GIÁ TRỊ VĂN HOÁ THỰC TIỄN TRONG TRUYỆN CƯỜI DÂN GIAN KHMER NAM BỘ - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Huỳnh Vũ Lam
GIÁ TRỊ VĂN HOÁ THỰC TIỄN
TRONG TRUYỆN CƯỜI DÂN GIAN
KHMER NAM BỘ PHỤ LỤC
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
hướng và chỉ ra những vấn đế có tầm chiến lược giúp tôi vượt qua những khó
khăn trong quá trình thực hiện./.

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, trong đó có tộc người Khmer tồn tại lâu đời ở vùng
Nam Bộ. Trong quá trình giao lưu với người Việt, người Hoa, người Chăm, tộc người Khmer ở
nơi đây một mặt đã thể hiện và lưu giữ những nét đẹp thuộc về bản sắc văn hóa của dân tộc
mình, mặt khác cũng tiếp thu những nét văn hóa của các d
ân tộc anh em cùng cộng cư trong
không gian sinh tồn ở phía Nam của tổ quốc. Do đó, sự giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa dân tộc
Khmer với các dân tộc Việt, Hoa, Chăm, …bộc lộ trên nhiều lĩnh vực văn hóa vật thể lẫn văn
hóa phi vật thể.
Trong đời sống văn hoá của người Khmer Nam Bộ, truyện cười chiếm một vị trí nhất
định. Đồng bào Khmer vốn tin vào duyên nghiệp, cả cuộc đời siêng năng làm lụng nhưng mục
đích cuối cùng là cầu m
ong sự an bình dưới chân đức Phật. Bóng dáng nhà chùa che mát tâm
hồn của mỗi con người từ lúc sinh ra cho đến khi nhắm mắt lìa trần. Do vậy trong đời sống
nông nghiệp còn nhiều khó khăn, vất vả nhưng tinh thần của họ vẫn lạc quan, hướng về cõi cực
lạc. Họ mở rộng lòng mình với mọi người, mọi dân tộc anh em. Tiếng cười dân gian một phần
nào đó giúp họ giải khuây sau những vụ mù
a cực nhọc, mặt khác tiếng cười trong văn hoá dân
gian còn là nơi người Khmer thể hiện tư tưởng, quan niệm sống của mình.
Truyện cười là thể loại tự sự dân gian có tính xã hội và ý nghĩa thực tiễn cao, nó diễn ra
hằng ngày, mang hơi thở của cái thường nhật, khác với không gian thẩm mĩ của thần thoại,
truyền thuyết hay cổ tích vốn là những thể loại có nội dung phản ánh với độ lùi của thời gian rất
xa. Do đó,
truyện cười cũng đồng thời ghi nhận được cả sự biến đổi do quá trình phát triển và
giao lưu văn hóa trong đời sống xã hội.
Văn học dân gian tộc người Khmer vùng Nam Bộ trước đây đã được sưu tầm và nghiên

nghiên cứu Văn học dân gian Khmer Nam Bộ.
Ở miền Bắc, từ sau 1945, chiến tranh xảy ra liên tục, việc sưu tầm gặp rất nhiều khó
khăn. Vì vậy, trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Nguyễn Đổng Chi có trích dẫn ở dạng dị
bản một số truyện của người Khmer để làm cơ sở so sánh cho các truyện của người Việt. Tuy

nhiên phần lớn những tác phẩm đó có nguồn gốc từ truyện của người Khmer ở Campuchia
nhiều hơn là người Khmer Nam Bộ.
Tư liệu về truyện cười dân gian Khmer Nam Bộ trước năm 1975 chủ yếu có được từ
nguồn sách vở của các nhà nghiên cứu người Pháp. Theo tác giả Trường Lưu [48], những tên
tuổi như Barrault, Francois Martine, Louis Malleret, Georges Máspero ... và các tạp chí France-
Asia, Extr
ême-Asia ...đã có nhiều bài báo viết về văn hoá người Khmer. Tuy nhiên các tài liệu
nêu trên thường không phân biệt giữa người Khmer ở Campuchia và ở Nam Bộ. Ông còn viết:
... trong vòng chiếm đóng của Mỹ ở Sài Gòn, một số nhà nghiên cứu - chủ yếu
là Lê Hương - mới có những công trình biên soạn về người Khmer ở ĐBSCL, chủ
yếu là thiên về lịch sử (Sử Liệu Phù Nam, Sử Cao Miên, Người Việt gốc Miên ...).
Nhưng lịch sử hình t
hành người Khmer ở ĐBSCL chỉ mới ở dạng suy luận và phỏng
đoán trên cơ sở tư liệu chưa được xử lí một cách nghiêm túc lắm nên các tác giả
thường lúng túng hoặc khiên cưỡng khi lách sâu ngòi bút vào những khía cạnh cần
sâu sắc mới xác định được vấn đề nêu ra [48, tr.8].
Nhận định trên cho thấy một thực tế trong việc sưu tầm
và nghiên cứu văn học dân gian
Khmer Nam Bộ trước năm 1975 chưa chú trọng vào việc nghiên cứu văn học dân gian mà nặng
về văn hóa lịch sử.
Sau khi đất nước thống nhất, công tác sưu tầm và tập hợp các nguồn truyện dân gian mới
thực sự phát triển. Ở Nam Bộ, phần lớn công việc vẫn nhờ vào đội ngũ giảng viên và sinh vi
ên
các trường đại học ở Cần Thơ và thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên qua khảo sát, chúng tôi
nhận thấy văn học dân gian Khmer nói chung và truyện cười nói riêng, chưa được sự chú ý của

