LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn sự
giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo của thầy giáo Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Yến đã
hướng dẫn để em hoàn thành khóa luận này.
Nhân dịp khóa luận được công bố, em xin chân thành cảm ơn sự
quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi của ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, phòng
Đào tạo, thư viện, sự động viên cổ vũ của các thầy cô giáo trong tổ bộ môn
Tiếng Việt, cảm ơn tập thể K49 ĐHSP Ngữ Văn đã ủng hộ em trong suốt
quá trình làm khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 04 năm 2012
Người viết
Phùng Thị Anh Ngọc
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng bậc nhất của con người, là
công cụ của tư duy. Con người muốn trao đổi nhận thức, tình cảm của mình
đến người khác không thể không qua ngôn ngữ. Trong một cuộc giao tiếp các
nhân vật tham gia giao tiếp có sự tác động qua lại lẫn nhau để cùng hướng về
một mục đích nhất định.
Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ và
cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác. Các hình thức hành
chức khác của ngôn ngữ đều được giao tiếp dựa vào hình thức hoạt động căn
bản này. Hội thoại không chỉ diễn ra trong đời sống hằng ngày mà còn có trong
tác phẩm văn học. Tuy nhiên trong cuộc hội thoại không phải tất cả những gì
muốn diễn đạt người ta đều có thể nói ra trực tiếp (hiển ngôn) mà nhiều lúc
người nói sử dụng cách nói hàm ý đòi hỏi người nghe phải tự suy ra qua phát
Khóa luận này của chúng tôi không có tham vọng giải quyết những vấn đề
còn bỏ ngỏ mà chỉ cố gắng tìm hiểu những đặc trưng của ngôn ngữ truyện cười qua
sự phân tích một số truyện cười trong truyện cười dân gian Việt Nam. Cụ thể là gây
cười bằng vi phạm quy tắc cộng tác, từ đó xuất hiện hàm ý hội thoại qua đề tài:
"Hàm ý trong một số truyện cười dân gian Việt Nam với các phương châm hội
thoại".
3. Đối tượng, phương pháp và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hàm ý hội thoại với các phương châm
hội thoại, trên quan điểm ngữ dụng học trong một số truyện cười dân gian Việt
Nam.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
Để nhận biết, phân tích và làm rõ nội dung nghĩa của các hàm ý hội thoại
trong truyện cười, phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu ở khóa luận
- 2 -
này là phương pháp phân tích ngữ cảnh theo hướng của dụng học. Ngoài ra
trong quá trình triển khai khóa luận, chúng tôi còn kết hợp với các phương pháp
khác như thống kê, phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp,
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Triển khai đề tài này, chúng tôi sử dụng một số truyện trong "Tiếng cười
dân gian Việt Nam" của Trương Chính và Phong Châu làm ngữ liệu khảo sát.
Bên cạnh đó, các ví dụ đã dẫn trong các tài liệu nghiên cứu về dụng học cũng
được chúng tôi sử dụng trong những trường hợp cần thiết.
Hàm ý hội thoại xuất hiện nhiều nhất trong đối thoại của những nhân vật
tham gia giao tiếp. Cho nên, đơn vị được chọn để tìm hiểu đối tượng nghiên cứu
là các cuộc thoại (cuộc thương tác).
Những vấn đề chúng tôi đề cập trong khóa luận này không bao quát toàn
bộ các vấn đề liên quan đến hàm ý hội thoại mà chỉ hi vọng góp thêm ý kiến vào
việc nhận biết và phân tích hàm ý hội thoại qua một số cuộc thoại trong một số
truyện cười dân gian Việt Nam.
Chương 2: Khảo sát các hàm ý hội thoại ở các cuộc thoại trong một số
truyện cười dân gian Việt Nam. Hàm ý trong mỗi truyện được khai thác ở các
phương diện:
- Phân tích hàm ý
- Hàm ý trong quan hệ với phương châm hội thoại
- Tình huống của việc dùng hàm ý
Ngoài hai phần chính khóa luận còn có phần danh mục tài liệu tham khảo.
- 4 -
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Lí thuyết hội thoại
Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, căn bản, phổ biến của ngôn
ngữ và cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác. Các hình thức
hành chức khác của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hình thức hoạt động
căn bản này.
Hàm ý hội thoại là hàm ý xuất hiện trong hội thoại. Do đó những hiểu biết
về lí thuyết hội thoại là rất cần thiết cho việc nhận biết và phân tích hàm ý về
sau. Tuy nhiên trong khóa luận những vấn đề lí thuyết hội thoại không được
trình bày đủ, chỉ những nội dung liên quan đến khóa luận mới được quan tâm.
