skkn giúp học sinh thpt rèn kỹ năng phân tích truyện cười dân gian việt nam - Pdf 19



SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Xuân Thọ

Mã số:…………………………
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GIÚP HỌC SINH THPT RÈN KỸ NĂNG
PHÂN TÍCH TRUYỆN CƯỜI DÂN GIAN
VIỆT NAM

Người thực hiện: NÔNG THỊ DIỄM TRANG
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục 
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn 
- Lĩnh vực khác:……………………………… 
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Truyện cười dân gian Việt Nam ra đời và phát triển cùng với quá trình lao
động sản xuất và đời sống nhân dân. Khi tư duy con người tương đối phát
triển, họ ý thức được tầm quan trọng của truyện cười. Nó không chỉ đem lại
tiếng cười mua vui cho thiên hạ để họ giải tỏa những mệt nhọc, vất vả sau
một ngày lao động tích cực mà truyện cười còn có tác dụng phê phán, châm
biếm, mỉa mai các thói hư tật xấu của con người. Có khi nó được xem như là
một thứ vũ khí sắc bén để đấu tranh chống lại những bất công của tầng lớp
trên. Mà tiếng cười ấy, nó phản ánh sự thông minh, tư duy sâu sắc của người
Việt nói chung và những con người có trí tuệ, khả năng giao tiếp nhanh nhạy
nói riêng. Ở đó đã có sự kết tinh của một quá trình chọn lọc, khái quát và nó
xứng đáng được xem là một tác phẩm hoàn chỉnh, một chỉnh thể thống nhất
và toàn vẹn .
Đề tài “Phân tích truyện cười dân gian Việt Nam” còn khá mới mẻ, hấp
dẫn. Số tác phẩm được học ở trường phổ thông không nhiều. Cho nên tôi
chọn đề tài này với mong muốn đi sâu khai thác một số biện pháp gây cười
cũng như nó sẽ giúp tôi hiểu thêm về truyện cười dân gian Việt Nam - nó là
một yếu tố quan trọng trong thi pháp truyện cười. Đề tài này với hi vọng sẽ
góp phần khơi gợi sự chú ý của độc giả, nhằm tăng số lượng cũng như chất
lượng cho người đọc về thể loại truyện cười.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
1. Cơ sở lý luận:

về truyện cười.
Do hiểu biết còn hạn hẹp, số năm kinh nghiệm còn ít, chắc chắn những suy
nghĩ của người viết còn khá chủ quan và chưa có độ sâu. Rất mong nhận
được sự động viên và đóng góp của quý thầy cô để đề tài có thể hoàn thiện
hơn.
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI:
Hiện nay, đa số học sinh đều không thích học văn bởi nhiều lý do. Chính vì
vậy các em không “tha thiết” gì đối với các tác phẩm văn chương. Đọc một
tác phẩm các em không biết là tác phẩm ấy hay, dở, nói về vấn đề gì… Đôi
lúc người viết cảm thấy xót xa bởi sau khi đọc xong một truyện ngắn, một
truyện cười các em tỉnh bơ trả lời “không biết tác phẩm nói gì?”, “đáng cười
ở chỗ nào?”. Chính vì vậy tôi ấp ủ viết đề tài này với mong muốn góp một
vài suy nghĩ về cách dạy một câu chuyện cười sao cho học sinh dễ hiểu và
thú vị hơn.
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Với đề tài này, tôi hy vọng có thể ứng dụng được trong các bài dạy truyện
cười trong chương trình Ngữ văn lớp 10. Qua bài dạy trên lớp, giáo viên có
thể hướng dẫn các em tự mình phân tích những câu chuyện cười dân gian
tương tự.
V TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bình giảng truyện dân gian - Hoàng Tiến Tựu – Nxb Giáo dục – 1997.
2. Văn học dân gian Việt Nam – Đinh Gia Khánh – Nxb Giáo dục – 2002.

NGƯỜI THỰC HIỆN

- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao 
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp
dụng tại đơn vị có hiệu quả 
3. Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây)
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính
sách:
Tốt  Khá  Đạt 
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực
hiện và dễ đi vào cuộc sống:
Tốt  Khá  Đạt 
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt
hiệu quả trong phạm vi rộng:
Tốt  Khá  Đạt 
Sau khi xét SKKN, phiếu này được đánh dấu X đầy đủ các ô tương ứng, có
ký tên xác nhận và chịu trách nhiệm của người có thẩm quyền, đóng dấu của
đơn vị và đóng kèm vào cuối mỗi bản sáng kiến kinh nghiệm.

XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Ký tên và ghi rõ họ tên) (Ký tên, ghi rõ họ tên và đóng dấu)

VI. NỘI DUNG.
1. Về những đặc trưng của thể loại truyện cười:
a. Hệ đề tài:
- Truyện cười là những truyện kể về những hiện tượng đáng cười trong


+ Những hiện tượng buồn cười do hiểu lầm, do lầm lỡ, hớ hênh,…mà
thường tình, ai cũng có lúc có thể mắc phải, hoặc do những nhược điểm,
những khuyết tật không gây tổn hại cho ai.
b. Chức năng:
- Truyện cười là truyện kể để cười, tức là để gây ra cái cười. Muốn hiểu
được mục đích đó của truyện cười, cần làm rõ hai khái niệm: cái đáng cười
và cái cười.
+ Cái đáng cười là cái gây ra cái cười. Đó là những hiện tượng mang một
loại mâu thuẫn đặc biệt: hình thức bên ngoài có vẻ hợp lẽ tự nhiên nhưng
thực chất bên trong là trái tự nhiên; hình thức bên ngoài có vẻ phù hợp với
nội dung bên trong, nhưng lại để lộ ra sự không phù hợp – tóm lại đó là
những hiện tượng ở đó có một cái gì đó ngược đời.
+ Cái cười là hành động cười, do cái đáng cười gây ra và do trí óc ta phát
hiện ra cái đáng cười. Nhưng có cái đáng cười mà trí óc ta không phát hiện
ra nó, tức là không phát hiện ra cái ngược đời ở hiện tượng thì cũng không
có cái đáng cười. ( Ta có thể nghiệm được điều này khi quan sát trường hợp:
cùng nghe kể chuyện cười hoặc xem một tranh cười, có người cười trước,
người cười sau, và có khi có người “nghĩ mãi” mới cười được)
Cái cười hài hước, cái cười châm biếm là sản phẩm của nhận thức lý tính.
Khi ta cười trước một hiện tượng, một hành vi nào đó mà ta nghe kể, ta thấy,
ta xem, chính là tư duy ta phát hiện ra cái ngược đời mang bề ngoài hợp lệ
đã “đánh lừa” luận lí của nó. Sự phát hiện đó đem lại niềm vui; tựa hồ như
tư duy ta thích thú với sự “khám phá” đó, làm nở ra cái cười trong óc (người
ta có thể cười mà không nhếch mép); cái cười đi từ óc ra môi, miệng thành
tiếng cười với cả trăm cung bậc, sắc thái (tùy theo tính chất, cái đáng cười).
Đồng thời, bản thân sự phát hiện ra cái đáng cười cũng bao hàm một ý nghĩa
phê phán nhất định, theo nghĩa rộng của từ này – phê phán từ quan điểm của
tư duy lôgic, tư duy duy lí và phê phán từ quan điểm của ý thức tư tưởng (ý
nghĩa này chỉ có ở cái cười châm biếm).

tự nó bộc lộ ra một cách cụ thể, sinh động, nực cười để người nghe ( người
đọc) tự mình phát hiện ra nó mà bật cười.
- Vì cái đáng cười là hiện tượng có mâu thuẫn – một loại mâu thuẫn đặc
biệt cho nên truyện cười thường được cấu tạo theo dáng dấp một màn kịch:
+ Giới thiệu hiện tượng có mâu thuẫn tiềm tàng.
+ Mâu thuẫn tiềm tàng phát triển tới điểm đỉnh.
+ Mâu thuẫn bộc lộ (có thể hiểu là mâu thuẫn được giải quyết).
Về nhân vật
Nhân vật trong truyện cổ tích có cả một số phận, một cuộc đời. Trong lược
đồ tổng quát đầy đủ của truyện cổ tích thần kì do V.Ia.Prôp thiết lập, có mặt
7 nhân vật với 31 hành động, mỗi hành động là diễn tiến của một sự kiện.
Nhân vật của truyện cười không có bề dày như thế. Nhân vật truyện cười đơn giản chỉ là hành vi ứng xử của nó trng một hoàn cảnh nhất định và hành
vi ứng xử ấy luôn luôn biểu hiện ở lời nói.
d. Phương thức diễn xướng:
Khác với những thể lọai có chức năng răn dạy trực tiếp như truyện cổ tích,
truyền thuyết,… truyện cười , do đặc tính “gây cười” của nó, thường nảy
sinh và lưu truyền trong những sinh hoạt tự phát, không nghi thức, không “lề
lối”. Xưa kia, không chỉ riêng các nhà đạo đức nghiệt ngã mới coi văn cười
là thứ “văn chương mạt vận” mà các chế độ chuyên chính áp bức ở thời
“mạt vận” của nó cũng đều rất “kị” văn cười. Tuy nhiên, ở những thời ấy,
nếu dân gian đã biết cách “đốt nhọ bôi mồm” cho vai hề để vai này có thể
tung hoành “vô cai quản, bất đắc hành hạ” trên sân khấu Chèo, thì họ cũng
có đủ mọi cách để truyện cười càng nở rộ, tiếng cười càng râm ran khi nghỉ
ngơi, giải trí hoặc lúc “trà dư, tửu hậu”, vì đó là những thời người ta cần
cười hơn bao giờ hết.
2. Về công việc phân tích truyện cười
a. Định hướng phân tích nội dung

thấm đượm chất nhân văn – đó là nhiệt tình thống thiết bảo vệ thể thống
người, niềm mong muốn con người sống tốt hơn, đẹp hơn.
- Phần lớn truyện cười dân gian đã ghi lại được đều thuộc đời cuối Lê – đầu
Nguyễn và thời Nguyễn, kể cả buổi Tây sang. Những truyện cười này hợp
thành một tập chân dung biếm họa: vua không ra vua (Thôi đừng nói nữa mà
tao thèm!, Xin Đại vương đình lại cho một đêm,…); quan lại rặt một phường
tham nhũng, bất tài (Thần bia trả nghĩa, Quan huyện thanh liêm,…); những
người làm thầy thiên hạ thì dốt nát và thiếu nhân cách đến mức thảm hại
(Tam đại con gà, Bốc thuốc theo sách,…); cả những người thuộc tầng lớp
bình dâncũng bị nhiễm những cái xấu thường lan tràn trong thời buổi nhố
nhăng…. Nếu có một cái nhìn bao quát ta có thể nhận thấy một số điều có ý
nghĩa sâu xa hơn nhiều so với bản thân sự phê phán ở từng truyện – đó là tư
tưởng phóng túng, là sự đùa cợt có tính chất báng bổ đối với những giáo
điều và một số giá trị từng được coi là thiêng liêng của hệ tư tưởng phong
kiến, của xã hội phong kiến (như vương quyền và thần quyền). Người giáo
viên phổ thông chỉ dạy một ít truyện lẻ (hiện nay là 2 truyện) nhưng cần nắm
được ý nghĩa chung của cả bức hí họa về một hình thái xã hội đang biến
thành “tấn hài kịch của nó” trên sân khấu lịch sử. Điều này rất có ích cho
việc nhận thức định hướng chung của phân tích truyện cười dân gian.
b. Phân tích tình tiết hướng vào việc nêu bật cái đáng cười
Nghệ thuật gây cười của truyện cười dân gian khá phong phú. Nhưng biện
pháp nghệ thuật quan trọng nhất của thể lọai này là cách cấu tạo truyện.
Trước hết, công việc phân tích phải hướng vào yêu cầu làm rõ cái đáng cười.
Vì cái đáng cười trong truyện cười thường được dàn dựng theo nguyên tắc
“tự phơi bày” để người nghe, người đọc “tự phát hiện” qua một tình tiết gồm 3 chặng (tựa như một màn kịch gồm 3 lớp), cho nên công việc phân tích
cũng thường có thể tiến hành theo 3 phân đoạn của hoàn cảnh:
Phân đoạn đầu:

khát nước, uống nước sông bị ngã, và bạn anh ta kêu cứu với giá 5 quan (
Thà chết còn hơn). - Anh sợ vợ luộc vụng đỗ đen; đỗ chín chưa kịp ăn thì vợ về lại phải ra
đình ngay để lễ thánh, đành trút nồi đỗ đen vào mũ tế đội lên đầu mà đi ( Đổ
mồ hôi mực)
Phân đoạn nút có thể được gọi là tình thế gay cấn. Phân tích tình thế gay cấn
là gợi cho học sinh điểm lại diễn tiến của sự việc từ tình thế mở đầu đến
điểm nút, nhận rõ mâu thuẫn cụ thể ở tình thế gay cấn (ví dụ: anh “áo mới”
vớ phải anh “lợn cưới”, chưa kịp khoe đã bị anh này vừa hỏi vừa khoe,…)
Đến đây, người nghe, người đọc cũng ở vào thế chờ xem đầy kịch tính. (Cần
chú ý rằng: ở những truyện gây ra một tràng cười, cười rền, thì “điểm nút”
dường như cũng di động, tạo thành một chuỗi “điểm nút”, nhưng “điểm nút”
đích thực vẫn ở chỗ kết thúc.
Phân đoạn kết thúc:
Nhân vật bị đặt vào tình thế có mâu thuẫn, “giải quyết” mâu thuẫn ngay ở
“điểm nút” bằng một hành vi, một lời nói bất ngờ làm bộc lộ cái đáng cười:
- Anh “áo mới” vớ phải anh “lợn cưới”, bị 1- 0 (tức là đang lăm le khoe,
lại bị nghe “nó” khoe), lại ở thế phải trả lời, vậy mà “lật lại được thế cờ”,
vẫn trả lời người hỏi nghiêm chỉnh theo dúng phép tắc (dùng kiểu câu có
mệnh đề phụ làm trạng ngữ chỉ thời gian), đồng thời “tranh thủ cung cấp
được thông tin cần thiết”: “Từ lúc tôi mặc cái áo mới này…”(Lợn cưới, áo
mới).
- Thầy đồ xin thổ công, ba đài được cả ba, hí hửng mừng thầm, cho học
sinh gân cổ lên gào “Dủ dỉ là con dù dì”, bị chủ nhà phát hiện, thầy bí quá
“lý sự cùn” bằng cách giải thích: “Dủ dỉ là con dù dì, dù dì là chị con công,
con công là ông con gà!” (Tam đại con gà).
- Thầy lý xử kiện bằng cách úp bàn tay trái lên bàn tay phải – một kiểu ký
hiệu đặc biệt chỉ có những người trong cuộc mới hiểu. Cải đút lót cho thầy ít

khiến ta cười và làm ta vui trong giây lát. Nhưng dối với logic của tư duy,
lỗi logic dù sa vẫn là cái không nên có. Vậy, nếu ta muốn đề cập “ý nghĩa
phê phán” của truyện, thì chỉ nên coi đó là một thứ “phản ứng tự động” tư
duy suy lý. Tất nhiên, cái cười hài hước vẫn có tác dụng giáo dục về nhiều
mặt.
- Khi nói về ý nghĩa nhân sinh, ý nghĩa xã hội của cái cười, người ta thường
nghĩ chủ yếu đến cái cười châm biếm. Cái cười châm biếm cũng phải tìm ra
cái đáng cười ở những hiện tượng, những hành vi trái tự nhiên, ngược đời…
như cái cười hài hước. Những dụng ý phê hán của nó thể hiện rõ ở chỗ nó
luôn luôn tìm cái cười ở những hiện tượng, những hành vi trái tự nhiên,
ngược đời,…nảy sinh từ những thói xấu, những tính cách xấu xa, đặc biệt,
những tính cách xấu xa gắn liền với bản chất của một số tầng lớp xã hội, một
số loại người. do đó cần hướng dẫn để học sinh suy nghĩ đến mục đích, ý
nghĩa phê phán của cái cười châm biếm từ quan điểm đạo đức, quan điểm ý
thức tư tưởng, quan điểm đấu tranh xã hội… VII. KẾT LUẬN:
Nhân dân ngày xưa biết sử dụng tiếng cười như một vũ khí, và với các
truyện cười của mình , đã đánh và đã thắng giai cấp thống trị và những cái
xấu xa trong xã hội. Xét cho cùng xã hội cũ là một tấn bi kịch lớn mà đồng
thời cũng là tấn hài kịch lớn. Xã hội cũ chứa đầy mâu thuẫn. Tác giả dân
gian đã nhìn thấy một cách sâu sắc những mâu thuẫn ấy, những mâu thuẫn
sẽ đưa xã hội ấy đến chỗ diệt vong. Ngày nay, tiếng cười dân gian từ xưa
truyền lại vẫn đầy ắp những giá trị nhân văn cao đẹp. Vì vậy, với đề tài này
tôi hy vọng sẽ góp phần cho bài dạy truyện cười của giáo viên thêm sinh
động, hấp dẫn hơn. MỤC LỤC


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status