trong bài viết Một vài thể loại văn học dân gian đồng bằng Sông Cửu Long đã có nhận xét:
Truyện cười không chỉ hấp dẫn đối với bà con Khmer mà bao giờ nó cũng tạo
niềm
thích thú kéo dài và thường xuyên đối với người nông dân của mọi dân tộc trên
trái đất. Truyện cười của người Khmer gây được tiếng cười hóm hỉnh, sảng khoái, khi
thì châm biếm thói hư tật xấu ở đời, khi thì nhằm đả kích bọn quan lại, nhà giàu về
thói đạo đức giả. Truyện cười Khmer là một trong những thể loại truyện phong phú
nhất; nhưng tập trung, tiêu biểu về hàng loạt truyện móc xích nhau của một nhân vật
như Thnênh Cheay (tương tự nhân vật Trạng Quỳnh của người Việt). Bằng sự thông
m
inh, hóm hỉnh, Thnênh Cheay làm cho bọn quan lại, nhà giàu đau đầu và đem đến
cho dân chúng những nụ cười thoải mái. Ngoài ra, còn có truyện về nhân vật A Lev
(tương tự nhân vật Cuội của người Việt) cũng thuộc loại này. Truyện cười đã phản
ánh được cuộc đấu tranh một cách mạnh mẽ và cũng biểu hiện được trí thông m
inh
và óc tưởng tượng phong phú của nhân dân. [88, tr.180-181]
Năm 2006, trong l
uận văn thạc sĩ Khảo sát nguồn truyện dân gian Khmer Nam Bộ [77],
tác giả đã giành một phần để nói về truyện cười,
nhưng chỉ dừng lại ở những khái niệm và phân
loại mà chưa nêu được đặc điểm thi pháp thể loại. Gần đây nhất, năm 2007, tác giả Phạm Tiết
Khánh đã bước đầu phân loại và có sự đánh giá sơ bộ về giá trị của các thể loại văn học dân
gian của người Khmer ở Nam Bộ, trong đó có truyện cười. Trong một bài viết, ông cho rằng:
Bộ phận đặc biệt nhất trong dòng tự sự dân gian của người Kh
mer Nam Bộ là
mảng truyện cười. Hầu hết truyện cười dân gian Khmer Nam Bộ xoay quanh bộ ba
truyện À Lêu, Thơ Mênh Chây (là truyện thơ mà tên nhân vật chính cũng là tên
truyện) và Chấc Sờ Mốc […]. Ngoài ba chuỗi truyện trên, trong kho tàng truyện khôi
hài của người Khmer Nam Bộ còn có những câu chuyện độc lập, tản mạn nhưng cũng
không kém phần dí dỏm. [39]

Khmer trong khuôn khổ những ngày hội văn hoá dân tộc Khmer Nam Bộ tại thủ đô Hà Nội
năm 2003.
Hướng nghiên cứu thứ ba thường nằm trong các công trình viết về một khía cạnh nào đó
của văn hoá Nam Bộ. Trong đó, các t
ác giả đã tiến hành phân tích vấn đề đó ở tất cả các dân tộc
vùng Nam Bộ hay một địa phương. Chẳng hạn công trình Vấn đề dân tộc ở Đồng bằng Sông
Cửu Long [21] in năm
1991. Hay gần đây, công trình Tín ngưỡng dân gian ở Thành phố Hồ
Chí Minh [85] đã thực hiện theo hướng này. Ở tá
c phẩm này, các tác giả chỉ đi sâu vào vấn đề
tín ngưỡng của các dân tộc trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có người Khmer. Các
công trình có tính chuyên sâu như vậy không trực tiếp liên qua đến đề tài nhưng là một trong
những cơ sở đáng tin cậy để đồi chiếu, tham khảo khi lí giải nội dung của luận văn.
Từ đó có thể nói, qua một số công trình, tác phẩm bàn về văn hóa dân gian tộc người
Khm
er nói chung và thể loại truyện cười dân gian nói chung, vấn đề đã được bóc tách ở hai cấp
độ: Thứ nhất là đặc điểm riêng của tộc người Khmer và quá trình cộng cư đã tạo ra sự giao lưu
trong những sản phẩm văn hóa dân gian, mà văn học dân gian là một phương diện cụ thể. Thứ
hai, công việc sưu tầm và nghiên cứu về văn học dân gian của tộc người Khmer nói chung và
thể loại truyện cười nói riêng bước đầu có nhiều thành tựu nhưng còn thiếu dụng công đầu tư
vào chiều sâu nâng lên thành lí thuyết.
Do đó, một cái nhìn thấu đáo và hệ thống đối với thể loại này là cần thiết. Nhưng qua
n
trọng hơn là việc lý giải cội nguồn tạo nên những giá trị đặc trưng của tộc người Khmer biểu
hiện trong thể loại truyện cười và đặc biệt là tìm hiểu những diễn hoá của nó trong đời sống
hằng ngày của xã hội đương đại, sẽ góp phần làm
sáng tỏ thêm đặc điểm loại hình truyện cười
Khmer. Để làm được việc này đòi hỏi phải có một cái nhìn hệ thống từ những gì đã được công
bố kết hợp với việc khảo sát nguồn truyện dân gian hiện đang tồn tại, đặt trong bối cảnh văn
hoá của dân tộc Khmer. Từ đó mới có thể đúc kết thành những quy luật vận động của một loại