1.1.1. Cấu trúc hội thoại
Hội thoại là một tổ chức có tính cấp hệ. Các đơn vị tạo nên cấu trúc của hội
thoại là:
- Cuộc thoại (cuộc tương tác)
- Đoạn thoại
- Cặp thoại (cặp trao đáp)
- Tham thoại
- Hành động ngôn trung.
Ba đơn vị: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại có tính chất lưỡng thoại, có
nghĩa là hình thành do vận động trao đáp của các nhân vật hội thoại.
Hai đơn vị: Tham thoại và hành động ngôn trung là những đơn vị có tính
chất đơn thoại do một người nói ra.
nhất định. Tham thoại là đơn vị cơ sở tạo nên cặp thoại. Có tham thoại dẫn nhập
và tham thoại hồi đáp (gắn với chức năng ở lời dẫn nhập và hồi đáp).
b. Hành động ngôn trung
Hành động ngôn trung là đơn vị nhỏ nhất của hội thoại. Trong cuộc thoại
các hành động ngôn trung và các yếu tố kèm ngôn ngữ đều được căn cứ vào các
hành động ngôn trung đi trước.
Về cấu trúc nội tại, một tham thoại có thể gồm nhiều hành động ngôn trung
nhưng chỉ có một hành động chủ hướng, còn lại là các hành động phụ thuộc.
- 6 -
Hành động chủ hướng là hành động quyết định hướng của tham thoại và quyết
định hành động đáp thích hợp của người đối thoại.
Đề tài tập trung khai thác các hành động ngôn trung có giá trị tạo nên hàm
ý trong các cuộc thoại trong truyện cười. Vấn đề này sẽ được trở lại ở các phần
sau.
1.1.2. Các quy tắc hội thoại
Các nhà dụng học đều khẳng định rằng: quy tắc hội thoại là có thực, các
cuộc hội thoại diễn ra theo những quy tắc nhất định.
Các quy tắc hội thoại chia làm ba nhóm:
- Quy tắc luôn phiên lượt lời
- Các phương châm hội thoại
- Thương lượng hội thoại.
Khóa luận này sẽ nghiên cứu nhiều hơn đến nhóm các phương châm hội
thoại
1.1.2.1. Quy tắc luân phiên lượt lời
Trong hội thoại, khi có hai người thì lời của người này kế tiếp lời của người
kia. Mỗi lần người này hay người kia (SP1 hay SP2) nói là một lượt lời. Quy tắc
này đòi hỏi mỗi người phải ý thức được về quyền được nói của mọi người tham
gia cuộc thoại, phải giảm tối đa sự trùng chập với lời nói của người khác.
Khoảng im lặng giữa hai lượt lời là không quá lớn.
Dấu hiệu báo hết lượt lời trong tiếng Việt thông thường là các từ: à, ư, vậy…
Tuy nhiên, nguyên tắc và phương châm của Grice như chính tác giả thừa
nhận có nhiều điểm hạn chế là chưa đề cập đến nội dung liên cá nhân của diễn
ngôn các phương châm nhiều khi còn chồng chéo. Ví dụ: Phương châm về
lượng: "Đừng làm cho lượng tin của anh lớn hơn nhu cầu nó được đòi hỏi” có
phần trùng với phương châm quan yếu, bởi lớn hơn yêu cầu là không quan yếu.
Hay là, vế thứ ba của phương châm cách thức là hãy nói ngắn gọn cũng trùng
với phương châm quan yếu và phương châm về lượng.
Nhìn ở một khía cạnh khác, các phương châm của Grice cũng có tác dụng
giải thích được nhiều cuộc thoại khi người ta nói với nhau một cách hàm ẩn và
- 8 -
các phương châm này sẽ giải thích được nghĩa hàm ẩn của cuộc thoại. Đây là
một trong những vấn đề mà khóa luận đặc biệt quan tâm. Vận dụng lí thuyết
nguyên tắc hội thoại của Grice để thấy được những biện pháp gây cười trong
một số truyện cười dân gian Việt Nam.
b. Phép lịch sự (Politeness, politesse)
Muốn hội thoại thành công, bên cạnh nguyên tắc cộng tác không thể bỏ qua
nguyên tắc lịch sự. Nữ Giáo sư người Pháp C.K.Orechioni định nghĩa: “Khái
niệm lịch sự bao trùm tất cả phương diện của diễn ngôn bị chi phối bởi các quy
tắc có chức năng giữ gìn tính chất hài hòa của quan hệ liên cá nhân”.
