nghệ thuật truyện cười dân gian Việt Nam - Pdf 27

1
Mở đầu
1.Mục đích, ý nghĩa chọn đề tài
Truyện cười dân gian Việt Nam ra đời và phát triển cùng với quá
trình lao động sản xuất và đời sống nhân dân. Khi tư duy con người tương
đối phát triển, họ ý thức được tầm quan trọng của truyện cười. Nó không
chỉ đem lại tiếng cười mua vui cho thiên hạ để cho họ giải tỏa những mệt
nhọc, vất vả sau một ngày lao động tích cực mà truyện cười còn có tác
dụng phê phán, châm biếm, mỉa mai các thói hư tật xấu của con người. Có
khi nó được xem như là một thứ vũ khí sắc bén để đấu tranh chống lại
những bất công của tầng lớp trên. Mà tiếng cười ấy, nó phản ánh sự thông
minh, tư duy sâu sắc của người Việt nói chung và nhưng con người có trí
tuệ, khả năng giao tiếp nhanh nhạy nói riêng. Ở đó đã có sự kết tinh của
một quá trình chọn lọc, khái quát và nó xứng đáng được xem là một tác
phẩm hoàn chỉnh, một chỉnh thể thống nhất và toàn vẹn .
Đề tài “nghệ thuật truyện cười dân gian Việt Nam” còn khá mới
mẻ, hấp dẫn. Cho nên tôi chọn đề tài này với mong muốn đi sâu khai thác
một số biện pháp gây cười cũng như nó sẽ giúp tôi hiểu thêm về truyện
cười dân gian Việt Nam - nó là một yếu tố quan trọng trong thi pháp truyện
cười .Đề tài này với hi vọng sẽ góp phần khơi gợi sự chú ý của độc giả,
nhằm tăng số lượng cũng như chất lượng cho người đọc về thể loại truyện
cười.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đề tài nghiên cứu truyện cười đã có một số các công trình của các
nhà nghiên cứu như sau:
Đinh Gia Khánh - Chu Xuân Diên - Võ Quang Nhơn(2006), Văn học
dân gian Việt Nam(tái bản), Nxb Giáo dục
Hoàng Tiến Tựu (1997), Mấy vấn đề về phương pháp giảng dạy –
nghiên cứu văn học dân gian
Hoàng Tiến Tựu (1997), Bình giảng truyện dân gian
2

3
Phương pháp thống kê: thống kê các truyện dân gian Việt Nam ,các
công trình nghiên cứu đi trước và nhiêu đánh giá, nhận xét .Trên cơ sở đó
để ta có một cái nhìn khách quan, tổng thể hơn về vấn đề.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: cùng với việc thống kê cần phải
có một óc phân tích, tổng hợp một cách logic, hợp lý. Vừa tổng hợp vừa
đưa ra những dẫn chứng để phân tích, mổ xẻ vấn đề.
Phương pháp thi pháp học: vận dụng các khái niệm,các phương pháp
và các tri thức trong thi pháp học để làm rõ nghệ thuật truyện cười.
Phương pháp logic học: bất kì một vấn đề gì cũng cần phải sử dụng
phương pháp này, dù ít dù nhiều. Bởi phương pháp logic giúp ta có một
cách phân tích đúng đắn cả về trình tự sắp xếp, cách nghiên cứu khoa học
và tiết kiệm được thời gian.
Phương pháp đối chiếu - so sánh: sử dụng phương pháp này để đối
chiếu, so sánh sự giống và khác nhau giữa các truyện ở các vùng miền, các
giai đoạn lịch sử hay là giữa truyện cười dân gian Việt Nam truyền thống
và truyện cười hiện đại.
5.Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài chúng tôi kêt cấu gồm có
ba chương sau:
Chương 1.Giới thiệu chung về truyện cười dân gian Việt Nam
Chương 2.Khảo sát một số biện pháp gây cười trong truyện cười dân
gian Việt Nam.
Chương 3.Giá trị của tiếng cười trong truyện cười dân gian Việt Nam
6.Đóng góp của đề tài
Kế thừa và tiếp tục phát huy nhưng thành tựu của những công trình
nghiên cứu nghệ thuật truyện cười đi trước, chúng tôi mong muốn sẽ góp
thêm công sức vào việc khảo sát một số biện pháp nghệ thuật gây cười
trong truyện cười dân gian Việt Nam- một trong những yếu tố quan trọng
trong nghệ thật truyên cười dân gian.

