MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Logic học là khoa học nghiên cứu những qui luật và hình thức suy luận
của tư duy nhằm nhận thức đúng đắn hiện thực khách quan. Logic học phát
triển sớm và chủ yếu ở lĩnh vực toán học. Logic học được vận dụng vào khoa
học xã hội trong thời gian gần đây, đặc biệt là ngành ngôn ngữ học. Logic
học trở thành điểm tựa trong việc nghiên cứu ngôn ngữ tự nhiên.
Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu về logic ngôn ngữ học đã
và đang hé mở nhiều vấn đề thú vị, hấp dẫn. Cho nên, mặc dù biết việc vận
dụng logic học vào ngôn ngữ không phải là một việc làm đơn giản, dễ
dàng, nhưng cá nhân người viết vẫn quyết định chọn đề tài theo hướng
nghiên cứu logic của ngôn ngữ học.
1.2. Truyện cười dân gian Việt Nam ra đời và phát triển cùng với quá
trình lao động sản xuất và đời sống nhân dân. Khi tư duy con người
tương đối phát triển, họ ý thức được tầm quan trọng của truyện cười.
Nó không chỉ đem lại tiếng cười mua vui cho thiên hạ để họ giải tỏa
những mệt nhọc, vất vả sau một ngày lao động tích cực mà truyện
cười còn có tác dụng phê phán, châm biếm, mỉa mai các thói hư tật
xấu của con người. Có khi nó được xem như là một thứ vũ khí sắc bén
để đấu tranh chống lại những bất công của tầng lớp trên. Mà tiếng
cười ấy, nó phản ánh sự thông minh, tư duy sâu sắc của người Việt
nói chung và những con người có trí tuệ, khả năng giao tiếp nhanh
nhạy nói riêng. Ở đó đã có sự kết tinh của một quá trình chọn lọc,
khái quát và nó xứng đáng được xem là một tác phẩm hoàn chỉnh, một
chỉnh thể thống nhất và toàn vẹn.
Truyện cười đã được nghiên cứu ở các phương diện thi pháp truyện
cười, hàm ý hội thoại trong truyện cười hay ngữ pháp truyện cười,… Ở
từng phương diện các vấn đề thuộc nội dung và hình thức đã được bàn
đến ở những mức độ khác nhau. Vấn đề “Logic trong một số truyện
1
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi nghiên cứu một số truyện cười
dân gian Việt Nam, chủ yếu là các truyện cười trong cuốn “Tiếng cười
dân gian Việt Nam”, Trương Chính - Phong Châu (Sưu tầm và tuyển
chọn), Nxb Khoa học Xã hội, 2004. Phạm vi xem xét trong các truyện đó
là logic hình thức.
4. Mục đích, nhiệm vụ của khóa luận
4.1. Mục đích
Chọn đề tài này chúng tôi có mong muốn đi sâu khai thác một số loại
logic được sử dụng trong truyện cười, cũng như nó giúp người viết cùng bạn
đọc hiểu thêm về truyện cười dân gian Việt Nam. Đề tài này được người viết
thực hiện với hi vọng sẽ góp phần khơi gợi sự ham thích của độc giả, nhằm
tăng số lượng cũng như chất lượng người đọc đối với truyện cười.
4.2. Nhiệm vụ
Nhằm đạt tới mục đích như đã trình bày, đề tài hướng tới những
nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tìm hiểu một số vấn đề về logic học, ngôn ngữ học và các nguyên
tắc ngữ dụng có liên quan đến đề tài.
- Phân tích và chỉ ra một số loại logic trong một số truyện cười dân
gian Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
- Về phương pháp: với đề tài này, người viết sử dụng các phương
pháp sau:
+ Phương pháp thống kê.
+ Phương pháp hệ thống.
+ Phương pháp phân tích – tổng hợp.
+ Phương pháp so sánh đối chiếu.
Trong đó phương pháp phân tích - tổng hợp được coi là phương
pháp chủ đạo.