mang đặc điểm của thể loại truyện cười dân gian. Do đó việc khảo sát hình t
hức truyền miệng
trong đời sống hiện tồn lẫn những sáng tác đã được công bố sẽ giúp cho việc thẩm định khoa
học hơn.
Phạm vi của văn hoá được bàn đến trong đề tài này chủ yếu là môi trường văn hoá và
những lĩnh vực hoạt động tin thần của người Khmer Nam Bộ có sự tác động nhất định đến thể
loại truyện cười.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Người Kh
mer có mặt hầu hết ở 20 tỉnh thành phố Nam Bộ nhưng đông nhất là ở 05 tỉnh
thuộc miền Tây Nam Bộ (Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu). Mỗi tỉnh này
đều có trên 5 vạn dân Khmer, nhiều nhất là Sóc Trăng (hơn 400.000 người). Do đó phạm vi
khảo sát thực tế khi sưu tầm, điền dã chúng tôi chỉ giới hạn ở các tỉnh thành Tây Nam Bộ nê
u
trên.
Vì nguồn tư liệu khi nghiên cứu văn học của người Khmer ở Nam Bộ có biên độ rất rộng
và đa dạng, có liên quan đến khối cộng đồng người Khmer nói chung, nên lẽ ra trong mức độ
nào đó luận văn phải so sánh đối chiếu với với nguồn truyện, bối cảnh văn hóa và các lĩnh vực
hoạt động tinh thần của người Khmer bản địa ở Campuchia để tìm những né
t độc đáo riêng của
tộc người này ở Nam Bộ. Tuy nhiên trong phạm vi luận văn thạc sĩ ngành văn học dân gian,
chúng tôi xin chọn những tư liệu văn học dân gian và dân tộc học về người Khmer được viết và
xuất bản bằng tiếng Việt ở Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (là một loại hình văn học dân gian nằm
trong tổng thể văn hóa dân gian có gắn yếu tố tộc người trong một vùng văn hóa nhất định) và
mục đích đạt đến của đề t
ài (làm rõ các giá trị của thể loại dưới góc độ văn hóa), chúng tôi sử
dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp phân tích theo lối tiếp cận hệ thống: Bản thân văn học dân gian là một thực