Chúng ta biết rằng quan hệ liên cá nhân có 2 lĩnh vực. Thứ nhất là lĩnh vực
của quan hệ dọc và quan hệ ngang gồm những yếu tố ít nhiều cố định, hình
thành do tập tục ít nhiều có tính chất cố định của xã hội. Thứ hai là lĩnh vực của
những quan hệ liên cá nhân hình thành ngay trong cuộc hội thoại, có thể nó mất
đi khi cuộc hội thoại chấm dứt, có khi để lại những dấu vết và những dấu vết này
tích lũy lại qua năm tháng giao tiếp để rồi đi vào lĩnh vực thứ nhất, ứng với 2 lĩnh
vực đó là quan hệ liên cá nhân ta có phương diện lịch sự. Lịch sự quy ước của xã
hội (lịch sự quy ước, lịch sự chuẩn mực) và lịch sự trong giao tiếp (lịch sự chiến
lược).
b1. Lịch sự quy ước (lịch sự chuẩn mực)
Đặc tính của lịch sự quy ước là có những phương tiện ít nhiều bắt buộc
c. Thương lượng hội thoại
Trong một cuộc hội thoại, các nhân vật giao tiếp dần dần thương lượng với
nhau, điều chỉnh nhau về hình thức và nội dung hội thoại. Nếu không có những
thương lượng như vậy hội thoại sẽ phân tán và không tiếp diễn được.
Đối tượng thương lượng là hình thức hội thoại và nội dung, cấu trúc hội
thoại,…
Cách thức thương lượng có thể thương lượng ngay từ đầu và cũng có thể
thương lượng trong quá trình hội thoại; có thể thương lượng trực tiếp, có thể
thương lượng theo một kiểu ngầm ẩn.
1.1.3. Hành động nói
- 10 -
Nói năng là hành động bằng phương tiện ngôn ngữ. Các hành động được
thực hiện bằng phương thức phát ngôn được gọi chung là hành động nói: Hành
động được thực hiện bằng cách tạo ra một phát ngôn có ba hành động liên quan
nhau: Hành động tạo ngôn, hành động ngôn trung, hành động dụng ngôn. Dụng
học ngày nay chủ yếu tập trung nghiên cứu hành động ngôn trung.
1.1.3.1. Đích ngôn trung
Hành động ngôn trung là hành động mà người nói thực hiện ngay khi nói
năng, ngay trong phát ngôn của mình. Các hành động ngôn trung có tính quy
ước mà quy tắc vận hành của chúng được mọi người trong cộng đồng chấp nhận
và tuân theo. Hành động ngôn trung có lực ngôn trung còn gọi là đích ngôn
trung hay chủ đích ngôn trung chính là đối tượng nghiên cứu của dụng học.
Thuật ngữ “hành động nói” nhìn chung được giải thích rất hẹp, chỉ có nghĩa
là lực ngôn trung của một phát ngôn.
Bất kì một phát ngôn nào cũng gồm hai phần chính là nội dung mệnh đề và
lực ngôn trung. Nội dung mệnh đề là sản phẩm của hành động tạo ngôn. Lực
ngôn trung là hiệu quả cần đạt đến của hành động ngôn trung. Theo Searle công
thức của một phát ngôn là: F(p) (p là nội dung mệnh đề, F là lực ngôn trung).
Ví dụ (1):
a. Tôi sẽ gặp lại anh (chị) sau. (=A)
nhiệm hai bên cùng thực hiện.
Ví dụ, muốn thực hiện hành động xin với nội dung mệnh đề C nào đó (Sp2
phải thực hiện). Điều kiện chung là hai người phải nói một thứ tiếng. Điều kiện
chuẩn bị là những hiểu biết về Sp2 (có khả năng thực hiện hành động C nếu
không xin). Điều kiện chân thành là thực sự mong muốn Sp2 thực hiện C. Điều
kiện căn bản là phát ra câu xin. Chẳng hạn: "Cho tớ quyển vở nhé".
1.1.3.3. Các cách thực hiện hành động nói
Cùng một phát ngôn, tùy vào ngữ cảnh người tiếp nhận xác định lực ngôn
trung nhờ vào suy ý hoặc không cần suy ý. Có hai cách để thực hiện hành động
nói là sử dụng câu ngôn hành (câu mệnh đề) hiển ngôn và sử dụng câu ngôn
hành hàm ẩn (đôi khi cũng gọi là câu ngôn hành nguyên cấp). Câu ngôn hành
- 12 -
hiển ngôn là câu ngôn hành chứa các động từ ngôn hành (động từ biểu hiện các
hành động ngôn trung).