Dịch nghĩa:
Đời Lê bậc kỳ tài, sáng tác đẹp truyền đời được đặc biệt tuyển trong
sách “Danh phú”
Đất Thang Châu( Thanh Hóa) người ngang tàng khí cốt, đỗ hương
cống được dân mến chuộng tôn gọi Trạng Nguyên.
6
- (Nhà nghiên cứu văn học lão thành Tảo Trang Vũ Tuấn Sán đề
tặng)
- Vào giữa thế kỉ XVIII đến cuối thế kỉ XIX, khi chế độ phong kiến
đang trên bước đường suy tàn và bắt đầu bộc lộ bản chất xấu xa, tàn nhẫn,
đúng lúc đó Trạng Quỳnh xuất hiện đánh cho tơi bời từ trên xuống dưới, từ
Vua- Chúa, quan lại cho đến những tên lính tham lam, cậy thế vơ vét tiền
bạc của nhân dân và đánh vào tận những tường thành của chế độ phong
kiến lỗi thời, vào thần thánh, ...không một chút nể nang.
Truyện cười không kết chuỗi :là truyện cười có kết cấu hoàn chỉnh
tồn tại độc lập mang tính phiếm chỉ( chỉ chung, không có tính xác định cụ
thể về thời gian, không gian, địa điểm, nhân vật ).
Truyện cười không kết chuỗi chia thành nhiều tiểu loại khác nhau:
+ Truyện khôi hài( hài hước) là truyện có tiếng cười nhằm mục đích
mua vui là chủ yếu, không hoặc it có tính chất phê phán đả kích. Chẳng hạn
như: truyện Tay ải tay ai, Ba anh mê ngủ, ...
Truyện Ba anh mê ngủ kể rằng ba anh uống rượu say cung ngủ một
giường. Giáp ngứa đùi nhưng lại cứ nhè đùi Ất mà gãi. Gãi mãi không thấy
khỏi ngứa, lại càng gãi mạnh đến nỗi đùi Ất bị chảy máu lênh láng. Ất thức
dậy thấy ướt đùi lại ngỡ Bính đái dầm, đánh thức Bính dậy. Bính dậy đi
đái, nghe thấy tiếng lọc rượu ở hàng xóm, tưởng mình đái chưa hết, cứ
đứng mãi. Bỗng có lính đi tuần thấy Bính đứng đầu nhà, ngò đâu là thằng
kẻ trộm, kêu lên: “Có trộm! ”. Bính giật mình, chui qua giậu vào nhà hàng
xóm, bi lính vụt vào lưng mấy gậy. Người hàng xom thấy động, chạy ra.
Bính vội xua tay bảo:”Suỵt! Im..., ngoài ấy có người vừa phải đòn!” Ba anh

đồng tiền trong cổ họng. Đặc biệt là sau khi chết, nghe Diêm Vương quyết
định trừng phạt tội tham lam quá đáng của hắn bằng cách bỏ vào vạc dầu
thì hắn vội quỳ xuống nói: “ Thưa Diêm Vương, xin ngài hãy giữ lại chỗ
dầu, gửi về cho nhà tôi, tôi nguyện được rang khô trong chảo!”. Tiêng cười
chua chát, cay đắng tận cổ họng bởi một thói tham lam, keo kiệt tới tột
cùng của lão. Thật hết chỗ nói. Qua đó, truyện châm biếm, đả kích mạnh
mẽ vào nhưng thói hư tật xấu của con người.
+ Truyện tiếu lâm(theo nghĩa hẹp) là những truyện cười dân gian
mang yếu tố tục, có tác dụng gây cười mạnh mẽ. Ví dụ như truyện Đỡ đẻ
giỏi nhất đời, Đầy tớ, Trời sinh ra thế, Thơm rồi lại thối,...
8
Truyện cười là truyện kể để cười, tức là để gây ra cái cười. Vì thế,
muốn hiểu được cặn kẽ nó phải làm rõ hai khái niệm: cái đáng cười và cái
cười.
+ Cái đáng cười là cái gây ra cái cười. Đó là những hiện tượng mang
một loại mâu thuẫn đặc biệt: hình thức bên ngoài có vẻ hợp lẽ tự nhiên
nhưng thực chất bên trong lại trái tự nhiên; hình thức bên ngoài có vẻ phù
hợp với nội dung bên trong, nhưng lại để lộ ra sự không phù hợp. Tom lại ở
đó có một cái gì đó ngược đời.