cần phải chú ý đến một quá trình ngược lại mới đúng. Đó là quá trình các yếu tố dân
gian đã biến dạng như thế nào thành các yếu tố nghệ thuật trong văn học dân gian.
[84, tr.255]
Do đó, chúng t
ôi phải bám sát các phương pháp nghiên cứu văn học để tìm ra những quy
luật tồn tại của thể loại trước rồi mới vận dụng các phương pháp khác để hỗ trợ thêm. Trong
các phương pháp nghiên cứu văn học, chúng tôi có chú ý sử dụng phương pháp so sánh - loại
hình, nghĩa là so sánh đặc điểm thi pháp của thể loại truyện cười dân gian Khmer với đặc điểm
thể loại nói chung để tìm ra những nét tương đồng và dị biệt. Từ cái dị biệt ấy mới vận dụng
các phương pháp bổ trợ lí giải giá trị của thể loại.
Phương pháp khảo sát, điều tra, xã hội học: Đây là phương pháp thường ứng dụng cho
các ngành khoa học xã hội, nghĩa là chú trọng tới những yếu tố thống kê, phân tích các giá trị
dựa trên những tỉ lệ điều tra thực tế. Luận văn này vận dụng phương pháp khảo sát, điều tra ở
mức độ thu thập thông tin, sưu tầm những tư liệu hiện tồn trong đời sống. Phỏng vấn và trao đổi
những thông tin để là
m rõ bối cảnh mà một truyện cười diễn ra. Từ đó làm cơ sở cho việc đánh
giá và hệ thống nguồn tư liệu.
6. Đóng góp mới của luận văn
Về mặt khoa học: luận văn sẽ hệ thống hóa và phân tích đặc điểm của một thể loại văn
học dân gian ở một vùng văn hóa cụ thể nhằm
làm sáng tỏ được những giá trị của thể loại ấy
trong tổng thể hệ thống văn học dân gian Khmer và trong đời sống văn hóa của tộc người
Khmer ở Nam Bộ. Trong đó, điều quan trọng là tìm hiểu những biểu hiện và tác dụng thực tiễn
của truyện cười trong môi trường văn hoá đã sản sinh ra nó.
Về mặt thực tiễn: góp phần bảo tồn và phát huy vốn văn hóa của mỗi dân tộc anh em tiến
đến phát huy nền văn hóa Việt N
am là một mục tiêu lớn của Đảng và nhà nước ta hiện nay, đặc
biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa. Và một hệ quả dễ nhận thấy là có làm rõ được những giá trị
của một loại văn hóa nào đó thì mới có thể hiểu và trân trọng những giá trị mà nền văn hóa đó
tạo ra. Do đó, có làm rõ được giá trị của một thể loại văn học thì mới góp phần là

Tộc người Khmer, hiện nay có dân số là 1.055.174 người, chiếm 8% dân số
trong vùng. Họ chủ yếu sinh sống ở miền Đông Nam Bộ, miền đồng bằng Sông Cửu
Long, xen lẫn người Việt, người Hán, người Chăm… Tộc danh được các tộc người
khác đặt cho là Thổ hay tự gọi là Khơme Krôm (
K. ở thấp), để phân biệt với người
đồng tộc ở bên kia biên giới Việt Nam – Campuchia là Khơme Lơ (K. ở cao) và
Khơme Kandal (K. ở giữa). [78, tr.255-256]
Ngoài ra, người Khmer ở đồng bằng Sông Cửu Long còn được gọi bằng nhiều t
ên khác
như Miên, Việt gốc Miên, Cur, Cul, …Cũng theo kết quả của cuộc tổng điều tra dân số trên,
người Khmer có dân số đứng hàng thứ 5 trên tổng số 54 dân tộc sống trên nước ta. Trong đó tỉ
lệ phân bố dân cư cao nhất là ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long (Sóc Trăng: 338.269, Trà
Vinh: 290.932, Kiên Giang:182.058, An Giang: 78.000, Bạc Liêu: 58.132, Cần Thơ: 35.284, Cà
Mau: 20.822).
Về địa bàn cư trú, t
heo nhiều tài liệu, người Khmer ở đồng bằng Sông Cửu Long cư trú
theo rải rác trên nhiều tỉnh thành và tập trung thành ba cụm chính. Tác giả Đinh Văn Liên trong
bài viết Văn hoá Khmer trong quá trình giao lưu và phát triển ở đồng bằng Sông Cửu Long cho
rằng:
…Người Khmer cư trú rải rác hầu khắp 9 tỉnh đồng bằng nhưng quy tụ vào 3
vùng trọng điểm, mỗi vùng có sắc thái riêng qui định bởi điều kiện thiên nhiên,
truyền thống lịch sử và quá trình cộng cư hoà hợp với các dân tộc anh em Việt, Hoa,
Chăm. Tuy nhiên, sự thống nhất vẫn là yếu tố chủ đạo trong văn hoá của đồng bào
Khmer ở toàn vùng đồng bằng:
1.Vùng Trà Vinh-Trà Cú là một trong những vùng cư trú cổ xưa nhất của
người Khmer ở đồng bằng Sông Cửu Long (…).
2. Vùng ven biển Sóc Trăng – Bạc Liêu là vùng cư trú ven biển của người
Kh
mer, nổi bật lên yếu tố hoà hợp văn hoá – nhân chủng giữa ba dân tộc Việt, Hoa,
Khmer.

theo kênh mương và các con rạch nhỏ; và Cư trú theo trục lộ giao thông. Mỗi hình thức cư trú ít
nhiều cũng có tác động đến các yếu tố kinh tế và văn hóa, làm cho các quan niệm về một số giá