3
- Một số truyện cười trong “Tiếng cười dân gian Việt Nam” của
b) Những mối liên hệ tất yếu có tính qui luật giữa các sự vật và các
hiện tượng trong hiện thực khách quan cũng như giữa những ý nghĩ, tư
tưởng trong tư duy, trong lập luận của con người. Cho nên chúng ta gặp
những lối nói như “logic của sự kiện”, “logic của quá trình phát triển”, “lời
nói có (không có) logic”,…
Có những khoa học khác cũng nghiên cứu về tư duy, như tâm lí học,
sư phạm học, sinh lí học, thần kinh cao cấp, trí tuệ nhân tạo, triết học,…
Vậy thì, logic học nghiên cứu phương diện nào của tư duy? Nó nghiên cứu
những qui luật và hình thức suy luận của tư duy nhằm đi tới sự nhận thức
đúng đắn hiện thực khách quan.
Logic cung cấp cho ta một công cụ phân tích tìm hiểu, trả lời những
thắc mắc về mọi hiện tượng “có lí” hay “phi lí” trong cuộc sống, giúp ta
biết cách bác bỏ những lập luận sai lầm hoặc ngụy biện. Nó cung cấp cho
5
ta một công cụ tư duy sắc bén, biết cách phân tích tìm ra được bản chất của
sự kiện và do đó đạt hiệu quả cao trong nghiên cứu khoa học.
1.1.2. Mối quan hệ giữa logic và ngôn ngữ
Trong nửa cuối của thế kỉ XX có sự xâm nhập mạnh mẽ của toán học
vào các ngành khoa học xã hội. Ngôn ngữ học là ngành khoa học xã hội dễ
hình thức hóa nhất, do đó nó là lĩnh vực đầu tiên mà các phương pháp toán
học đã vận dụng để nghiên cứu và đạt được những thành công đặc biệt có
ý nghĩa trong nhiều công trình. Ngôn ngữ tự nhiên có thể được mô hình
hóa theo phương pháp thống kê. Chính do việc đi tìm quy luật về sự
chuyển đổi luân phiên các phụ âm và nguyên âm trong tác phẩm Epghênhi
Ônhêghin của văn hào Nga Puskin mà nảy sinh ra lí thuyết toán học mang
tên “xích Markov”. Từ đây, N.Chomsky xây dựng mô hình ngôn ngữ đầu
tiên của mình mang tên “ngữ pháp các trạng thái hữu hạn”. Lí thuyết thông
tin của P.Shannon được vận dụng để xác định lượng thông tin và lượng dư
trong ngôn ngữ tự nhiên. Phương pháp đại số, đặc biệt là lí thuyết tập hợp,
được vận dụng để xây dựng các mô hình ngôn ngữ mang tên “các mô hình
nhất, không bất biến. Nó chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác như thay
đổi theo thời gian, thời đại, thay đổi theo không gian và tạo ra các vùng
phương ngữ, thay đổi theo giới tính, nghề nghiệp, theo trình độ văn hóa,
theo xã hội,…
Về đơn vị:
Logic và ngôn ngữ có những đơn vị cơ bản chung.
Hai đơn vị cơ bản của logic là khái niệm và phán đoán. Hai đơn vị này
tương ứng với hai đơn vị cơ bản của ngôn ngữ là từ (thuộc cấp độ từ) và câu
(thuộc cấp độ câu). Tuy nhiên, trong ngôn ngữ còn có âm vị (thuộc cấp độ ngữ
âm). Khái niệm thường thể hiện bằng từ, nhưng có những khái niệm phải thể
hiện bằng một cụm từ. Lại có những lớp từ, như những từ hư, không thể dùng
để biểu hiện một khái niệm nào. Phán đoán cũng chỉ tương ứng với câu tường
thuật mà thôi. Trong ngôn ngữ còn có những loại câu khác nữa nhưng không
phải là phán đoán. Đó là những câu cảm thán, câu mệnh lệnh, cầu khiến, câu
nghi vấn (câu nghi vấn là đối tượng của logic các câu hỏi).
7
Về cú pháp:
Logic dùng các tác tử logic (còn gọi là các liên từ logic) để tạo phán
đoán mới từ một (nhiều) phán đoán đã biết.