Ví dụ (3):
Tôi (nay) Vp (với) anh (rằng) U
(Vp là kí hiệu ghi động từ ngôn hành, U là kí hiệu ghi phát ngôn –
UTTERANCE)
Theo (3) Vp muốn thực hiện được chức năng ngôn trung khi đáp ứng được
các điều kiện sau:
- Chủ ngữ phải là ngôi thứ nhất số ít
- Vp ở thời hiện tại
- Không có các từ tình thái đi kèm.
Ví dụ (4):
a. Dọn cái đống lộn xộn này đi.
b. Tôi (nay) ra lệnh cho anh rằng anh dọn cái đống lộn xộn này đi.
Trong (4) thì (4b) là câu ngôn hành hiển ngôn, (4a) là câu ngôn hành hàm
ẩn. Theo đó câu ngôn hành hàm ẩn có thể hiểu là câu ngôn hành không chứa các
động từ ngôn hành được sử dụng ở chức năng ngôn trung.
Sử dụng câu ngôn hành hàm ẩn có thể theo lối trực tiếp hoặc gián tiếp.
muốn sử dụng thành công cần có những điều kiện (tạm thời gọi là những nhóm
điều kiện: điều kiện tồn tại và điều kiện thành công).
1.2.1. Nhận diện hàm ý
Trong những cuộc thoại có hàm ý, nhận diện hàm ý có vai trò quan trọng.
Trước hết việc nhận diện đúng có hàm ý hội thoại giúp cho cuộc thoại có thể
- 14 -
Loại hành động nói Hướng khớp ghép
S= người nói
X= tình huống
Tuyên bố
Biểu hiện
Bộc lộ
Điều khiển
Ước kết
Từ làm thay đổi thế giới
Làm cho từ khớp với thế giới
Làm cho từ khớp với thế giới
Làm cho thế giới khớp vào từ
Làm cho thế giới khớp vào từ
S gây ra X
S tin X
S cảm nhận X
S muốn X
S chủ định X
tiếp diễn và người nói thực hiện được ý đồ truyền báo của mình. Cuộc thoại sẽ
đứt quãng khi người nghe không không hiểu hoặc cố tình không hiểu hàm ý
người nói. Theo đó, việc hiểu sai hàm ý trong cuộc thoại cũng sẽ dẫn đến những
kết quả tương tự: nhàm chán, không thành công. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để
người nghe có thể nhận diện đúng hàm ý trong hội thoại khi mà người nói (khi
cần) sẵn sàng chối bỏ trách nhiệm. Có ba khái niệm cần phải làm rõ: ngữ cảnh,
- Nhân vật giao tiếp
+ Vai giao tiếp
+ Quan hệ liên cá nhân
- Hiện thực ngoài diễn ngôn
+ Hiện thực đề tài
+ Hoàn cảnh giao tiếp rộng
+ Hoàn cảnh giao tiếp hẹp
Các nhân tố và nhóm nhân tố đều có thể trở thành cơ sở tạo nên hàm ý
nhưng vai trò có thể khác nhau. Ở đây, chúng tôi đặc biệt chú trọng đến nhóm
nhân vật giao tiếp trong đó có nhóm quan hệ liên nhân. Bởi vì, nó mới là sự chi
phối của tính lịch sự, tế nhị, là sự giữ thể diện cho mình (người nói) và cho
người đối thoại (người nghe), thậm chí giữ uy tín cho cả người (hoặc vấn đề)
đang được đề cập đến phát ngôn hay cuộc thoại. Ngoài ra trong giao tiếp người
Việt có tâm lí không muốn mang tiếng nói xấu, dèm pha hay vu khống người
khác. Họ luôn chú trọng đến nhu cầu thẩm mĩ của người tham gia giao tiếp và ở
những trường hợp đặc biệt cái “hóm” cái “nhộn” còn thể hiện trong ý muốn trêu
chọc, giễu cợt người nghe… Tất cả những cái đó thật sự là những lí do khiến
người ta không thể nói thẳng điều mình muốn nói bằng những từ ngữ chính xác
dùng theo nghĩa đen mà buộc người nghe phải hiểu theo phát ngôn của người
nói thông qua những bước suy luận khá lắt léo. Vấn đề đặt ra là có phải tất cả
những nội dung ngầm ẩn có được từ suy luận của người nghe có phải đều là hàm
ý hay không? Câu trả lời chỉ thỏa đáng khi xác định rõ được sự chi phối của mỗi
nhân tố trên đối với việc tạo lập nội dung ngầm ẩn của phát ngôn, sau đó tìm
- 16 -
những đặc trưng cơ bản của nội dung ngầm ẩn này. Nếu nội dung ngầm ẩn được
tạo ra khi chịu tác động của ngữ cảnh có những đặc trưng của hàm ý thì xác định
nội dung ngầm ẩn này là hàm ý và nhân tố tham gia có vai trò đặc biệt trở thành
lí do, điểm tựa của hàm ý.