trị cũng khác nhau.
So với người Khmer ở Campuchia, điều kiện sống của người Khmer ở đồng bằng Sông
Cửu Long có những nét khác biệt. Cũng là xã hội nông nghiệp lúa nước nhưng người Khmer
thường tập hợp nhau lại thành những tập thể láng giếng nhỏ, bám sát đất trồng trọt và gọi là
“phum
” và cao hơn phum là “srok” (còn gọi trại ra thành Sóc). Phum srok không hoàn toàn
tương đương với đơn vị hành chính, nên dù có sự thay đổi thể chế chính trị, người Khmer vẫn
giữ được tổ chức xã hội theo kiểu của mình. Điều này không tìm thấy ở Campuchia. Theo giáo
sư Sôm Som Un trong Lịch sử Kampuchea thì
…Ở Kampuchea không có dạng phum như vậy, người ta cất nhà ở rải rác khắp
nơi. Nếu nơi nào có dạng phum như trên, ấy chính là do người Kh
mer gốc từ đồng
bằng Sông Cửu Long lên làm ăn sinh sống và lập ra và dù cho ở đến bao nhiêu đời đi
nữa thì họ vẫn giữ nề nếp tổ chức phum như thế. [88, tr.22]
Do đó, nền văn hoá của người K
hmer sống ở hai quốc gia khác nhau đã có những bước
phát triển khác và cũng từ đó tạo nên sắc thái riêng cho cư dân Khmer sống ở vùng đất mới.
“Đó là một nền văn hoá ít bảo thủ hơn, trình độ dân trí, xã hội, nhân văn tiến triển ở nhiều mức
khác hơn” [88, tr.55]. Người Kh
mer ở Nam Bộ có một tâm lý và cá tính dễ hòa đồng, dân dã,
linh hoạt và gần gũi do nhiều yếu tố tự nhiên lẫn xã hội tác động. “Điều này khác với tính
hướng thượng, tính chặt chẽ, tính đẳng cấp của xã hội Khmer truyền thống ở Campuchia” [57,
tr.717]

Nhiều người cho rằng, khi nói đến văn hoá Khmer tức là nói đến nền văn hoá chịu ảnh
ảnh hưởng sâu đậm của triết lí Phật giáo tiểu thừa. Điều này không sai nhưng rất nhiều công
trình nghiên cứu đã khẳng định rằng: Sự phổ biến của Phật giáo Tiểu thừa trong đời sống tinh

dưới tinh thần Phật giáo đã làm cho đời sống tâm thức của người Khmer Nam Bộ có những nét
độc đáo riêng so với người Việt và người Hoa theo Phật giáo Bắc tông.
Ngoài ra một trong những đặc điểm về văn hoá của người Khmer đáng lưu ý nữa là
khuynh hướng biểu diễn và nghệ thuật tạo hình. Các điệu múa của người Kh
mer rất đa dạng và
phổ biến. Hầu như người Khmer nào cũng biết múa một vài điệu. Về kiến trúc và điêu khắc,
nghệ thuật tạo hình của những nghệ nhân Khmer mang một đặc điểm hoàn toàn độc đáo so với
người Việt và người Hoa, đặc biệt là trong các ngôi chùa.
Nói một cách khái quát, toàn bộ đặc điểm văn hoá của một tộc người không thể tóm lược
trong một vài trang giấy. Nhưng qua một vài đặc điểm văn hoá cũng có thể thấy được nét đặc
trưng cơ bản của tộc người Khmer Nam
Bộ. Những đặc trưng này có tác dụng sâu rộng đến mọi
lĩnh vực của đời sống, trong đó có nền văn học dân gian. Sau đây xin đi vào khảo sát sự ảnh
hưởng của nền văn hoá ấy trong thể loại truyện dân gian nói chung và truyện cười nói riêng.
1.1.2. Ảnh hưởng của văn hóa Khmer trong các loại hình tự sự dân gian và truyện
cười Khmer Nam Bộ.
Trong nhiều công trình nghiên cứu trước đây, vấn đề ảnh hưởng của văn hóa trong loại
hình truyện dân gian Khmer Nam Bộ đã được một số tác giả nhắc đến. Theo tác g
iả Châu Ôn
trong bài viết “Một vài thể loại văn học dân gian Khmer” thì các thể loại văn xuôi của văn học
dân gian Khmer có sự ảnh hưởng rất lớn nét văn hóa đậm chất Phật giáo tiểu thừa và tín
ngưỡng dân gian, từ thể loại “rương Prêng” (cổ tích) và “rương Bŏran” (thần thoại) cho tới
rương “katêlok” (ngụ ngôn). Trong đó, rương Prêng là thể loại bao giờ cũng phong phú về số
lượng và giàu về đề tài nhưng nhìn chung có hai khối lớn: t
ruyện nói về đạo Phật, đạo Bà La
Môn và truyện phản ánh thế sự gắn liền với quá trình sinh sống của tộc người. Có thể nói rằng
“mỗi một biểu tượng ở chùa, mỗi lễ tiết hàng năm của người Khmer đều chứa đựng một sự tích
thần kì có tác động sâu xa đến tinh thần của dân chúng” [88, tr.176]. Sự tích lễ Châul Chhnam
Thmei là câu chuyện gắn liền với chiến thắng của chàng trai trẻ Th
mabal đối với vị thần Maha

