CHUYÊN ĐỀ: Tinh thần nhân văn qua một số truyện cổ dân gian Việt nam - Pdf 35

CHUYÊN ĐỀ 2
TINH THẦN NHÂN VĂN QUA MỘT SỐ
TRUYỆN CỔ DÂN GIAN VIỆT NAM
(Thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười)
A. MỤC ĐÍCH - YÊU CẦU
1.Kiến thức:
-Nắm được ý nghĩa cơ bản của khái niệm “Nhân văn”. Hiểu nhân văn là thước đó
của văn học.
-Nắm được một số biểu hiện nổi bật của tinh thần nhân văn qua các truyện cổ và
khái quát được tư tưởng xuyên suốt ổ các truyện cổ dân gian Việt Nam.
2. Kĩ năng: Phân tích được “nhân văn” là biểu hiện trong một truyện cổ dân gian
việt Nam, biết liên hệ với truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc.
3.Thái độ: Trân trọng di sản văn học quá khứ, cảm thông với nguyện vọng tâm
tư của quần chúng nhân dân. Có ý thức về sự công bằng, sự khoan dung trong xã
hội hiện đại.
B.NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
I. Nhân văn là thước đo giá trị văn học của mọi thời đại:
1. Khái niệm “nhân văn” và tính nhân văn trong văn học
Nhắc đến khái niệm”nhân văn” chúng ta không thể không quan tâm đến những
thuật ngữ gần nghĩa có liên quan mật thiết là “nhân bản” và “nhân đạo”, sự
phân biệt những khái niệm đó giúp ta hiểu rõ hơn bản chất của vấn đề.
“Nhân bản”: là lấy con người làm gốc. “Chủ nghĩa nhân bản” là chủ nghĩa coi
trọng con người với thực thể hiện hữu của nó - sự sống còn và bản chất người
(bao gồm cả bản năng vốn có và những giá trị khác). Do đó, nói tới giá trị nhân
bản là nhấn mạnh đến khía cạnh bản thể của con người.
“Nhân đạo” là đường đi của con người. Con đường đó còn gọi là đạo lí. Đó là đạo
lí phải tôn trọng quyền lợi chính đáng của con người, không được xâm phạm
đến sinh mệnh, thân thể, sự tự do về tư tưởng, tình cảm của con người. “Chủ
nghĩa nhân bản” đòi hỏi sự thương yêu, quý trọng và bảo vệ con người, thuật
ngữ này nhấn mạnh đến khía cạnh đạo đức.
Thuật ngữ “nhân văn” cần được hiểu theo ý nghĩa của từng từ tố: “Nhân” là

Vẻ đẹp nhân văn của dòng văn học từ cuối đầu thế kỉ XVI thể hiện ở việc các tác
phẩm đã trân trọng ngợi ca những khát vọng trong tình yêu và hạnh phúc chính
đáng của con người, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội cũ. Văn học đề cao vẻ
đẹp của con người, đặc biệt là giá trị về tâm hồn, phẩm cách (tác giả Nguyễn Dữ,
Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Phạm Thái,…)
Tinh thần nhân văn của Thơ Mới, văn xuôi 1930-1945 là ở sự khẳng định cái tôi
cá nhân, cái nhìn nhân văn của những tác phẩm sau 1975 hướng tới góc ẩn
khuất trong đời sống con người, phát hiện những vẻ đẹp của con người ở nhiều
góc độ khác nhau.
Như vậy, “nhân văn” không chỉ là thước đo giá trị của văn học, không chỉ
kha73ng định tấm lòng, sự tâm huyết, trăn trở của nhà văn với cuộc đời, với số
phận con người mà nó đã trở thành một nhịp cầu nối kết giữa người xưa và
người sau, giữa các bộ phận và các giai đoạn trong nền văn học dân tộc. thế hệ
hôm nay sẽ tìm thấy những gần gủi lạ kì trong suy tư, tình cảm, cảm xúc của
người xưa, những đồng cảm sâu sắc vượt thời gian về những vấn đề muôn thuở
của con người, thêm tự hào về những giá trị quý báu của văn học dân tộc.
Tìm hiểu về truyện cổ dân gian Việt nam, bên cạnh những giá trị nội dung và
nghệ thuật của mảng sáng tác truyền miệng này, giá trị nhân văn là một giá trị