1.2.1.2. Khái niệm hàm ý
Trong các công trình nghiên cứu về dụng học, hàm ý thường được quan
hướng tới của bài viết là hàm ý ngữ dụng hay còn gọi là hàm ý hội thoại. Theo
đó thuật ngữ hàm ý được sử dụng và hiểu hẹp là hàm ý hội thoại.
Giao tiếp là trao đổi những hiểu biết, tình cảm, thái độ, ý muốn, yêu cầu
hành động lẫn nhau. Sự trao đổi đó diễn ra trực tiếp bằng những phương tiện
ngôn ngữ được gọi là hội thoại. Nói cách khác hội thoại là hình thức giao tiếp
thường xuyên phổ biến của ngôn ngữ.
Trong hội thoại không phải bất cứ những hình thức, tư tưởng, tình cảm, thái
độ nào của người này muốn truyền đạt đến người kia đều có thể thực hiện được
một cách rõ ràng (tường minh) qua phát ngôn cụ thể. Nhiều khi muốn truyền đạt
thông tin người nói phải căn cứ vào ngữ cảnh, vào tri thức nền, vào mối quan hệ
giữa hai bên đối thoại và nhiều lí do khác nữa để tạo lấy phát ngôn có chứa các
tầng nghĩa khác nhau. Một tầng nghĩa thể hiện trên bề mặt câu chữ gọi là nghĩa
hiển ngôn, một tầng nghĩa khác ngầm ẩn đằng sau câu chữ, sau nghĩa hiển ngôn
gọi là nghĩa hàm ẩn.
Nghĩa hàm ẩn là tầng nghĩa chứa hai tầng nghĩa chính của phát ngôn, ý
nghĩa hàm ẩn có thể chia thành hai loại: tiền giả định và hàm ý, trong đó tiền giả
định được các nhân vật giao tiếp mặc nhiên thừa nhận để dựa vào đó tạo ra các ý
nghĩa tường minh, còn hàm ý là tất cả những nội dung có thể suy ra từ một phát
ngôn cụ thể nào đó; từ ý nghĩa tường minh cùng với tiền giả định của nó. Tuy
nhiên, để có hàm ý thì người nghe phải có khả năng suy luận hợp lí để nhận biết
hàm ý và thừa nhận là có cộng tác. Nếu người nghe không giải đoán được, tức
không hiểu hàm ý thì hàm ý không tồn tại, không có giá trị.
Các hàm ý trong hội thoại của các phát ngôn có giá trị thông tin, dùng để
truyền đạt thông tin, là một bộ phận của cái được thông báo. Cái quan trọng là
- 18 -
không được nói ra, cho nên người nói có thể chối bỏ là họ không thông báo
những ý nghĩ như vậy. Các hàm ý hội thoại là có thể chối bỏ. Như vậy, ngoài
những lí do như phân tích ở trên, người nói còn tính đến khả năng chối bỏ, phủ
nhận trách nhiệm đối với loại ý nghĩa ngầm ẩn được tạo ra. Loại ý nghĩa ngầm
ẩn này tồn tại và gắn với ngữ cảnh nhất định. Nếu thay đổi ngữ cảnh giao tiếp
Vậy, hàm ý hội thoại là ý nghĩa ngầm ẩn thể hiện trong phát ngôn gắn với
ngữ cảnh giao tiếp cụ thể được người nghe tiếp nhận thông qua suy luận đúng
như chủ đích người nói.
1.2.1.3. Phân biệt hàm ý và tiền giả định
Hàm ý và tiền giả định đều là nghĩa ngầm ẩn bởi chúng đều không được nói
ra một cách tường minh. Tuy nhiên, giữa hàm ý và tiền giả định có những khác
nhau cơ bản như sau:
a. Tiền giả định được các nhân vật giao tiếp mặc nhiên thừa nhận, để dựa
vào đó tạo ra các ý nghĩa tường minh. Hàm ý được suy ra từ ý nghĩa tường minh
và tiền giả định của phát ngôn.