truyền
thuyết về tình đoàn kết giữa ba dân tộc Kinh, Khmer, Hoa cùng cộng cư trên vùng đất phía
Nam này.
Sự ảnh hưởng của văn hóa vào trong thể loại truyện dân gian của người Khmer còn thể
hiện ở chỗ: những mô típ, típ truyện quen thuộc của các truyện cổ tích thần kì ở các dân tộc
khác và các nước trong khu vực cũng có mặt trong truyện cổ tích của người Khmer Nam
Bộ
nhưng đã được biến đổi theo tín ngưỡng. Chẳng hạn mô típ “dũng sĩ diệt đại bàng cứu người
đẹp” đã trở thành mô típ “anh hùng diệt chằn cứu người lành” trong truyện Khmer, “một mô típ
chiếm tỉ lệ đáng kể trong truyện dân gian Khmer Nam Bộ”[69, tr.13].
Theo tác giả Huỳnh Ngọc Trảng [48] thì nền văn hoá của n
gười Khmer ở Đồng bằng
Sông Cửu Long, vốn cư trú trên những vùng đất nổi (giồng), đã tạo nên những mô típ về giồng
đất nổi, gò nổi trong truyền thuyết, thần thoại.
Tóm lại, có thể nói sự ảnh hưởng của văn hoá trong các thể loại truyện dân gian Khmer
Nam Bộ thể hiển ở các đặc điểm sau:
1. Nền văn hoá nông nghiệp lúa nước của vùng Nam Bộ vốn có nguồn gốc xa xưa, mang

những đặc điểm văn hoá bản địa vùng Đông Nam Á. Người Khmer Nam Bộ cũng chịu ảnh
hưởng của nét văn hoá này nên một số mô típ, kiểu truyện thần thoại, truyền thuyết và cổ tích
mang đặc điểm giống như của người Việt và một số dân tộc khác trong vùng.
2. Người Khmer vốn có tín ngưỡng dân gian riêng, cộng thêm một phần niềm tin từ Ấn
Độ giáo và đời sống gắn liền với Phật giáo nên trong nhiều thần thoại và truyền thuyết có

những mô típ gắn với yếu tố Phật giáo và tín ngưỡng dân gian.
3. Khi đến vùng Nam Bộ, hoà nhập với môi trường mới, trải qua quá trình cộng cư, quá
trình giao lưu văn hoá, một số truyền thuyết của người Khmer có thêm một số chi tiết gắn liền
với đặc điểm của vùng. Biểu hiện rõ nhất của việc n
ày là các mô típ thần thoại giống nhau giữa
truyện kể của người Việt và người Khmer. Đặc biệt hơn là sự xuất hiện loại truyền thuyết nói

oại: truyện khôi hài, truyện trào phúng và truyện tiếu lâm. Truyện khôi hài có mục
đích mua vui, tiếng cười ở cấp độ sơ đẳng. Truyện trào phúng có mục đích đấu tranh xã hội và
chia thành hai tiểu loại: trào phúng bạn (phê phán trong nội bộ nhân dân, có tính giáo dục) và
trào phúng thù (phê phán có tính giai cấp). Truyện tiếu lâm là truyện trào phúng và khôi hài có
yếu tố tục.
Ngoài ra tác giả còn lí giải cơ chế gây nên tiếng cười trong truyện cười. Theo đó, nguyên
nhân gây nên tiếng cười là những m
âu thuẫn xuất hiện trong đời sống nhưng không phải mâu
thuẫn nào cũng tạo nên truyện cười. Những mâu thuẫn rõ ràng mà tư duy logic có thể nhận thấy
và bác bỏ được không tạo nên tiếng cười (chẳng hạn có người nói 2 cộng 2 bằng 3 là mâu thuẫn
nhưng không đáng cười). Những mâu thuẫn mà tư duy logic không giải thích được cũng không
gây ra tiếng cười, mà chỉ gây sự ngạc nhiên (ví dụ có nhà ảo thuật biến con mèo thành con bồ
câu trước mắt mọi người cũng không tạo nên tiếng cười). Vậy
thì có một loại mâu thuẫn sẽ tạo
nên tiếng cười, đó là đứng trước một hiện tượng mà tư duy logic cảm thấy phân vân không chấp
nhận mà cũng chưa loại trừ được nhưng rồi sau đó phát hiện ra bản chất của hiện tượng, lúc ấy
tiếng cười sẽ bật ra. Và như vậy bản chất của tiếng cười trong truyện cười mang tính lí trí, nó
“bật ra do sức mạnh nội tại trong tâm
trí của chúng ta, tức là sự phản kháng thắng lợi của tư duy
logic đối với những hiện tượng muốn lọt ra khỏi phạm vi giải quyết của nó. Tiếng cười hài
hước thể hiện sự thắng lợi của trí tuệ” [35, tr.366].
Cách lí giải và định nghĩa của Đinh Gia Khánh chú trọng và
o cơ chế tâm lí của tiếng
cười.
Các tác giả Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ [59] không định nghĩa thể
loại truyện cười dân gian m
à chỉ nêu ra những đặc điểm của truyện cười, cơ bản có hai đặc
điểm chính: Thứ nhất, tiếng cười hài hước được bật ra khi khám phá được một mâu thuẫn và là
biểu hiện sự thắng thế về mặt trí tuệ. Thứ hai, mâu thuẫn tạo nên tiếng cười thường là mâu
thuẫn giữa bản chất và hiện tượng, nội dung bên trong và sự biểu hiện bên ngoài. Tác giả quyển