đặc sắc của truyện cổ dân gian, nó mang tính chất khởi nguồn, góp phần tạo nên
một dòng chảy mãnh liệt xuyên suốt các giai đoạn của nền văn học viết. Tinh
thần nhân văn là cảm hứng dạt dào của các nghệ sĩ dân gian với nhiều biểu hiện
vô cùng phong phú.
II. Tinh thần nhân văn là tư tưởng xuyên suốt của loại hình truyện cổ dân
gian Việt Nam với những biểu hiện phong phú
1. Khát vong chinh phục, chế ngự thiên nhiên, giải thích tự nhiên
Đó là mong ước, khao khát cháy bỏng của muôn đời, đặc biệt là con người ở
thời kì cổ đại. trong buổi bình minh của lịch sử loài người, cuộc đối thoại đầu
tiên giữa con người với vũ trụ chứa đầy sự bí ẩn. và nhu cầu được lí giải tự

quyết liệt nhất niềm khao khát muôn đời của con người là làm chủ động hoàn


toàn những thế lục tự nhiên kì vĩ, đầy bí hiểm có ảnh hưởng trực tiếp và quan
trọng đến sự sống trên mặt đất.
Tìm hiểu về truyện cổ dân gian Việt Nam nói chung và sử thi nói riêng, mỗi tác
phẩm là một khúc ca ngân lên khát vọng đẹp đẽ của con người, là một thế giới
mơ ước được chắp cánh bằng trí tưởng tượng hồn nhiên, bay bổng và rất đỗi
ngây thơ của con người cổ đại.
2. Khát vọng độc lập tự cường
Khát vọng độc lập tự cường là khát vọng của con người Việt nam ở mọi thời đại.
Bắt nguồn từ lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử chống giặc ngoại xâm nên đó là
khát vọng được cháy lên từ hiện thực cuộc sống. Khát vọng một đất nước độc
lập tự cường, đất đai sạch bóng quân thù, bờ cõi được mở mang, quốc gia phát
triển thịnh vương sẽ là tiền đề mang tới cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho con
người. Đó là khát vọng lớn lao thể hiện giá trị nhân văn cao đẹp.
Đến với truyền thuyết Thánh Gióng, Sự tích Hồ Gươm (đã học cấp II) và Truyền
thuyết An Dương Vương và Mị Châu-Trọng Thủy… khát vọng đó của con người
được thể hiện mãnh liệt hơn bao giờ hết. Là một vị Vua đứng đầu nhà nước Âu
Lạc, An Dương Vương ấp ủ trong mình khát vọng độc lập tự cường. Để biến ước
mơ ấy trở thành hiện thực, nhà Vua đã cho dời đô từ vùng rừng núi Nghĩa Linh
về đồng bằng Cổ Loa. Truyền thuyết chỉ kể lại một câu chuyện đơn giản như vậy
nhưng đó là cả một sự nghiệp “dời non lấp bể” của một dâ tộc ở buổi bình minh,
là bước chuyển mình to lớn từ nhận thức khát vọng thành hành động việc làm.
Cổ Loa là nơi đồng bằng bắc địa, đất đai màu mỡ, nguồn nước dồi dào và phù
hợp với việc trồng lúa nước, lại có giao thông thuận lợi. Dời đô về nơi ấy, nhà
Vua đã gửi gắm vào mảnh đất ấy những hạt mầm sinh sôi, những ước vọng của
nhà vua mà còn là khát vọng của toàn thể dân tộc trong công cuộc dựng nước
và giữ nước, bảo toàn nền độc lập tự cường.
Nhưng để thực hiện khát vọng ấy không đề đơn giản. Mục đích càng lớn lao thì