Ngôn ngữ cũng có những liên từ tương ứng và có chức năng tương tự
như các liên từ logic.
Sự khác nhau căn bản giữa logic và ngôn ngữ ở những điểm sau:
- Trong logic, người ta quan tâm tới giá trị chân lí của các phán
đoán. Giá trị chân lí của một phán đoán phức được xác định qua giá trị
chân lí của các phán đoán thành phần của nó. Do vậy mà các liên từ
logic được định nghĩa qua bảng giá trị chân lí cho từng khả năng tổ
hợp các giá trị chân lí của hai phán đoán thành phần.
- Trong khi đó, ở ngôn ngữ tự nhiên, một câu ngoài việc có cấu tạo
đúng theo quy tắc cú pháp còn cần phải đúng về phương diện ngữ nghĩa.
Như vậy, trong logic người ta quan tâm tới phương diện hình thức
(2b) Anh Hải muốn mua một cái áo khoác làm quà tặng cho người
yêu nhưng chưa biết chọn cái nào cho đẹp. (→ ”cái áo khoác” chưa xác
định).
Về qui luật:
Những qui luật, qui tắc của logic là những qui luật, qui tắc hình thức,
phổ quát và cố định.
Những qui luật, qui tắc ngôn ngữ, bên cạnh đặc điểm hình thức còn
phụ thuộc vào nội dung. Bên cạnh những qui tắc phổ quát, chung cho mọi
ngôn ngữ, còn có những qui tắc đặc thù cho một nhóm hoặc cho riêng một
ngôn ngữ. Những qui tắc này cũng không bất biến, nó thay đổi theo thời
gian, theo không gian,… Ví dụ, xét đoạn thoại sau:
Ví dụ (3): - Em Lan hát hay quá!
- Con nhà nòi mà!
Người nói câu thứ hai bày tỏ sự đồng tình với ý kiến vừa nói đồng
thời giải thích lí do vì sao em Lan hát hay. Chúng ta nói đó là hành vi giải
thích. Cũng hành vi này, ở phương ngữ Bắc Bộ có thể thêm từ lại vào
9
cuối. Nghĩa là nói: “- Con nhà nòi mà lại!” Phương ngữ Nam Bộ không
chấp nhận lối nói này. Như vậy là có khác biệt giữa hai phương ngữ.
Phép suy luận trong logic thì hoàn toàn hình thức còn phép suy luận
trong ngôn ngữ, ngoài sự suy luận hình thức như trong logic, con người
còn suy luận qua từ ngữ, qua tình huống, qua tri thức và kinh nghiệm,…
Ví dụ (4):
Anh tưởng cô ấy chấp nhận à?
Ở câu trên, nhờ có từ tưởng mà ta suy ra rằng cô ấy không đồng ý.
1.1.3. Những hệ thống logic được sử dụng trong ngôn ngữ
Để miêu tả và nghiên cứu những hiện tượng khác nhau trong ngôn ngữ
tự nhiên, chúng ta cần tới hệ thống logic bao gồm: logic mệnh đề, logic vị từ,
logic thời gian, logic đa trị, logic xác suất và logic mờ,… Đề tài xin trình bày
cụ thể về logic mệnh đề, logic vị từ, logic tình thái và logic mờ.
Logic vị từ cho phép miêu tả phân biệt những câu có hình thức giống
nhau nhưng bản chất logic khác nhau.
Ví dụ (6):
(6a) Tôi muốn cắt tóc.
(6b) Tôi muốn ăn cá.
Nếu phân tích, một cách truyền thống, theo cấu trúc chủ - vị thì hai
câu trên có cùng một mô hình. Tuy nhiên, bản chất logic của chúng thì
khác nhau. Chúng được hiểu là:
(6a) Tôi muốn [Người ta cắt tóc cho tôi].
(6b) Tôi muốn [Tôi ăn cá].
Vị từ của (6a) là muốn. Bổ ngữ của nó cũng là một phán đoán có
vị từ là cắt do một đối tượng X khác, sẽ tồn tại, thực hiện. Vị từ của
(6b) cũng là muốn nhưng bổ ngữ của nó lại là một phán đoán có vị từ
ăn được thực hiện bởi chính chủ thể tôi.
Như vậy, logic vị từ cho phép miêu tả một câu theo những cách khác
nhau nhưng bản chất logic của chúng lại giống nhau.
11
1.1.3.3. Logic tình thái
Logic tình thái (modal logic), như lưu ý của S.C. Kleene, xuất hiện ở
những sự kiện có hai khả năng, ứng với hai giá trị chân lí, trong đó một
khả năng là hiển nhiên hơn khả năng kia.
Logic tình thái là một công cụ hữu hiệu để miêu tả và nghiên cứu
ngôn ngữ tự nhiên. Khi đưa vào nghiên cứu ngôn ngữ, logic tình thái
được vận dụng vào việc tìm hiểu các từ tình thái như là những kí hiệu
được sử dụng và họ phải phân tích các kí hiệu tình thái đã được từ
vựng hóa trong các phát ngôn cụ thể. Sự đa nghĩa của các lớp từ tình
thái đã dẫn đến những giả thuyết khác nhau về lớp từ này như: giả
thuyết ngữ dụng, giả thuyết cú pháp, giả thuyết ngữ nghĩa,…
Giả thuyết cú pháp cho rằng lớp từ tình thái nhận thức có chức năng
cú pháp khác với lớp từ tình thái đạo nghĩa và cũng theo đó, lớp từ tình
những giới, những người, thậm chí những hoàn cảnh phát ngôn khác nhau.
Cùng là một người 40 tuổi, nhưng trong một hoàn cảnh phát ngôn nào đó
thì được đánh giá là rất trẻ (chẳng hạn khi là cán bộ được xét đề bạt vào
một chức vụ rất cao), mà trong một hoàn cảnh phát ngôn khác thì lại có thể
được đánh giá là già quá (chẳng hạn khi cầu hôn một cô gái 20 tuổi). Nếu
trong hiện thực khách quan không thể có những đường ranh giới dứt
khoát, cứng nhắc (hard and fast lines, F. Engels), hiện tượng tập hợp mờ
là phổ biến, thì trong nhận thức của con người khái niệm mờ càng phổ
biến gấp bội, với một mức độ càng cao hơn, sâu hơn, đậm hơn. Phản ánh
vào trong ngôn ngữ, tất cả những cái đó lại được nhân lên nữa, và trong
ngôn ngữ, của lời, vì phải tính đến những yếu tố của hoàn cảnh phát ngôn,
những yếu tố dụng học, lắm khi chúng ta đứng trước những hiện tượng
không phải chỉ mờ, mà lại rất mờ, mờ bình phương, nếu có thể nói được
như vậy.
Nếu hiện tượng ngữ nghĩa mờ là phổ biến, thì có thể nói rằng logic của
ngôn ngữ tự nhiên thường là một loại logic mờ. Nhờ logic mờ mà chúng ta
13
nhận ra có sự tồn tại của những logic, những “cái lí” đằng sau vẻ bề ngoài bị
coi là phi logic, là sai trong một số truyện cười dân gian Việt Nam.
1.2. Các nguyên tắc ngữ dụng
1.2.1. Lý thuyết hội thoại
1.2.1.1. Cấu trúc hội thoại
Trong một cuộc nói chuyện người ta trao đổi hết vấn đề này sang vấn
đề khác, nhưng bao giờ cũng có lúc bắt đầu và lúc kết thúc. Chúng làm
nên ranh giới một cuộc thoại. Lúc bắt đầu được gọi là mở thoại, luôn luôn
do một bên chủ động. Lúc kết thúc cũng do một bên chủ động đề ra gọi là
kết thoại (A: Closing). Giữa phần mở thoại và phần kết thoại là phần trung
tâm cuộc thoại: phần thân thoại. Như vậy cấu trúc một cuộc thoại là:
MỞ THOẠI - THÂN THOẠI - KẾT THOẠI
Trong cuộc thoại mỗi lần nói của một người là một lượt lời (Turn).