một cách hiểu khá mới mẻ về truyện cười dân gian. Đó là khái niệm ứng xử và đặc điểm của
nghệ thuật ứng xử trong truyện cười logic. Theo đó các tác giả này quan niệm: yếu tố quan
trọng để tạo nên tiếng cười trong cốt truyện của truyện cười chính là vấn đề tư duy logic bị phá

vỡ hay cố tình vi phạm. Giá trị nghệ thuật và tư tưởng của tác phẩm cũng từ chỗ logic của các
sự kiện và hành động các nhân vật trong truyện cười mà ra. Từ đó nảy sinh khái niệm ứng xử
trong truyện cười. Mỗi truyện cười phản ánh một (hoặc nhiều) sự phản ứng của các nhân vật
trước lời nói, hành vi của các nhân vật khác trong một tình huống nào đó. Do đó, ứng xử trở
thành một tính chất quan trọng:

Truyện cười, như tên gọi của nó, là truyện có khả năng gây cười. Cho nên ở
đây nghệ thuật ứng xử không tách rời nghệ thuật gây cười của truyện. Trong truyện,
một cách ứng xử càng bất ngờ, sắc sảo bao nhiêu thì khả năng gây cười càng cao bấy
nhiêu. Ngược lại, một truyện mà nghe xong không ai cười được thì không thể coi là
có nghệ thuật ứng xử. [27, tr.31]
Từ quan niệm trên, tác giả đã phân loại truyện cười thành truyện cười thông thường (là
truyện đư
ợc gây cười bằng các thủ pháp truyền thống: ngôn ngữ, hành động, hoàn cảnh và tính
cách đáng cười) và truyện cười logic (là truyện được gây cười bằng thủ pháp logic: tạo ra cái
hợp logic hoặc phi logic để gây cười).
Có thể nói, đây là một cách tiếp cận vấn đề theo hướng khác với những gì các phương
pháp trước đây đã thực hiện, nghĩa là chọn một cơ sở để tiếp cận và hình thành nên một lý

thuyết khác về thể loại. Tuy nhiên, đối tượng mà các tác giả khảo sát trong quyển sách có cả
truyện cười dân gian lẫn truyện cười hiện đại. Mà truyện cười dân gian tuy có yếu tố logic
nhưng phần lớn vẫn dựa trên cơ sở mâu thuẫn bên ngoài giữa những lời nói, hành động, tính
cách đáng cười. Do đó, việc vận dụng khái niệm truyện cười logic và truyện cười thông thường
phải có sự cân nhắc khi đặt trong hệ thống thể loại và hệ thống các quan niệm ở nước ta hiện
nay. Điều mà chúng ta có thể vận dụng là nghệ thuật ứng xử trong truyện cười phản ánh tư duy
của con người, của một cộng đồng. Nghĩa là chúng ta sẽ tìm thấy đằng sau những tiếng cười là

thể sáng tạo có thể chia thành hai tiểu loại: truyện cười kết chuỗi (cũng còn gọi là
truyện trạng) và truyện cười không kết chuỗi. Tiểu loại thứ hai này cũng có hai bộ
phận: các truyện cười lẻ và truyện cười của các làng cười. Giữa hai bộ phận này có sự
khác biệt về chủ thể sáng tạo. Nếu, ở các truyện cười lẻ, nhân vật sáng tạo, khởi thuỷ
là một cá thể thì truyện cười ở các làng cười điều này hơi khác. Cả cộng đồng làng
làng là một chủ thể sáng tạo và cũng là một cộng đồng lưu truyền sáng tạo của chủ
thể sáng tạo, cả cộng đồng cùng tham gia sáng tạo.[82, tr.50]
Như vậy nhìn tổng thể, truyện cười chia thành hai loại: kết chuỗi (hệ thống) và không kết
chuỗi. Trong loại truyện cười không kết chuỗi có hai tiểu loại nữa là:
khôi hài, trào phúng.
Sở dĩ cách phân chia này được lựa chọn là vì mục đích của đề tài không chỉ là phân lập
các tiểu loại truyện cười về mặt hình thức mà còn tìm hiểu và xác định sức sống của nó trong
môi trường văn hóa. Một số cách phân loại truyền thống t
hiên về tiêu chí nội dung phản ánh đôi
khi phù hợp với truyện cười người Việt nhưng sẽ tỏ ra thiếu hợp lí đối với truyện cười của
người Khmer. Bởi lẽ nếu so sánh về mặt lịch sử nghiên cứu thì truyện cười người Việt được tìm
hiểu sớm hơn, hệ thống thuật ngữ cũng đa dạng hơn. Còn nếu đối ch
iếu về mặt văn hóa thì
truyện cười Khmer năm trong tổng thể văn hóa dân gian Khmer Nam Bộ, có nét dị biệt so với
người Việt nên sự phân loại truyện cười phải lưu ý đến môi trường của nó. Thêm vào đó, trong
phổ truyện cười của người Việt còn có hiện tượng các làng cười, những truyện cười có nguồn
gốc dịch thuật tác phẩm Trung Quốc mà điều này ít gặp ở người Khmer. Cho nên khái niệm v
à
cách phân loại của người Việt sẽ không hoàn toàn trùng khít với truyện cười Khmer.
Bên cạnh đó, một số cách phân tiểu loại trào phúng thành “trào phúng bạn” và “trào
phúng thù” cũng tỏ ra không ăn khớp với nguồn tư liệu truyện cười Khmer. Vì theo các tác giả
phân loại dựa trên quan niệm “bạn” “thù” thì hai khái niệm này được xác định phần lớn được
căn cứ vào tiêu chí giai cấp và đấu tranh giai cấp trong xã hội phong kiến xưa. Tác g
iả Cao Huy
Đỉnh từng cho rằng truyện cười phát triển khi các mối quan hệ giai cấp trong xã hội đã có sự


m lại, các đặc điểm của không gian văn hóa Khmer Nam Bộ là cái “phông”, là nền
tảng để các thể loại tự sự dân gian, trong đó có truyện cười, hình thành và lưu truyền và tồn tại.
Không gian văn hóa ấy đã có những ảnh hưởng nhất định đến đặc điểm thể loại của các loại
hình tự sư dân gian. Qua các công trình nghiên cứu trước đây, thần thoại, truyền thuyết và cổ
tích Khmer Nam Bộ đã được chứng m
inh là có những điểm vượt ra khỏi cấu tạo thể loại.
Đến lượt truyện cười, một thể loại gắn liền với đời sống, gắn liền với cái “suồng sã” đời
thường, có khả năng cập nhật và thay đổi cao thì cơ cấu văn hóa cũng sẽ có khả năng tương tự.
Hay nói cách khác, kết cấu thể loại của truyện cười Kh
mer Nam Bộ sẽ có những thay đổi để
phù hợp với đời sống văn hóa của người Khmer bởi những lí do sau đây:
-Nền văn hóa đậm chất Phật giáo với cách tư duy thiên về triết lí nhà Phật, có khuynh
hướng răn dạy, coi trọng sự tu dưỡng đạo đức đã từng ảnh hưởng trong thần thoại, cổ tích, ngụ
ngôn sẽ có khả năng tác động làm thay đổi đặc điểm truyện cười.
-Tín ngưỡng bản địa cổ xưa, n
hững biểu tượng của Ấn Độ giáo và những giáo lí của đạo
Phật vẫn song song tồn tại, dù mức độ không đồng đều, trong tâm thức của người Khmer nên tư
duy tạo nên tiếng cười có lúc sẽ mang nét khác biệt so với truyện cười của các dân tộc khác ở
Nam Bộ nói chung và người Việt nói riêng, nhất là về sự lựa chọn m
ô típ, kiểu truyện trong
truyện cười.
-Đời sống văn hóa nông nghiệp lúa nước với đặc điểm cư trú đa dạng (trên đất giồng,
theo kênh rạch, trên đồng ruộng, …) và những phong tục, tập quán thể hiện trong những lễ hội
đặc trưng hằng năm sẽ là những yếu tố có giá trị quyết định không nhỏ đến khả năng diễn hóa
của truyện cười Khmer trong môi trường văn hóa và trong các lĩnh vực đời sống tinh thần.
Chương 2: TÌNH HÌNH TƯ LIỆU VÀ VẤN ĐỀ SƯU TẦM, KHẢO CỨU TƯ LIỆU

2.1. Tình hình tư liệu
2.1.1. Những tư liệu đã được công bố

Vì luận văn định hướng khảo sát đời sống đích thực, sự vận động của truyện cười Khmer
nên chúng tôi rất chú tâm vào người kể, đặc điểm không gian sinh hoạt truyện cười. Những tư
liệu có xác nhận người kể gồm Văn học dân gian Bạc Liêu, Văn học dân gi
an Sóc Trăng (xin
gọi là chung là tư liệu của Chu Xuân Diên), Truyện dân gian đồng bằng Sông Cửu Long (xin


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status