Ví dụ (3):
TGĐ: Anh Hùng trước đây uống rượu rồi.
Hiểu biết này (tiền giả định) được xem là không còn bàn cãi gì nữa. Nhờ có
tiền giả định mà người nói (A) mới có thể nói Anh Hùng đã bỏ rượu rồi.
Nếu phát ngôn trên tồn tại trong hoàn cảnh: Người nghe (giả sử là B) cũng
uống rượu như A thì căn cứ vào tiền giả định, căn cứ vào hiển ngôn và hoàn
cảnh tồn tại này của phát ngôn, B có thể suy ý để hiểu rằng A muốn nhắc B
đừng mời rượu anh Hùng nữa.
b. Tiền giả định ít lệ thuộc vào ngữ cảnh còn hàm ý lệ thuộc sâu sắc vào
ngữ cảnh.
Dù tồn tại trong ngữ cảnh nào, phát ngôn Anh Hùng đã bỏ rượu rồi vẫn có
tiền giả định làm cơ sở. Nội dung của tiền giả định này không thay đổi theo ngữ
cảnh tồn tại của phát ngôn. Ngược lại, nếu phát ngôn trên tồn tại trong ngữ cảnh:
Người nghe (B) là chồng của (A) thì phát ngôn của A không còn là hàm ý đừng
mời rượu anh Hùng mà là khuyên anh cũng nên bỏ rượu đi.
- 20 -
c. Tiền giả định có các yếu tố ngôn ngữ trong phát ngôn đánh dấu nó; hàm
ý không nhất thiết được đánh dấu bằng các yếu tố ngôn ngữ.
Trong ví dụ (3) phát ngôn có tiền giả định “Trước đây anh Hùng uống
rượu”, tiền giả định này được đánh dấu bằng từ “đã”. Nhưng hàm ý “Đừng mời
trước đây anh Hùng uống rượu. Tuy nhiên, chúng ta hoàn toàn có thể nói: Anh
Hùng đã bỏ rượu rồi đừng mời anh ấy nữa hoặc anh Hùng đã bỏ rượu rồi anh
cũng nên bỏ rượu đi.
Như vậy, tường minh hóa hàm ý trong cùng một phát ngôn do một người
nói ra sẽ là bình thường, nhưng không thể tiếp tục tường minh hóa tiếp tiền giả
định được trong phát ngôn trên.
Tóm lại, hàm ý hội thoại xuất hiện trong các cuộc thoại thường có lí do và
phụ thuộc vào những điều kiện nhất định. Việc dùng hàm ý gắn chặt với khả
năng nhận diện hàm ý của các đối ngôn. Hiểu đúng hàm ý cuộc thoại sẽ giúp
cho quá trình giao tiếp diễn ra bình thường và đạt hiệu quả.
Nhận diện hàm ý là bước đầu tiên của hoạt động phân tích hàm ý hội thoại
trong văn bước đầu tiên của hoạt động phân tích hàm ý hội thoại trong văn bản.
Người thực hiện chỉ có thể đạt được kết quả tốt khi tìm ra đúng ý đồ của người
nói (thông qua hàm ý) và khả năng suy ý của người nghe. Nói cách khác phải
tìm cho được sự hợp tác ngầm (có thể có) giữa những người tham gia giao tiếp
thông qua cách hiểu thống nhất những thuật ngữ nói trên.
1.2.2. Phân tích hàm ý
1.2.2.1. Hàm ý hội thoại liên quan đến phương châm về lượng
Phương châm về lượng yêu cầu phần đóng góp lượng tin của người nói
phải theo yêu cầu cần và đủ xét theo mục đích của cuộc thoại mà không cung
cấp lượng tin nhiều hơn.
Trong truyện cười dân gian Việt Nam, do mục đích tạo ra hàm ý, nên
phương châm về lượng thường không được tuân thủ. Sự cố ý vi phạm không
tuân thủ phương châm về lượng này có thể diễn ra theo hai hướng:
Một là, người nói cố ý cung cấp lượng tin ít hơn mức cần thiết (chưa đủ
mức như “nó được đòi hỏi”, chi tiết 1 trong phương châm về lượng).
- 22 -
Hai là, người nói cố ý cung cấp lượng tin nhiều hơn mức cần thiết (chi tiết
2 trong phương châm về lượng).
Ví dụ: