Hiểu ngôn và hàm ngôn trong truyện cười dân gian việt nam - Pdf 31

Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Thanh Bình

MụC LụC
Mục Lục ............................................................................................................ 1
Mở Đầu ............................................................................................................. 2
1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................... 2
2. Lịch sử vấn đề .......................................................................................... 3
3. Mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ của đề tài................................................. 5
4. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................. 5
5. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................ 5
nội DUNG ...................................................................................................... 7
CHƯƠNG 1: CƠ Sở Lý LUậN....................................................................... 7
1. Khái quát truyện cười dân gian Việt Nam ............................................ 7
2. Câu và các thành phần nghĩa của câu tiếng Việt ................................. 8
2.1 Ba bình diện nghiên cứu câu ............................................................... 8
2.2. Quan niệm về câu ............................................................................... 9
2.3. Phân loại câu .................................................................................... 11
2.4 Các thành phần nghĩa của câu tiếng Việt .......................................... 14
CHƯƠNG 2: HIểN NGÔN, HàM NGÔN TRONG TRUYệN CƯờI DÂN
GIAN VIệT NAM........................................................................................... 21
1. Hiển ngôn và hàm ngôn trong văn bản văn chương. ......................... 21
1.1 Quan niệm về hiển ngôn, hàm ngôn trong văn chương..................... 21
1.2 Phân tích hiển ngôn và hàm ngôn trong văn chương. ....................... 22
2. Hiển ngôn, hàm ngôn trong truyện cười dân gian Việt Nam ............ 24
2.1 Hiển ngôn, hàm ngôn trong truyện cười về người nông dân ............. 24
2.2 Hiển ngôn, hàm ngôn trong truyện cười về tầng lớp trí thức. ........... 32
2.3 Hiển ngôn, hàm ngôn trong truyện cười về tầng lớp tiểu thương ..... 34
2.4 Hiển ngôn, hàm ngôn trong truyện cười về tầng lớp quan lại cường
hào. .......................................................................................................... 35

thuộc lý thuyết giao tiếp, dụng học, ngôn ngữ học văn bản, lôgic - ngữ nghĩa
học. Sức hấp dẫn của vấn đề là ở sự cân nhắc của người viết, người nói: lựa
chọn cách nói nào và còn ở sự cố gắng của người đọc, người nghe để hiểu cho
trúng cái ý của người nói.
Trong việc biên soạn sách giáo khoa phổ thông, hiển ngôn và hàm ngôn
là những nội dung quan trọng trong phần Nghĩa của câu- một trong bốn
chương lớn của Tiếng Việt 11. Trong chương trình Ngữ Văn, hiển ngôn và
hàm ngôn vẫn là một vấn đề được quan tâm . Đó là căn cứ quan trọng để hiểu
thấu đáo tác phẩm văn chương, đặc biệt với truyện cười dân gian Việt Nam.
Là một giáo viên Ngữ Văn trong tương lai, tôi nhận thấy việc nghiên
cứu hiển ngôn và hàm ngôn trong truyện cười dân gian là một việc làm thiết
yếu, có ý nghĩa sâu sắc.
2


Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Thanh Bình

2. Lịch sử vấn đề
Người đặt vấn đề ý nghĩa hàm ẩn sớm nhất là nhà ngôn ngữ học người
Anh Grice.
ở Việt Nam, từ những năm 70, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã hướng
sự quan tâm tới vấn đề này.
2.1. Đái Xuân Ninh khi bàn về nghĩa của câu đã nói tới cách sử dụng
câu hỏi với các từ làm điểm nhấn để hỏi, trong đó, ông có nói tới trường hợp
câu hỏi với những dụng ý khác. Theo ông, Trong lời nói, có những câu hỏi
thực sự yêu cầu người nghe phải trả lời, ngược lại, có những câu hỏi có dụng
ý phủ định hay khẳng định, cầu khiến hay chỉ có tác dụng bày tỏ cảm xúc (Tr
155)(1) .

2.5 Tác giả Nguyễn Đức Dân đã nghiên cứu các kiểu nghĩa của phát
ngôn (Tr 191).ở đó, tác giả đi sâu vào tìm hiểu hiển ngôn, hàm ngôn, tiền giả
định, hàm ngôn hàm ý ngôn ngữ(2).
2.6 Đỗ Hữu Châu đã gián tiếp bàn đến hàm ngôn khi phân tích sự
chuyển hoá các chức năng trong văn bản. Theo tác giả:Trong lời nói sinh
động hàng ngày, tùy theo những nhu cầu diễn đạt khác nhau, do tác động của
nhân tố giao tiếp mà có sự chuyển hóa chức năng giữa các đơn vị ngôn ngữ
(Tr 100)(3).
2.7 Đỗ Hữu Châu đã dành một chương để nói về ý nghĩa tường minh và
ý nghĩa hàm ẩn (Tr 359)(4).ở đây, ông đưa ra một nguyên lý nói năng, chúng
ta truyền bá nhiều hơn là điều chúng ta nói. Các chương khác: Chiếu vật và
chỉ xuất, Hành vi ngôn ngữ, Lý thuyết lập luận, Lý thuyết hội thoại đều
hướng tới làm rõ ý nghĩa tường minh và ý nghĩa hàm ẩn.
2.8 Tác giả Đinh Trọng Lạc cũng bàn đến hàm ngôn: Sử dụng lối nói
gợi hàm ngôn, từ ngữ dùng ít mà buộc người nghe phải hình dung, liên tưởng,
suy luận rất nhiều mới thấy được cái hay, cái tài của người dùng ngôn ngữ
(Tr 188)(5). Ngoài ra, tác giả còn nói đến nghĩa hàm ngôn ở những kiểu câu
chuyển đổi tình thái như dùng câu hỏi để bộc lộ cảm xúc, hỏi để khẳng định,
hỏi để phủ định, hỏi để gợi ý hay dạng câu khẳng định nghi vấn (Tr 229 232).

(1) Ngữ dụng học - Tập 1- Nguyễn Đức Dân NXBGD, 1998.
(2) Lôgic và tiếng Việt- Nguyễn Đức Dân NXBGD, 1998.
(3) Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt - Đỗ Hữu Châu NXBGD, 1999.
(4) Đại cương ngôn ngữ học - Đỗ Hữu Châu NXBGD, 2001.
(5) Phong cách tiếng Việt Đinh Trọng Lạc NXBGD, 2000.

4


Khoá luận tốt nghiệp

5


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

Ph¹m ThÞ Thanh B×nh

Ph­¬ng ph¸p ph©n tÝch ng«n ng÷.
Ph­¬ng ph¸p lËp luËn: diÔn dÞch, quy n¹p, tæng ph©n hîp.

6


Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Thanh Bình

NộI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ Sở Lý LUậN
1. Khái quát truyện cười dân gian Việt Nam
1.1 Khái niệm
Tiếu lâm, theo nghĩa chữ Hán là rừng cười. Đó là một thể loại truyện
kể dân gian, một trong những hình thức tiêu biểu của văn hoá tiếng cười dân
gian, bao gồm những loại truyện kể khác nhau về tính chất của đối tượng mô
tả và tính chất của sự gây cười.
1.2 Phân loại
Giới nghiên cứu phân biệt trong tiếu lâm có hai loại: truyện khôi hài và
truyện trào phúng. ở loại truyện khôi hài, việc trình bày những hiện tượng trái
tự nhiên gây ra phản ứng của tư duy lôgic ở người tiếp nhận, làm bật ra tiếng
cười như một hiệu ứng sinh lý thông thường. Ví dụ các truyện: Cháy, Ba

là những nhân vật bợm nghịch. Họ là những người xuất thân tầm thường đã
dùng mưu mẹo dân gian để lừa gạt và bêu xấu các đại diện của bộ máy thống
trị.
2. Câu và các thành phần nghĩa của câu tiếng Việt
2.1 Ba bình diện nghiên cứu câu
2.1.1. Kết học (Bình diện cú học)
Bình diện kết học là bình diện của mối quan hệ giữa các tín hiệu ngôn
ngữ trong một phát ngôn, là mối quan hệ giữa các từ ở trong câu, quan hệ
giữa chủ ngữ và vị ngữ, giữa các thành phần chính và thành phần phụ, quan hệ
giữa các vế câu.
Ví dụ:

Gà què / ăn quẩn cối xay.
CN

VN

Là một câu văn đúng vì có cấu trúc ngữ pháp đúng và phản ánh một
hiện tượng có thực trong đời sống.
2.1.2. Bình diện nghĩa học
Nghĩa học là bộ môn nghiên cứu về ý nghĩa của từ, câu, văn bản. Khi
nghiên cứu về ý nghĩa của câu thì cần tập trung xem xét nghĩa miêu tả và
nghĩa tình thái.
Ví dụ: Lan học giỏi thật đấy.
8


Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Thanh Bình



Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Thanh Bình

Về mặt cấu tạo, trong số các đơn vị thông báo, câu là đơn vị thông báo
nhỏ nhất.
Định nghĩa này còn khẳng định, câu là đơn vị ở bậc ngôn ngữ tức là đơn
vị trừu tượng, chỉ có thể nhận thức được thông qua các biến thể trong lời nói.
Các biến thể này gọi là phát ngôn.
2.2.4 Theo Diệp Quang Ban, câu là đơn vị cấu trúc lớn nhất trong tổ chức ngữ
pháp của một ngôn ngữ. Theo đó, việc nghiên cứu câu chỉ dừng ở đặc trưng
cấu trúc của nó(1).
Những câu dùng trong thực tiễn giao tiếp là một phát ngôn ngắn hay
phát ngôn có độ dài bằng câu chứ không phải câu - cấu trúc.
Việc nghiên cứu ngôn ngữ ngày nay không chỉ dừng lại ở mặt cấu trúc
của ngôn ngữ, đối với câu cũng vậy, tức là cần xem xét câu trong sự hoạt động
gắn với từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể.
2.2.5. Đỗ Hữu Châu viết: Câu là đơn vị cú pháp quen thuộc được xem là lớn
nhất của ngữ pháp tiền dụng học(2).
Vì thế, ngữ pháp học trước dụng học sẽ lấy câu làm đơn vị trung tâm,
đơn vị cơ bản để nghiên cứu.
câu được quan niệm có hai mặt trừu tượng và cụ thể.
Về mặt trừu tượng: nó là mô thức hay mô hình kết học do những đơn vị
trừu tượng kết hợp với nhau theo những quy tắc chủ yếu là tuyến tính.
Về mặt cụ thể: Các câu trừu tượng sẽ được làm đầy bởi các đơn vị từ
vựng cụ thể.
Về mặt nghĩa: ngữ pháp trước dụng học, người ta chỉ xem xét câu ở
chức năng biểu hiện (phản ánh) miêu tả các sự tình và ít quan tâm tới chức

hoạt động, trạng thái, tính chất, chủng loại của sự vật, hiện tượng.
Ví dụ: Chị ấy rất thông minh.
2.3.2.2. Câu hỏi:
Câu hỏi là loại câu nêu ra điều thắc mắc và yêu cầu được trả lời.
Ví dụ: Bao giờ cậu đi Hà Nội?
2.3.2.3. Câu cầu khiến:

11


Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Thanh Bình

Câu cầu khiến là loại câu thể hiện ý muốn, mệnh lệnh của người
truyền đạt. Mục đích của câu cầu khiến là hướng tới người nghe thực hiện
điều nêu ra trong câu.
Ví dụ: Cậu hãy đóng hộ mình cửa sổ nhé.
2.3.2.4. Câu cảm thán:
Câu cảm thán là loại câu biểu thị cảm xúc. Với loại câu này, ngữ
điệu là một phương tiện biểu hiện rất quan trọng. Ngoài ra, còn có dấu
chấm than và các tiểu từ tình thái: à, ư, nhỉ, nhé
Ví dụ: Trời nóng quá đi thôi!
2.3.3. Câu trong hoạt động giao tiếp
2.3.3.1 Cách dùng câu phân theo mục đích nói.
Dùng theo lối trực tiếp.
Là cách dùng câu đúng với mục đích vốn có của nó. Dùng câu kể để
miêu tả hay là để xác nhận, phủ nhận; dùng câu hỏi để nêu ra điều thắc mắc
hoặc dùng câu cầu khiến để đưa ra yêu cầu; dùng câu cảm thán để thể hiện
những thái độ, những cảm xúc khác nhau.

Ví dụ: Mô hình Nếu C-V thì C-V có thể lắp vào đó nhiều câu.
Câu là sự trừu tượng hóa từ nhiều phát ngôn. Đó là một bộ khung ngữ
pháp dùng chung để cấu tạo hàng loạt những phát ngôn mới. Câu chỉ được
hoạt động thực sự dưới dạng phát ngôn.
Phát ngôn là đơn vị thuộc lời nói, không có tính tái sinh để thể hiện một
nội dung mới. Nó là những biến thể lời nói của câu.
Phát ngôn được hiểu là một hành động giao tiếp, một đơn vị thông báo
mà người nghe có thể tiếp nhận được trong điều kiện giao tiếp bằng ngôn ngữ
nhất định.
Phát ngôn chính là cách biểu thị cụ thể trong từng lúc của câu.
Ví dụ, từ mô hình câu nghi vấn có thể tạo ra nhiều phát ngôn nhưng nó chỉ có
ý nghĩa nhất định trong một hoàn cảnh nhất định.
Với mục đích nhắc nhở trật tự.
Đối với học sinh mẫu giáo, cấp 1 có thể phát ngôn:
Trật tự.
13


Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Thanh Bình

Im mồm.
Với học sinh cấp 2, cấp 3 ,cùng mục đích đó lại phải sử dụng phát ngôn
khác:
Đề nghị các em trật tự.
Các em có biết là tôi đang giảng bài không?
2.4 Các thành phần nghĩa của câu tiếng Việt
2.4.1. Nghĩa của phát ngôn xét theo quan hệ hướng ngoại.
Xét theo quan hệ bên ngoài, mỗi phát ngôn đều biểu thị một nội dung

với trăng.
Như vậy, nghĩa biểu thị thông tin của phát ngôn do tổng thể nghĩa của
từ ngữ đặt trong mỗi câu tạo nên. Nghĩa biểu thị tình cảm của phát ngôn do
sắc thái biểu cảm dương tính (đánh giá tốt về đối tượng, có thái độ tốt với
người nghe), âm tính (đánh giá không tốt về đối tượng, không có thiện cảm
đối với người nghe) hay trung hoà của các từ ngữ mang lại.
2.4.2. Nghĩa của phát ngôn xét theo quan hệ hướng nội
2.4.2.1. Nghĩa tường minh.
Khái niệm.
ý nghĩa tường minh (hay ý nghĩa hiển ngôn hoặc có người gọi là ý
nghĩa theo câu chữ của phát ngôn) là nghĩa được xác định căn cứ theo câu chữ
của phát ngôn. ở đây, nghĩa của phát ngôn được xét trong quan hệ trực tiếp
với mẫu câu và từ ngữ.
Vai trò.
Nghĩa tường minh trực tiếp biểu thị thông tin về đối tượng được đề cập
trong phát ngôn.
Ví dụ: Soan còn nhớ như in cái hôm Triều bỏ nhà ra đi hậu phương
(Tô Hoài)
Nghĩa tường minh: kể, khẳng định chủ thể (Soan) đã và đang tiếp tục
(còn) tái hiện trong đầu óc điều có thực xảy ra trong dĩ vãng (nhớ như in) cái
hôm chồng (Triều) bỏ nhà ra vùng kháng chiến.

15


Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Thanh Bình

Nghĩa tường minh không trực tiếp biểu thị thông tin về đối tượng được


Phạm Thị Thanh Bình

Như vậy, cùng với mẫu câu, các phụ từ, các quan hệ từ đơn và sóng
đôi, các động từ chỉ trạng thái hoạt động tiếp thụ cũng có vai trò thể hiện tính
tình thái của phát ngôn . Khi phân tích nghĩa tường minh, cần chú ý khai thác
các loại từ đó để hiểu hết được ý nghĩa tường minh.
2.4.2.2. Nghĩa hàm ẩn (Hàm ẩn không tự nhiên)
Nghĩa hàm ẩn là nghĩa không lộ ngay trên bề mặt câu chữ mà nó được
suy ra từ nghĩa tường minh bởi một căn cứ nào đấy. Căn cứ đó là các tình
huống khác nhau, cách thức sử dụng mẫu câu, từ ngữ và các quy tắc suy nghĩ
hợp lôgic.
Hàm ẩn không tự nhiên là loại nghĩa hàm ẩn nằm trong ý định truyền
báo của người nói và cái ý định đó phải được người nghe nhận biết. Hàm ẩn
không tự nhiên bao gồm tiền giả định và hàm ngôn.
Tiền giả định. (TGĐ)
C. Kerbrat Orecchionni xem TGĐ là những thông tin mặc dù không
được truyền báo một cách tường minh (tức là không cấu thành đối tượng
truyền báo chân chính của thông điệp) nhưng phải tự động diễn đạt bởi tổ
chức hình thức của phát ngôn nằm sẵn trong tổ chức của phát ngôn bất kể
hoàn cảnh phát ngôn như thế nào.
Như vậy, TGĐ là những căn cứ hiểu biết cần thiết đã được các nhân vật
giao tiếp mặc nhiên thừa nhận, dựa vào chúng để người nói tạo ra ý nghĩa
tường minh. TGĐ ít phụ thuộc vào ngữ cảnh giao tiếp.
Ví dụ: Anh ta đang lo đám tang cho bà mẹ vợ khó tính của anh ta.
Các TGĐ:

- Anh ta đã có vợ.
-Anh ta có mẹ vợ.
-Mẹ vợ anh ta khó tính.

Về mặt nguyên tắc: muốn tạo ra ý nghĩa hàm ẩn không tự nhiên, người
nói một mặt phải tôn trọng các quy tắc dụng học và giả định rằng người nghe
cũng biết và tôn trọng chúng. Mặt khác, người nói cố ý vi phạm vào chúng và
giả định rằng người nghe cũng ý thức được chỗ vi phạm đó của mình.
ý nghĩa hàm ẩn không tự nhiên sẽ xuất hiện và được lí giải từ chỗ vi
phạm này.
Vi phạm quy tắc chiếu vật, chỉ xuất.
Ví dụ: Bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương
18


Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Thanh Bình

Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Nghĩa tường minh: Bài thơ miêu tả cái bánh trôi và quá trình làm bánh .
Nghĩa hàm ẩn: Hình ảnh người con gái và thân phận chìm nổi của người con
gái trong xã hội phong kiến.
Sự vi phạm: hình ảnh thân em ứng với nhiều nghĩa: hình ảnh bánh trôi
nước, hình ảnh người phụ nữ.
Vi phạm về quy tắc chi phối hành vi ngôn ngữ.
Sự vi phạm bốn quy tắc chi phối hành vi ngôn ngữ (điều kiện phải có
nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành, điều kiện
căn bản ) sẽ tạo ra hành vi ngôn ngữ gián tiếp.
Ví dụ: Trong giao tiếp của người Việt, nhiều hành vi ngôn ngữ trở thành
công thức (nghi thức) nói năng. Chẳng hạn, hỏi để chào (là những câu hỏi

nghe lĩnh hội ý định của người nói.
Lẽ thường mang theo tính chất cá nhân của từng người trong một hoàn
cảnhgiao tiếp cụ thể. Nó phụ thuộc sâu sắc vào ngữ cảnh.
Ví dụ : Nhà bác còn gạo không ?
Trong trường hợp này, người hỏi không chủ tâm hỏi về sự cònhếtgạo mà hỏi là để vay. Người nghe sẽ hiểu ngay ý của người nói. Bởi
theo lẽ thường, người Việt Nam khi vay một cái gì thường hỏi gián tiếp,
hỏi mà không cần trả lời.
Trên đây là những cơ sở lí luận quan trọng, cần thiết cho việc lí
giải ý nghĩa hiển ngôn và hàm ngôn trong truyện cười dân gian Việt
Nam. Dựa vào những cơ sở lí luận này, người viết có thể đề ra hướng
tiếp cận, khai thác đề tài một cách khoa học và thấu đáo. Đó chính là
chìa khoá mở ra những ẩn số đằng sau tiếng cười dân gian Việt.

20


Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Thanh Bình

CHƯƠNG 2: HIểN NGÔN, HàM NGÔN TRONG TRUYệN CƯờI DÂN
GIAN VIệT NAM
1. Hiển ngôn và hàm ngôn trong văn bản văn chương.
1.1 Quan niệm về hiển ngôn, hàm ngôn trong văn chương.
Xét về mặt ngữ nghĩa, văn bản nghệ thuật (tác phẩm văn chương) là một
trong những kiểu văn bản thường chứa đựng nhiều thành phần nghĩa. Nói một
cách khái quát, có thể bàn đến hai thành phần nghĩa của văn bản nghệ thuật là
hiển ngôn và hàm ngôn.
Nghĩa hiển ngôn của văn bản là nghĩa nhận biết được trực tiếp từ những
từ ngữ nói chung và cách sắp xếp (bố cục) chúng trong văn bản. Thông

minh và những lý do khác ngoài nghĩa tường minh. Như vậy, xác định nghĩa
hàm ẩn trong văn chương không đơn giản chỉ là công việc phân tích thuần tuý
ngữ nghĩa mà còn cần đến những kiến thức ngoài ngữ nghĩa.
1.2 Phân tích hiển ngôn và hàm ngôn trong văn chương.
Với loại câu hỏi miêu tả, tự sự những cái gì; miêu tả, tự sự như thế
nào? là nhằm tìm ra nghĩa hiển ngôn. Loại câu hỏi miêu tả, tự sự như vậy là
có ý gì, biểu thị tình cảm gì? là nhằm tìm ra ý nghĩa hàm ngôn.
Mọi người có thể dễ thống nhất với nhau trong việc xác định nghĩa hiển
ngôn bởi vì nghĩa này được bộc lộ ngay trên mẫu câu và từ ngữ. đối với nghĩa
hàm ngôn của tác phẩm văn chương, căn cứ để suy ra nghĩa hàm ngôn ở đây
không chỉ có ý nghĩa hiển ngôn mà còn có những căn cứ khác ngoài hiển ngôn
như: nhận thức, quan niệm, tư tưởng, tình cảm, vốn sống của người tiếp
nhận
Ví dụ: Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
Đây là lời của chàng trai nói với cô gái vào một đêm trăng thanh.Chàng muốn
hỏi cô gái: tre đã đủ lá, có nên đan sàng hay không.
Tuy nhiên, lời chàng trai ở đây có hàm ý sâu xa hơn. Đó là lời tỏ tình tế
nhị rất có duyên. Tre non đủ lá là điều kiện kết duyên đã tới, đã được chuẩn
bị đầy đủ. Chuyện đan sàng là chuyện kết duyên vợ chồng. Chàng trai muốn
ướm hỏi cô gái làm vợ.
22


Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Thanh Bình

Trong đoạn thơ: Hôm qua còn theo anh
Đi ra đường quốc lộ

Phạm Thị Thanh Bình

2. Hiển ngôn, hàm ngôn trong truyện cười dân gian Việt Nam
Truyện cười dân gian Việt Nam là một tiếng cười đa cung bậc, đa sắc
điệu. Tiếng cười đó như liều thuốc tinh thần hướng con người hoàn thiện đạo
đức, nhân cách, sinh hoạt, giúp con người lạc quan, chiến thắng mọi điều đau
khổ mà con người sinh ra, tồn tại trong cuộc đời phải gánh chịu. Tiếng cười
nâng con người cao hơn trong cuộc sống, cảm thấy cuộc sống có giá trị, quý
báu, hướng về tương lai tốt đẹp, lạc quan ngay cả trong nỗi niềm đau khổ nhất.
Tiếng cười vừa là để giáo dục cho con người, vừa là để tồn tại và phấn đấu đi
lên.
Tiếng cười có thể bật lên ngay khi tiếp xúc với từ ngữ trong văn
bản,tiếng cười có thể xuất phát từ những ý nghĩa sâu xa,từ hàm ngôn của văn
bản.Tuy nhiên,để hiểu thấu đáo và trọn vẹn hàm ngôn của một văn bản lại rất
khó khăn,phức tạp.Với 342 truyện cười trong kho tàng truyện tiếu lâm Việt
Nam, nếu nhận diện tiếng cười xuất phát từ hàm ngôn dựa trên sự vi phạm
các quy tắc dụng học và dựa vào lẽ thường sẽ không tránh khỏi sự trùng lặp.
Bởi vì, trong một truyện cười, ý nghĩa hàm ngôn có thể được tạo ra từ sự vi
phạm nhiều quy tắc dụng học.Do vậy,việc khảo sát, phân tích hiển ngôn và
hàm ngôn nên dựa trên hệ thống nhân vật tồn tại trong tuyển tập.

2.1 Hiển ngôn, hàm ngôn trong truyện cười về người nông
dân.
Nước ta là nước nông nghiệp, nông dân chiếm khoảng 90% dân số.Cho
nên, số lượng truyện tiếu lâm về người nông dân chiếm một tỷ lệ khá lớn.Tác
giả nông dân tự nói về mình, tự kể và nói một cách chân thành các thói hư tật
xấu của mình.
2.1.1 Thói xấu trong ăn uống
Thói ăn vụng
Khóc mẹ chồng là một câu chuyện hài hước về thói ăn vụng.

nhiều quá chị ta sợ ngồi khóc. Mẹ chồng hỏi chuyện, giải thích cho nàng dâu
khi luộc, rau bị ngót đi là lẽ thường. Lần sau, luộc 5 quả trứng chị ta ăn mất 2
quả. Mẹ chồng thắc mắc, chị ta thản nhiên trả lời: Tại nó ngót đi đấy mẹ ạ.
Lời giải thích của người con dâu bộc lộ một sự vô lý, trái với lẽ thường.
Bởi luộc rau có thể ngót đi chứ trứng khi chín vẫn nguyên quả, không có sự
hao hụt. Cô con dâu đã vận dụng lời giải thích của mẹ chồng về việc luộc rau
bị ngót để biện minh cho thói ăn vụng của mình. Đó có thể là sự giải thích
ngốc nghếch nhưng cũng có thể là sự nhanh trí. Người con dâu có thể vin vào
25


Trích đoạn Hiển ngôn và hàm ngôn trong truyện cười hiện đại
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status