+ Cái cười là hành động cười, do cái đáng cươidf và do trí óc ta phát
hiện cái đáng cười. Như vậy tất nhiên, phải có cái đáng cười thì mới có cái
cười. Nhưng có cái đáng cười mà trí óc ta không phát hiện ra nó, tức cái
ngược đời không phát hiện ra ở hiện tượng thì cũng không có cái cười.
1.2. Một số đặc điểm về truyện cười dân gian Việt Nam
Truyện cười là thể loại truyện kể ngắn gọn bậc nhất. Dài cũng chỉ
đến 15 - 20 câu. Ngắn thì 5 - 7 câu. Trung bình khoang trên dưới 10 câu.
Tuy ngắn thế, nhưng cũng là “ cả một câu chuyện” có mở đầu, có diễn
biến, có kết thúc. Và cũng có nhân vật, lại phần lớn là nhân vật”có nét”,
khó quên. Toàn bộ các yếu tố của thi pháp truyện cười, như kết cấu, nhân
vật, ngôn ngữ kể chuyện đều phục vụ mục đích gây cười.

địa phương mà có những nét đặc trưng riêng, nét độc đáo riêng. Tiếng cười
của Thủ Thiệm “tếu hơn”, tiếng cười của Xiển Bột “cay” hơn; Truyện Ba
Giai – Tú Xuất in đậm của văn minh đô thị đang bước phát triển cùng một
thứ đạo lý bình dân phường phố. Đó là quan niệm ứng xử của một số
không ít người dân thành thị ...và còn nhiều truyện cười dân gian khác nữa
mà chung ta chưa sưu tầm hết. Tất cả những truyện cười đó nhiều khi có sự
trùng lặp về mô típ giống nhau nhưng đó là điều không tránh khỏi trong
điều kiện truyện cười chủ yếu truyền miệng và được nhân dân sáng tác để
mua vui hoặc chế giễu, đả kích đối tượng tầng lớp trên lúc bấy giờ.
Vì truyện cười trước hết bao giờ cũng nhằm mục đích gây cười nên
mọi chi tiết, sự kiện từ lời nói nhân vật, hành động, cử chỉ đều đáng cười và
được đặt trong tình huống hoàn cảnh đáng cười, đầy kịch tính để cho nhân
vật bộc lộ cái cười một cách tự nhiên, bất ngờ. Việc một số biện pháp nghệ
thuật như phóng đại, ngoa dụ, nghệ thuật chơi chữ,... truyện cười đạt đến
hiệu quả cao cho mục đích gây cười.
10
Chương 2. Khảo sát một số biện pháp gây cười trong
truyện cười dân gian Việt Nam
2.1.Nhân vật
Khác với nhân vật truyện cổ tích có cả một số phận, cuộc đời, nhân
vật truyện cười đơn giản chỉ là hành vi ứng xử của nhân vật trong một hoàn
cảnh nhất định và hành vi ứng xử ấy luôn luôn biểu hiện ở lời nói, cử chỉ
đáng cười. Đó chỉ là những “lát cắt” trong cuộc đời, số phận nhân vật mà
thôi. Tuy nhiên, ở đó nó hội tụ được tất cả những nét đặc sắc, những đặc
điểm cơ bản tiêu biểu đáng cười mà tác giả dân gian muốn gửi gắm.
Nhân vật trong truyện cười xuất hiện mọi tầng lớp trong xã hội, từ
Vua chúa, thần thánh, quan lại, địa chủ, sư sãi, ông đồ, ... cho tới những
con người bình dân. Họ đã tạo ra một bức tranh xã hội sinh động, phong
phú và đời sống sinh hoạt của nhân dân trong hoàn cảnh lúc bấy giờ. Nhân
vật trong truyện cười “có nét” độc đáo, khó quên, dễ hình dung và ta có thể

một vố đáng đời. “Một hôm, Xiển ăn vận quần áo nông dân, tay cầm một
nắm tiền, ngồi trước cổng huyện, dằn từng đồng xuống đất, miệng lẩm
bẩm: “Đồng này tốt, đồng này xấu,đồng này xấu,đồng này tốt... “Tên lính
gác cổng thấy lạ chạy ra xem, động lòng tham nên hắn vơ vội lấy mấy đồng
đút vào túi. Xiển túm ngay lấy, hắn kêu cướp ầm lên”. Đến đây, Xiển đã có
cớ, kế hoạch đang thuận lợi, được xét hỏi, Xiển “giả bộ ấp úng chỉ tay vào
quan rồi lại chỉ vào lính, nói:-Bẩm ...quan quân ăn cướp... tôi đang thử xem
“tiền tốt” hay “tiền xấu”, dạ bẩm... quan thấy tiền là ăn cướp... Hừ, tiền,
tiền, mả cha tên cướp tiền”. Khi ấy, quan huyện Tiền tái mặt, biết là gặp
phải Xiển, chỉ biết lẫn vào trong. Được thể nên Xiển vừa đi vừa chửi đổng:
“- Tiền, tiền, mả cha tên cướp tiền! Mả cha thằng cướp tiền”. Tiếng cười
cất lên hả hê, giòn giã, đánh một đòn mạnh vào bọn tầng lớp phong kiến
tham lam bất chính, cướp mồ hôi xương máu của nhân dân mà đại diện là
tên quan huyện Tiền.
Đã là truyện cười dân gian thì phải làm thế nào gây được tiếng cười
giòn giã nhất. Nghệ thuật truyện cười dân gian trước hết là nghệ thuật gây
cười. Muốn gây cười không thể không có lời nói đáng cười, cử chỉ đáng
cười, hoàn cảnh đáng cười, ...
2.1.2. Lời nói đáng cười
12
Một số truyện cười đã lấy một lời nói ngộ nghĩnh (nghĩa là trái tự
nhiên, không hợp với lẽ thường hoặc máy móc) để gây cười. Thí dụ như
truyện Giấu đầu hở đuôi! Luật rằng kẻ nào nhìn thẳng vào mặt Vua khi
ngài ngự ra ngoài thì bị chém đầu. Chúa đắc thế, muốn sánh ngang với
thiên tử, cũng ra lệnh “ thần dân không được nhìn mặt Chúa!” Cho nên việc
Quỳnh tồng ngồng, chui đầu vào bụi, chổng đít ra ngoài, trả lời một cách tự
nhiên khi Chúa hỏi: “Thần đang tắm dưới sông. Khôn nổi thần chỉ biết bơi
ngửa mà không biết lặn, sợ nhìn mặt Chúa thì phạm thượng cho nên không
kịp che thân cứ thế rúc đầu vào bụi. Nào ngờ giấu đầu lại hở đuôi!” Lời nói
có đầu có đuôi, trình bày mọi nguyên cớ, lý lẽ rất đầy đủ và chặt chẽ.

nuốt cay trong lòng. Cử chỉ vả miệng quan thật buồn cười và hành động đó
làm cho mục đích của truyện cười này đạt hiệu quả.
Hay truyện Kén rể lười,một ông già tính vốn lười, muốn kén rể lười.
Nhiều chàng trai đến xin làm rể. Nhưng qua sự thử thách của ông già thì
mãi chẳng có ai lười “đủ mức” để xứng đáng là con rể ông. Một hôm, có
một người đến xin làm rể. Ông già lấy làm lạ vì thấy anh ta quay lưng vào
nhà đi thụt lùi, bèn hỏi tại sao lại đi như thế. Anh ta nói: “Tôi đi như vậy để
nếu như cụ không chọn tôi làm rể thi lúc ra về đỡ phải quay lưng lại, mệt
sức lắm!” Tư thế của anh ta trái với tự nhiên và thật tức cười, lập luận của
anh ta chứa mâu thuẫn: anh ta đã cất công đi nổi từ nhà mình đến nhà ông
già. Thế mà khi vào nhà đến cổng lại đi giật lùi, để khỏi phải quay lưng trở
lại khi đi ra! Tác giả dân gian “bịa” ra một tình tiết như vậy để gây cười và
phê phán thói lười biếng. Những truyện như Con ruồi và quan huyện, Đẻ ra
sư, Thầy đồ liếm đĩa ,... đều thuộc loại truyện trong đó cái đáng cười chủ
yếu là ở cử chỉ máy móc trái với tự nhiên, vô lý.
2.1.4. Tính cách đáng cười
Hiện tượng có khi phản ánh tính cách - những gì sâu kín bên trong
do con người bộc lộ ra đúng bản chất của đối tượng. Nhưng cũng có lúc
hiện tượng không phản ánh đúng bản chất đối tượng hay nói cách khác đôi
khi những lời nói, cử chỉ bộc lộ ra bên ngoài trong giao tiếp chỉ là cái vỏ
bọc còn bên trong lại chứa một điều gì đối lập với nó. Cho nên, lời nói, cử
chỉ có trường hợp phải phân tách ra với tính cách. Tính cách là một hiện
tượng có tính chất cố hữu, bền vững, khó mà thay đổi. Vì vậy, để bộc lộ cái
đáng cười, bóc trần bản chất của một con người, một giai cấp nào đó thì
việc vận dụng tính cách đáng cười (nhất là truyện cười châm biếm) trong
14
các truyện cười như Đến chêt vẫn hà tiện, Viên quan huyện hồ đồ, Anh sợ
vợ, Đãng trí,...Truyện Lấy vợ chữ sẵn, anh chàng lười tuổi đã lớn, bằng tuổi
anh người ta đã có con cái và một gia đình đàng hoàng, còn anh suốt ngày
chỉ biết ngủ thôi. Đến khi bạn anh hối thúc anh lấy vợ thì anh trả lời:

thận lấy bút viết câu trả lời vào một mảnh giấy rồi đưa cho con bảo rằng hể
ai có hỏi thì đưa giấy ra. Chú bé bỏ giấy vào túi, đợi suốt cả ngày chẳng có
ai hỏi. Tối đến, bé ta mới tò mò giơ mảnh giấy ra nghịch trước đèn, chẳng
may làm cháy mất. Hôm sau có người tới chơi, hỏi rắng: “Bố cháu có nhà
không?”. Bé ngơ ngác hồi lâu, sờ vào túi không thấy mảnh giấy, liền đáp:
“Mất rồi”. Khách giật mình, vội hỏi: “Mất bao giờ”. Bé ta khi đó sực nhớ
ra, trả lời: “Tối hôm qua!” “Khách hỏi dồn: “Tại sao mất?” – Bé ta lại đáp:
“Cháy!” Sự hoảng hốt của ông khách đã làm cho chúng ta cười. Các câu trả
lời của chú bé lại làm chúng ta cười to hơn. Ở đây chẳng có ai có lỗi cả.
Cha em bé là người cẩn thận, chu đáo. Em bé thì thực thà. Ông khách thì có
lý do để hoảng hốt như vậy. Truyện đã đặt ra một hoàn cảnh đáng cười,
trong đó mỗi người đều suy nghĩ và hành động hợp với lôgic. Nhưng mà
lời nói của hai người ghép lại với nhau, thì tưởng rằng ăn khớp với nhau
mà thực chất lại không ăn khớp chút nào. Có lỗi chăng là những từ “mất”
và “cháy” gọn thỏn lỏn đã có thể hiểu theo nhiều cách. Có lỗi chăng là
luồng tư tưởng của ông khách đang nghĩ về người bạn vắng mặt và luồng
tư tưởng của em bé đang nghĩ về mảnh giấy, tuy chạy theo hai ngả khác
nhau nhưng lại ngẫu nhiên ngoắc vào nhau ở hai từ ấy. Sở dĩ có tình trạng
ấy là vì em bé ngây thơ tuy không trả lời đúng vào câu hỏi của người khách
mà lại cứ như trả lời đúng câu hỏi đó. Xét đến cùng, thì sự ngây thơ của em
bé là “thủ phạm” gây ra sự hiểu lầm. Chúng ta cười và phát hiện ra “thủ
phạm” nhưng lại chỉ càng thấy thích thú với sự ngây thơ mà thực thà của
em bé.
Truyện Na mô boong, xét về phương diện cấu tạo thì có cả lời nói
đáng cười (thầy đồ kêu “chí chí” như chuột, lý trưởng kêu “gâu gâu” như
chó, nhà sư hổ mang kêu “boong boong” như chuông), cử chỉ đáng cười
(thầy đồ đội váy trong hòm quần áo, thầy lý chui gầm giường và nhà sư
treo giữa nhà) và hoàn cảnh đáng cười (ba anh dại gái gặp nhau, ba vị đại
diện cho chính quyền, lễ giáo, đạo đức, “đã anh hùng tương ngộ” trong
hoàn cảnh chẳng anh hùng chút nào).

đã kết thúc khi nó đạt tới tuyệt đỉnh.
Chẳng hạn trong truyện Cháy, tác giả dân gian ba lần làm cho ta bất
ngờ mà cũng ba lần tạo cho ta dịp tốt để chiến thắng và do đó đã ba lần cho
17
ta được cười. Khi ông khách hỏi “Bố cháu có nhà không”, và em bé trả lời:
“Mất rồi”, thì câu trả lời thực bất ngờ. Sự bất ngờ chỉ đem lại cho ông
khách sự hốt hoảng. Chúng ta cũng thấy bất ngờ, nhưng lại hiểu ngay là em
bé nói về tờ giấy và do đó bật cười. Khi ông khách giật mình hỏi: “Mất bao
giờ?”, và em bé trả lời: “Mất tối qua”, thì đó là sự bất ngờ thứ hai. Ông
khách càng hốt hoảng mà chúng ta lại càng cười. Đến khi ông khách hỏi
dồn: “Tại sao mất?”, và em bé trả lời: “Cháy!”, thì sự bất ngờ đối với ông
ta gây sự hoảng hốt và sự ngạc nhiên cao độ. Còn về phần chúng ta được
dịp cùng phá ra cười. Sự bất ngờ càng lớn, chiến thắng càng to, tiếng cười
càng giòn giã.
2.2.2 Kết cấu “gói kín, mở nhanh”
Kiểu kết cấu này tác giả dân gian chỉ làm cho chúng ta cười vào lúc
kết thúc truyện. Mọi kịch tính, bất ngờ đều được giấu kín, được dồn nén
đến tận cùng của truyện. Khi tiếng cười sảng khoái, cười giòn giã cất lên
thì cũng là lúc câu truyện kết thúc.
Trong truyện Tao thèm quá, khi oan hồn con lợn xuống âm phủ gặp
Diêm Vương để tố cáo bọn dồ tể và Diêm Vương bảo nó khai rõ đầu đuôi
sự việc, khi Diêm Vương hỏi vặn để biết sau khi lợn bị dội nước sôi và cạo
lông rồi thì bọn đồ tể còn làm gì nữa, chúng ta thấy rằng ông Vua ở cõi âm
này quả là quan tâm đến số phận đáng thương của con lợn kia. Ông hỏi cặn
kẽ đến như thế chắc là để biết cho hết tội ác mà quyết định một sự trừng
phạt nghiêm khắc. Diêm Vương thật xứng đáng nói lên điều phán quyết
cuối cùng đối với mọi hành vi tội ác ở thế gian này! Tác giả dân gian đã tạo
ra tình huống rất bất ngờ, đang trên đà phát triển của truyện, người nghe
như hiểu theo một chiều hướng phát triển khác của sự kiện, của nhân vật,...
Mà ở đây, chính nhân vật lợn đã tin như thế, kể tiếp, hết sức tin tưởng rằng

Qua quan sát ông khách cho rằng: "cái chén bị mẻ hẳn là ít ai chịu uống,
nhất là chỗ mẻ, nó vệ sinh" nhất, bèn chỗ chén ấy mà uống. Trong lúc ông
khách đang thích thú thưởng thức cả vị trà và sự sáng suốt của mình, thì
đứa bé nọ chạy lại, la to lên: - " A, cái ông này! Sao lại uống vào lỗ của mẹ
tôi!".Khiến ông suýt đánh rơi chén. Còn đứa bé không hiểu gì cả. Ở đây,
tác giả dân gian đã sử dụng yếu tố cùng âm "lỗ" nghĩa là một chỗ bị khoét
trống hay nói đến chỗ mẻ của chén (ý thằng bé muốn đề cập) với một bên
là từ địa phương nghĩa là "chỗ" hay là "vùng kín" của người phụ nữ (ông
khách hiểu theo cách này). Cho nên đã tạo ra tiếng cười rất vui vẻ và
19
nghịch ngợm. Việc sử dụng hình thức chơi chữ theo lối đồng âm này tạo ra
hiệu quả cao cho truyện cười dân gian.
+ Cùng âm Hán Việt - Hán Việt
Hiện tượng vận dụng từ cùng âm Hán Việt trong truyện cười dân
gian Việt Nam rất phổ biến. Đặc biệt là nước ta thời bấy giờ chịu ảnh
hưởng nặng nề của chế độ thống trị phương Bắc, chữ Hán đã từng thống
lĩnh hệ thống giáo dục nước ta một thời. Cho nên yếu tố Hán Việt đi sâu
vào đời sống của nhân dân ta, vào truyện cười là điều không thể tránh
khỏi. Chơi chữ bằng cách sử dụng các từ cùng âm Hán Việt đã làm cho hệ
thống truyện cười dân gian Việt Nam thêm phong phú.
Ví dụ như trong truyện sau: "Ông nọ khoe ngôi nhà mới với khách.
Nhìn ra cửa sau, ông nói:
- Ông xem, hậu môn này của tôi có được không?
Người khách hóm hỉnh, đáp:
Thật là đại tiện!"
"Hậu môn" (cửa sau) cùng âm với "hậu môn" (lỗ đít). Ở đây hai từ
này có chung chữ viết nhưng nghĩa thì hoàn toàn khác nhau, không có liên
quan gì với nhau cả. Thông thường, người Việt chỉ nói cửa sau hay cửa hậu
chứ ít ai nói như ông nọ. Vì vậy mà người khách đã dựa vào đó để trả lời
"đại tiện" (rất tiện lợi) ; Do sự có mặt của "hậu môn", nên đại tiện cũng

+ Nhại từ ngữ, lời nói, giọng nói
Trong truyện cười, chơi chữ bằng phương thức nhại từ ngữ, lời nói,
giọng nói cũng được vận dụng để tạo ra tiếng cười. Có thể nhại bằng cách
đọc lệch, theo cách gần âm, sử dụng lại những từ ngữ, lời nói, giọng nói
của nhân vật để nhằm mục đích chế giễu nhân vật hay đơn thuần chỉ để
cười vui.
Ví dụ, "Có anh nọ không được bao lăm chữ trong bụng, nhưng hễ
nói là hay xổ ra khoe. Lần ấy, anh ta nói với người ăn kẻ ở rằng: "Sự bất
đắc dĩ tao mới đánh mày, chứ tao cũng biết giáo đa thành oán" . Biết anh ta
chẳng tốt lành gì, lại nữa vừa rồi vợ đẻ, anh ta tra một cái gáo thật dài cán
để đưa cơm nước cho vợ (sợ đưa trực tiếp sẽ làm bẩn chữ thánh hiền trong
óc) , người hàng xóm mới giả vờ mắng con rằng:
- Sự mất bát đĩa tao mới đánh mày, chứ tao cũng biết gáo tra dài
cán!". Ở lời nói của người hàng cười xóm, "sự bất đắc dĩ" biến thành "sự
21
mất bát dĩa" (đĩa) ", "giáo đa thành oán" (răn dạy thái quá, có thể gây oán
thù) hoá ra "gáo tra dài cán"; Đây là cách nhại theo cách gần âm.
+ Cách mô phỏng âm thanh
Có khi người ta mô phỏng những âm thanh của thiên nhiên hay các
hoạt động của con người để tạo tiếng cười nhằm vào mục đích nào đó. Ví
dụ trong truyện Quan thanh tra [1,277], sử dụng "Ô hô! ô hô! ô hô thiên!"
đã mô phỏng âm thanh tiếng khóc của con người nhằm chỉ trích, phê phán
tên quan tham lam, ngông cuồng.
+ Cách gần âm
Chơi chữ theo phương thức gần âm tức là tạo một tên gọi, một lời
(câu), một văn bản ngắn (có nghĩa theo ngữ cảnh thuận), gần âm với một
tên gọi, một lời, văn bản ngắn (cũng theo ngữ cảnh thuận) khác. So với
cách cùng âm, thường thể hiện ở cấp độ cao hơn; và ý nghĩa được tạo ra,
lắm lúc cũng bất ngờ, thú vị hơn. Nhưng vận dụng trên thực tế, thì gần âm
không phong phú bằng.

. Lái để vui đùa, để đánh đố
“Có một thái giám đến xin chữ Quỳnh để treo đại tự trên nhà. Trạng
Quỳnh cho hai chữ “Thiên đức”. “Thiên đức” nghĩa là đức tốt. Viên thái
giam thích lắm, đóng khung thật đẹp để treo. Nhưng rồi có người giải nghĩa
“thiên đức” không phải là đức tốt mà là đực thiến. Thật đau hơn cả thiến!”
. Lái để làm đẹp lời
“Xiển Bột có anh học trò đỗ đạt sắp ra làm quan, về nhà làm tiệc
mừng, mời Xiển Bột tới dự. Xiển chè chén xong, viết tặng bốn chữ
“Thượng đẳng tối linh”. Anh ta thích lắm, đem treo giữa nhà. Ít lâu sau,
bạn của anh ta (quan phủ, quan huyện) đến chơi, thấy bức trướng tỏ ra kinh
hãi: “Chỉ hoàng đế mới xưng thế, quan bác làm vậy mà đến tai triều đình
thì khó tránh khỏi tội phản nghịch vô đạo.”Anh ta hoảng hốt, cho mời Xiển
Bột đến. Ông giải thích : “Thượng đẳng” là bậc trên, “tối linh” là lính tôi,có
gì sai đâu?”.
. Lái để châm biếm, đả kích
Truyện kể về mụ Tư Hồng, là một người đàn bà lẳng lơ, làm giàu bất
chính mà được phong là “Ngũ phẩm Nghi nhân”, bố mụ là “Hàn Lâm thi
độc”. “Mụ sử sang làm tiệc mừng,xin cụ Tam Nguyên Yên Đỗ mấy chữ đại
tự, khắc cổng. Cụ Tam cho “chi chi dã”, và giảng giải là ba chữ này rút ra
từ một câu trong sách cổ “Đại tiểu do chi xuất nhập khả dã”, nghĩa là lớn
23
nhỏ đều có thể ra vào cửa này. Mụ Tư Hồng thích lắm, cho khắc ngay.
Nhiều người đi ngang cổng nhà mụ Tư đọc chữ đề, đều nén nụ cười khinh
bỉ. Mụ ta tìm người gạn hỏi, mới hay rằng cụ Tam đã chửi mình; Bởi chi
chi dã là cha cha đĩ! Thật điếng người!”[ ,73]
. Lái để văng tục
Lái để văng tục tức tránh việc phải nói, phải viết thẳng từ ngữ tục.
Chẳng hạn trong Đá bèo chơi[, ], Trạng đã chửi bà lớn bằng cách nói lái
“đá bèo” tức là “đéo bà” mà bà không biết chính mình đang trở thành trò
cười cho thiên hạ. Việc nói lái để văng tục có tác dụng chửi những tầng lớp

“Thằng quỷ ôm cái đấu, đứng cửa khôi nguyên”
Vế ra sử dụng cách ghép chữ: “quỷ” + “đấu” = “khôi”
Quỳnh đối lại:
“Con mốc nấp cây bàng, dàn nhà bảng nhã”
Vế đối cũng sử dụng cách ghép chữ: “mộc” + “bàng” = “bảng”. Ý
nghĩa cũng tương xứng (“mộc” (con mộc): một loại ma gỗ, ma cây)
. Đọc nhầm chữ Hán
Truyện Trạng Lợn có mẩu: “Chung Nhi cùng bạn cùng bạn trẩy kinh
ứng thi, hôm nọ đi đến một làng thì trời tối, định tìm chỗ xin ở qua đêm.
Bất đồ, khi qua đình, Chung Nhi lại giục mọi người rảo chân nhanh: Đi
mau để trọ nơi khác, làng này bất yên! Thấy các bạn ngạc nhiên, Chung
Nhi chỉ tay vào tấm bia trước đình. Ở đấy có khắc hai chữ “hạ mã” (xuống
ngựa). Các bạn suýt bật cười vì sự nhầm lẫn, nhưng Chung Nhi lôi đi, vẻ
quyết liệt, đành nghe theo. Vừa đi ra tới, quả nhiên thấy trong làng phát
hỏa. mọi người cho có thần linh báo trước, chứ không làm sao mà một
người lặn lội lên tận kinh đô để thi, lại đọc “hạ mã” thành “bất yên” (không
an lành) được”.
Hay trong truyện “Ông thầy đồ dốt, một lần dạy đến chỗ “phàm huấn
mông” (phàm việc dạy học), thầy không biết nghĩa là gì, cứ dạy rằng:
“phàm” là ông Phàm, “huấn” là ông Huấn, “mông” là ông Mông. Lần khác,
dạy chữ “bôi” (chén nhỏ) mà không biết âm và nghĩa ra sao; thấy chữ
“mộc” (cây) đứng bên chữ “bất” (không), thầy đoán một đằng nghĩa, một
đằng âm, bèn dạy: - “bất” là cây bất.
Học trò hỏi: - Thưa thầy, cây bất nó như thế nào ạ?
Thầy vội mắng át đi: - Cây bất tận ngoài bể Đông, chúng bay biết thế
nào được mà hỏi?
25
Ở cạnh trường, có một người đàn bà biết chữ, nghe thầy dạy láo, mới
hát ru con rằng: “Ai trồng cây bất bể Đông,
Hay là ông Huấn, ông Mông, ông Phàm?”

Trích đoạn Nói tục là một cách gây cười để thỏa mãn sự nghịch ngợm của nghĩa của truyện cười dân gian Việt Nam nghĩa nhân sinh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status