Phương châm lượng: Hãy làm cho phần đóng góp của mình có lượng
tin đủ như nó được đòi hỏi cho mục đích cuộc thoại và đừng đóng góp
lượng tin của mình phần nhiều hơn điều nó được đòi hỏi.
Phương châm chất: Đừng nói điều mà mình tin là sai, đừng nói điều
mà mình không có bằng chứng chính xác.
Phương châm quan hệ: Hãy đóng góp những điều có liên quan.
Phương châm cách thức: Hãy nói cho rõ ràng, tránh lối nói tối nghĩa,
mơ hồ, và hãy nói ngắn gọn, mạch lạc.
c) Nguyên tắc liên kết hội thoại:
Nguyên tắc này đòi hỏi người tham gia hội thoại phải có sự liên kết
với nhau.
Ví dụ (8): 77. HỎI ĐƯỜNG LÊN TRỜI [1, 118-119]
Một thầy đồ ngồi dạy học ở nhà bà nọ. Bà ta chỉ có một trai và một
gái, đêm đến, phải nhường cho thầy và con trai ngủ trên nhà, còn bà và cô
con gái thì ngủ dưới bếp.
Thầy đồ bụng muốn tòm tem, một hôm, nhân lúc cả nhà đã đi ngủ,
thầy lò dò xuống bếp. Bất đồ, bà chủ tỉnh giấc hỏi:
- Ai đó?
15
- Tôi.
- Tôi là ai?
- Thầy đồ đây mà!
- Đêm hôm thầy xuống bếp làm gì?
- Tôi… xuống lấy vài cái rế để đựng sách.
Cách mấy hôm sau, thầy lại mò mẫm, trèo lên mái nhà bếp. Đang dỡ
tranh để tụt xuống, bỗng lại nghe tiếng bà chủ hỏi:
- Ai trên kia?
- Tôi đây mà!
- Tôi là ai?
- Thầy đồ đây mà!
của mọi thành viên trưởng thành và có năng lực hiểu biết rằng hành động của
mình không bị người khác ép buộc. Hay nói cách khác là lòng mong muốn tôn
trọng lãnh địa riêng tư, quyền tự chủ, tự do hành động, đồng ý hoặc từ chối.
Trong một cuộc tương tác thông thường tồn tại bốn loại thể diện:
+ Thể diện âm tính của người nói.
+ Thể diện dương tính của người nói.
+ Thể diện âm tính của người nghe.
+ Thể diện dương tính của người nghe.
Giao tiếp là hành động liên cá nhân do nhu cầu giữ thể diện cho người
khác và cho cả chính mình. Như vậy, nguyên tắc tôn trọng thể diện đòi hỏi
mỗi chúng ta trong hội thoại phải khéo léo, tránh được sự xúc phạm đến
người khác cũng như cố gắng giữ thể diện cho chính mình.
- Nguyên tắc khiêm tốn:
Trong hội thoại, người nào bộc lộ cái tôi quá mạnh sẽ gây khó chịu
cho những người tham gia hội thoại. Người Pháp có câu “cái tôi là cái
đáng ghét”. Khiêm tốn là thái độ giao tiếp không đánh giá mình cao, thật
tâm coi mình còn non kém, sẵn lòng học hỏi người khác. Còn quan niệm
khiêm tốn ở phương Tây thì cho rằng khiêm tốn là tăng lợi cho người
nhận, giảm hại cho người nhận.
17
1.2.2. Cơ chế tạo nghĩa hàm ẩn trong truyện cười – nguyên nhân tạo nên
những hiện tượng phi logic
Cơ chế tạo nghĩa hàm ẩn trong truyện cười dân gian Việt Nam thực ra
chính là cơ chế gây cười do vi phạm các nguyên tắc ngữ dụng. Khóa luận
này đi tìm hiểu logic trên cơ sở những vi phạm ấy với quan niệm những vi
phạm chính là những hiện tượng phi logic. Do đó sẽ có các hiện tượng phi
logic do vi phạm nguyên tắc chiếu vật, chỉ xuất; vi phạm nguyên tắc hội
thoại; nguyên tắc lập luận,…
1.2.2.1. Phi logic do vi phạm nguyên tắc chiếu vật
Truyện cười có thể gây ra hàm ý, có thể gây cười là do vi phạm
không chịu “dựa cột” lại cứ thích dùng chữ nghĩa, giá anh chàng say cứ
giấu cái dốt đó trong lòng thì đã không bị ăn đòn. Đây là sự vi phạm logic
do hiểu nhầm (qui chiếu nhầm).
Việc vi phạm nguyên tắc chiếu vật không phải xảy ra ít trong truyện
cười dân gian Việt Nam và chính việc này (có thể là vô tình hoặc cố ý) đã
gây nên tiếng cười có lúc thật sảng khoái nhưng có lúc lại rất sâu cay, cười
ra nước mắt. Điều đó góp phần tạo nghĩa hàm ẩn trong truyện cười.
1.1.2.2. Phi logic do vi phạm nguyên tắc lập luận
Từ lập luận được giới thiệu ở Việt Nam như một thuật ngữ trong ngôn
ngữ học đã khá lâu, tuy nhiên việc xét nó trong sự đối chiếu với thuật ngữ suy
lí của logic học thì chưa được nhấn mạnh. Trên cơ sở đó mối liên hệ của lập
luận với lí thuyết về hàm ý hội thoại của Grice chưa được làm sáng tỏ.
Trong ngôn ngữ học ở Việt Nam, hàm ý hội thoại đã được giới thiệu
nhiều, bắt đầu từ bài viết của nhà nghiên cứu Hoàng Phê 1981 “Ngữ nghĩa của
lời”, trong đó ông đề cập đến cách nhìn của O. Ducrot và H.P. Grice về lập
luận. Với tư cách người am hiểu về logic, nhà nghiên cứu Hoàng Phê đã đạt
đến sự phân biệt tinh tế giữa suy luận dùng trong logic với suy luận dùng trong
hàm ý hội thoại: “Hoạt động của tư duy từ hiển ngôn và tiền giả định suy ra
hàm ngôn cũng là một hình thức suy luận, giống như, nhưng không đồng nhất
19
với suy luận logic. Chúng tôi đề nghị gọi hình thức suy luận này là suy ý, suy
luận để biết cái ý của người nói. Suy ý cũng vận dụng những qui tắc của suy
luận logic, nhưng đồng thời nó còn có một số quy tắc đặc trưng của nó. Từ L
suy ý N có nghĩa là nếu nói L, tức là ý muốn nói, hoặc đồng thời muốn nói N”.
Còn suy luận trong logic được ông gọi là “suy lí logic”.
Trong việc nghiên cứu về lập luận, sự phân biệt hai hình thức suy
luận như ở nhà nghiên cứu Hoàng Phê được giải thuyết theo hướng phân
biệt suy lí (inference) với “lý thuyết lập luận” (argumentation theory) theo
hướng coi lí thuyết lập luận như một bộ phận bên trong thuật ngữ suy lí.
Lí thuyết lập luận không sử dụng các suy lí logic chặt chẽ với các tiền
“cần và đủ” trong mọi trường hợp để có mệnh đề q. Nói cách khác, anh ta
đã nâng một hiện tượng cụ thể lên thành một hiện tượng phổ biến. Đó
chính là chỗ sơ hở để anh làm ruộng đưa ra lập luận chứng minh rằng “nếu
–p thì –q”, tại sao ở đây “nếu –p thì q” (nếu “không cổ dài” thì “kêu to”).
Như vậy, lí lẽ của người làm ruộng rất chặt chẽ về mặt “logic”, cho nên
người có chữ không tài nào có thể biện minh được.
Trong sự bắt bẻ thì người làm ruộng sắc sảo như vậy, nhưng cái kết
luận “trời sinh ra thế” trong lập luận của người làm ruộng tuy rằng đúng vì
tính phổ quát của nó, nhưng về thực chất nó không có một sức mạnh giải
thích gì cả, bởi lẽ mọi sự đều gán cho một lực lượng siêu nhiên, chưa ai
hiểu được (cách giải thích như vậy trong dân gian gọi là “lý sự cùn”).
b) Gây cười do sử dụng khái niệm không tuân theo luật “đồng nhất”
Trong một suy lí logic, tính đồng nhất của các khái niệm là một qui
tắc phải được tuân theo một cách chặt chẽ. Thế nhưng, chính tính không
đồng nhất của khái niệm trong lập luận là cơ sở cho việc gây cười. Chẳng
hạn như trong truyện LẠI CÒN TRÁCH TÔI mang số 101 [1,140].
Ví dụ (11): 101. LẠI CÒN TRÁCH TÔI [1, 140]
Một đứa trẻ sốt dữ lắm. Thầy lang cho uống thuốc, nó lăn ra chết. Bố
nó đến tận nhà bắt đền. Thầy không tin, đến xem lại, sờ thằng bé rồi bảo:
- Thế này mà lại còn trách tôi ư? Ông bảo tôi chữa cho nó khỏi nóng,
bây giờ người nó lạnh như thế này rồi còn chữa gì nữa!
21
Trong truyện, từ sốt và từ nóng đều có thể dùng chỉ một trạng thái có
nhiệt độ cao bất bình thường của cơ thể con người, cần phải chữa trị, tức thuộc
về sinh lí học. Thế nhưng ông thầy đã dùng từ nóng trong nghĩa vật lí học để
đối lập với từ lạnh cũng trong trường nghĩa đó để ngụy biện cho tay nghề kém
cỏi của mình, làm thành cơ sở để tiếng cười bật ra trong truyện này. Cách sử
dụng thuật ngữ như vậy trong logic học được gọi là “đánh tráo khái niệm”, tức
là không tuân thủ “luật đồng nhất” – luật này đòi hỏi một thuật ngữ dùng ở các
vị trí khác nhau trong suy luận logic phải đồng nhất với nhau.
nào?
- Anh không rõ. May là vì tôi không đi giày! Chớ mà đi giày thì rách
mất mũi giày rồi còn gì!
Tình huống của hàm ý gây cười là việc vấp chảy máu chân do không
đi giày nhưng lại nói là may của ông hà tiện. Câu nói của ông ta (câu in
đậm) có chứa hàm ý.
Do nói với chính mình nên câu nói của ông hà tiện khiến người khác
nghe sẽ không hiểu và cũng không có cơ sở để giải đoán được hàm ý mà
ông ta tạo ra qua cách nói thiếu thông tin.
Với tư cách người nghe (SP2), người đi đường ngạc nhiên về sự đối
lập giữa nội dung mệnh đề của câu nói (một điều may) và lẽ thường (vấp
phải hòn đá chảy máu chân được coi là điều rủi). Câu nói của ông tính hà
tiện vì vậy đã thúc đẩy cho hội thoại phát triển. Người nghe, người đọc
chờ đợi một sự giải thích để rồi ngạc nhiên, bất ngờ trước những thông tin
được bổ sung ở câu nói kết thúc truyện của ông ta: may không bị rách mũi
giày.
Hàm ý được tường minh góp phần tạo ra tiếng cười phê phán tính hà
tiện đến mức “coi của hơn người”.
Ví dụ (13): Hàm ý hội thoại liên quan đến việc cung cấp thừa tin
27. RẮM CỦA CON [1, 77-78]
23
Tình huống của câu chuyện là một bà huyện nọ vô tình “vãi rắm” khi
đang trò truyện tại nhà chị em. Anh đầy tớ theo hầu bưng miệng cười làm
cho bà lớn càng thêm xấu hổ. Truyện viết như sau:
[…]
Về đến dinh, bà lớn gọi anh đầy tớ vào buồng, mắng một thôi một
hồi:
- Đồ ăn hại! Không ra thể thống gì cả! Như người ta thì mày nhận là
của mày, có được không! Đằng này mày lại nhe răng ra mà cười như con
khỉ! Bà lại đánh tuốt xác ra bây giờ!