Cha già mẹ yếu em bỏ đành đi tu?…
Từ trong nếp nghĩ, nhân dân ta đặt lẽ phải và đạo lí trong cách ứng xử, ăn ở lên trên
mọi nhu cầu thoát tục, mọi quan điểm giáo điều. Người ta quan niệm đã có tâm lành thiện,
cũng như thành kiến xa xưa của xã hội Ấn trong cách nhìn nhận thân phận người phụ nữ vẫn
có sức chi phối rất lớn đến nội dung truyện cổ các dân tộc này.
Các khía cạnh đối sánh cho thấy xu hướng “hướng chuẩn” trong truyện cổ dân gian
các quốc gia theo Phật giáo Theravada luôn có sự khác biệt, ít nhiều đối lập với xu hướng
“phi chuẩn”, “nghịch chuẩn” trong truyện cổ dân gian Việt Nam. Cần thấy rằng sự đối lập ấy,
về cơ bản, không có ý nghĩa đối kháng mà mang tính chất đa dạng trong chỉnh thể văn hoá
khu vực - một sự thống nhất trong đa dạng