3. Ngợi ca tình nghĩa đạo lí con người
Dân tộc Việt Nam xưa kia sinh ra từ bọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ. Vì thế mà từ
ngàn đời nay, con người Việt nam luôn sống với nhau trọn nghĩa vẹn tình, luôn
nhắc nhau phải giữ tròn đạo lí làm người. Nét đẹp nghĩa tình đạo lí ấy đã được
dân gian gửi gắm vào trong các truyện cổ dân gian: từ đoạn trích Chiến thắng
Mtao Mxây, truyện thơ Tiễn dặn người yêu đến truyện cổ tích Chử Đồng Tử. Đăm
Săn chiến thẳng Mtao Mxây là bắt nguồn từ danh dự của một người anh hùng
khi bị kẻ thù lăng nhục, nhưng sự quyết chiến ấy còn được tạo nên từ nghĩa tình
chung thủy với vợ là Hơ Nhí, bằng nghĩa tình sâu nặng với buôn làng. Chàng đã
làm tròn đạo lí của một người chồng, làm vẹn nghĩa với một tù trưởng khi sự
bình yên của buôn làng mình bị uy hiếp. Lời ngợi ca người anh hùng còn được
cất lên khi chàng có ngĩa cử vô cùng cao đẹp với dân làng của Mtao Mxây, chàng
đã kêu gọi tha thiết, chân thành họ hãy đi theo mình. Hành động ấy không chỉ
thể hiện tấm lòng bao dung của Đăm Săn mà còn làm sáng lên đạo lí: “thương
người như thể thương thân” trong co người lẫy lừng ấy. và rồi Đăm Săn được
thưởng công không chỉ là buôn làng của mình ngày càng thịnh vượng, giàu có
mà chàng còn trở thành một tù trưởng tiếng tăm lẫy lừng, được mọi người kính
nể.
Đến với truyện thơ Tiễn dặn người yêu, truyện tình mặn nồng, sâu sắc của Anh
yêu và Em yêu dù có để lại bao nỗi xót xa, sầu muộn nhưng nghĩa tình thủy
chung của họ giống như một lời ca vút lên giữa cái thẳm xanh của đại ngàn.
Nghĩa tình của chàng trai dành cho cô gái thật đẹp. thể hiện qua lời dặn ngậm
ngùi của anh, qua lời bày tỏ niềm mong ước được “kề vóc mảnh, quấn quanh
vai, được bế bé xinh, nựng con rồng con phượng”. Rồi bằng nghĩa tình sâu đậm
họ hẹn ước với nhau “dù không lấy nhau mùa hạ họ lấy nhau mùa đông, không
được bên nhau thời trẻ, họ sẽ bên nhau khi góa bụa về già”. Cô gái về nhà chồng
như hoa đã có chủ nhưng kì lạ thay, chính lúc ấy tình nghĩa năm xưa của học vụt
trở về tỏa sáng lung linh. Ánh sáng của tình nghĩa mặn nồng có trong lời anh gọi



minh chứng cho sự đau khổ tưởng như không bao giờ chấm dứt của cuộc đời
Tấm, nhưng với cái nhìn công bằng, nhân ái, nhân dân ta đã đứng về phía
những con người bất hạnh, làm sáng lên khao khát được sống hạnh phúc, làm
dịu đi những đắng cay chua chát của đời họ. Nhân dân đã để cho ông Bụt đến
bên cô gái nghèo, xuất hiện mỗi lần Tấm khóc, an ủi nâng đỡ mỗi khi Tấm gặp
khó khăn. Cùng với Bụt là con gà, con chim sẻ - những con vật thần kì đã trợ
giúp cho tấm trên con đường đi đến hạnh phúc. Hoàng hậu Tấm là hình ảnh cao
nhất về hạnh phúc mà nhân dân ta mơ ước cho cô gái mồ côi nghèo, cô đơn
trong xã hội xưa. Niềm mơ ước không chỉ thể hiện tinh thần lạc quan yêu đời
mà còn cháy bỏng khát vọng công bằng, dân chủ của nhân dân lao động.
Khát vọng công lí trong Tấm Cám còn được thể hiện cao hơn nữa khi nhân dân
đã thổi một sức sống mãnh liệt cho nhân vật, để Tấm tự giành và giữ lấy hạnh


phúc của mình và thực hiện “oán thì trả oán, ân thì trả ân” đến tận cùng. Cuộc
chiến đấu giữa Tấm và mẹ con dì ghẻ gian nan, quyết liệt nhưng cuối cùng Tấm
đã chiến thắng. Đó là chiến thắng tất yếu của cái thiện. Kết thúc có hậu của câu
chuyện hay là bức tranh đẹp vẽ về một xã hội lí tưởng mà con người ngàn đời
mong ước khát khao.
Nếu Tấm được trở về cung làm Hoàng hậu, mẹ con Cám bị trừng trị thích đáng
thì Ngô và Cải (Nhưng nó phải bằng hai mày) vẫn cứ phải sống trong vòng đời
luẩn quẩn bất công. Không có ông Bụt, bà Tiên đứng ra phán xử công bằng của
họ, chỉ có một tên quan nhơ bẩn, quen ăn tiền lo lót của dân. Bằng tiếng cười đả
kích, bằng cái nhìn sắc sảo, dân gian đã bóc trần bản chất vô lại của thầy Lí. Tạo
nên tiếng cười, dân gian đã tố cáo phê phán quan lại xưa kia từ đó thể hiện ước
mơ được sống công bằng, hạnh phúc trong một xã hội luôn có những người
“cầm cân nảy mực”.
5. Cái nhìn khoan dung đối với con người
Sự khoan dung, độ lượng, cái nhìn thông cảm, nhân ái của nhân dân ta cũng là
biểu hiện đẹp đẽ thể hiện tinh thần nhân văn sâu sắc trong truyện cổ dân gian.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status