SỞ GIÁO DỤC V& ĐÀO TẠO TỈNH GIA LAI
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ PLEIKU
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
GIÚP HỌC SINH TĂNG CƯỜNG
KĨ NĂNG VẬN DỤNG KIẾN THỨC VẬT LÍ VÀO CUỘC SỐNG
QUA CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ LỚP 7- BẬC THCS
NGƯỜI VIẾT: ĐÀO THỊ MỸ HẠNH
TỔ: TOÁN - LÝ
TRƯỜNG THCS TÔN ĐỨC THẮNG
1
NĂM HỌC 2008 - 2009
A/ ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài:
Trong giai đoạn hiện nay, nền giáo dục nước ta đang có những
chuyển biến mạnh mẽ, chúng ta đang đổi mới nội dung, phương pháp ở tất
cả các bậc học, môn học. Đây là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước
quan tâm đến chất lượng giáo dục nước nhà. Chúng ta đã biết trên thế
giới, các nước tiên tiến đã tiến hành đổi mới nội dung và phương pháp
giảng dạy từ nhiều năm. Họ đã ý thức được con người trong thời đại công
nghiệp là con người làm chủ được các kiến thức khoa học, kĩ thuật; biết
tìm tòi, suy nghĩ không ngừng để đáp ứng được các đòi hỏi ngày càng cao
của cuộc sống và nền khoa học đương thời.
Nhận thức sâu sắc được vấn đề này, Bộ GD - ĐT nước ta đã tiến
hành cải cách chương trình nội dung SGK từ lớp 1 bậc tiểu học và lớp 6
bậc THCS. Cùng với việc đổi mới nội dung SGK là một phương pháp
giảng dạy và học tập cũng đổi mới. Chúng ta chuyển từ phương pháp dạy
học cổ điển, lấy người dạy làm trung tâm sang phương pháp mới đó là
lấy người học làm trung tâm. Người dạy đóng vai trò vừa là người điều
khiển vừa là người hướng dẫn các hoạt động nhận thức của học sinh. Ở
phương pháp này học sinh được phát huy tối đa khả năng tư duy độc lập
bằng kiến thức Vật lí.
Từ đó tôi soạn ra hai dạng bài tập.
Dạng thứ nhất : Giải thích các hiện tượng xung quanh bằng kiến
thức Vật lí.
3
Dạng thứ hai: Bài tập tình huống để các em đưa ra các phương án
giải quyết, kể cả các phương án làm thí nghiệm.
3. Đ ối tượng nghiên cứu: Tôi chọn đối tượng nghiên cứu trong đề
tài này là học sinh lớp 7 THCS mà tôi đang giảng dạy.
4. Giả thiết khoa học: Là tìm hiểu và tăng cường kĩ năng vận dụng
kiến thức Vật lí để giải quyết các tình huống thực tế.
5. Nhiệm vụ của đề tài: Sau khi ứng dụng đề tài này vào thực tế
giảng dạy học sinh phát huy tốt kỹ năng , vận dụng kiến thức vật lý đã học
vào cuộc sống.
6. Giới hạn đề tài: Tôi chỉ nghiên cứu các dạng câu hỏi, bài tập với
kiến thức nằm trong chương trình Vật lí lớp 7 THCS và cụ thể ở 3 chương.
Chương I: Quang học.
Chương II: Âm học.
Chương III: Điện học.
7. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp quan sát sư phạm.
- Phương pháp điều tra thực tế.
- Phương pháp trắc nghiệm.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp.
B/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I/ CƠ SỞ LÍ LUẬN:
4
- Như chúng ta đã biết, môn Vật lí nói chung và vật lí 7 nói riêng
chiếm giữ một vị trí rất quan trọng đối với việc phát triển năng lực tư duy,
sáng tạo, hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh. Nó là một môn khoa
thấy người thứ nhất?
2.3: Tại sao các công nhân thợ điện cần phải có các thiết bị cách
điện khi làm việc với lưới điện?
2.4: Tại sao dây dẫn điện trong nhà phải có vỏ bọc cách điện, còn
ngoài trời thì có thể dùng dây trần?
2.5: Tại sao khi áp tai vào tường, ta có thể nghe được tiếng cười nói
ở phòng bên cạnh, còn khi không áp tai vào tường lại không nghe được?
Ngày nay cùng với tri thức khoa học của bộ môn giáo viên phải cho
học sinh thấy rõ kiến thức Vật lí có nhiều ứng dụng rộng rãi trong thực tế.
Muốn làm được điều này thì mỗi giáo viên nói chung, bản thân tôi nói riêng
trong quá trình dạy học kiến thức của từng bài, từng chương phải học hỏi,
tìm tòi, suy nghĩ để đưa ra được một hệ thống câu hỏi có nội dung thực tế
mà được giải quyết dựa trên kiến thức vật lí. Thực tế không phải học sinh
nào cũng định hướng được nhưng dần dần các em sẽ được hoàn thiện.
Điều này có ý nghĩa to lớn với nhiệm vụ học tập trước mắt và trong tương
lai của học sinh.
3. Năng lực của học sinh trong một lớp không hoàn toàn giống nhau.
Vì vậy việc đưa vào các bài tập có nội dung thực tế để các em vận dụng
kiến thức bài học để xử lí là một tất yếu, giúp các em có một nền tảng
vững chắc trong việc vận dụng kiến thức Vật lí vào trong thực tế.
Tóm lại, việc tăng cường đưa bài tập có nội dung thực tế vào mỗi bài
học không những giúp học sinh củng cố lại lí thuyết, hứng thú học
tập mà còn trang bị cho học sinh kĩ năng vận dụng kiến thức Vật lí
vào cuộc sống.Đây cũng là nghuyên lý giáo dục cơ bản mà Đảng ta
đã định hướng “học đi đôi với hành”
6
II/ CƠ SỞ THỰC TẾ:
Như chúng ta đã biết, kiến thức Vật lí trong chương trình sách giáo
khoa hiện nay có nhiều ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống như:
Liên hệ Vật lí với năng lượng:
tàu điện, cần trục, cần cẩu, các đèn tín hiệu
+ Ngoài ra học sinh còn được tìm hiểu lực ma sát, ổ bi và
độ bám của mặt đường.
Liên hệ giữa Vật lí với ngành thông tin liên lạc:
Vật lí có liên quan rất nhiều đến nghành thông tin liên lạc về
vấn đề truyền tin qua các máy phát điện, máy điện thoại, điện
báo
Liên hệ giữa Vật lí với ngành xây dựng:
Kiến thức Vật lí cấp THCS cho phép học sinh làm quen với các
hoạt động của ngành xây dựng:
- Nguyên tắc cấp thoát nước thành phố.
- Cung cấp điện sinh hoạt và sản xuất cho thành phố,
nông thôn.
* Những kiến thức kể trên đều đề cập tới trong sách
giáo trình Vật lí cấp THCS. Tuy nhiên nếu người học chỉ nắm
được kiến thức trọng tâm của bài mà không biết ứng dụng
kiến thức đó vào giải thích những hiện tượng rất gần gũi trong
đời sống thì tính giáo dục của bộ môn sẽ không thực hiên
được. Xuất phát từ mục đích yêu cầu về giáo dục đào tạo là
đào tạo những con người lao động tự chủ và sáng tạo vào tình
hình thực tế hiện nay, việc đổi mơí phương pháp dạy học theo
hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh là yêu cầu
hết sức cần thiết. Muốn làm được điều này, theo tôi mỗi giáo
8
viên chúng ta phải tích lũy được kinh nghiệm hàng ngày cũng
như luôn tìm tòi cho mình một hệ thống câu hỏi hoặc bài tập
có nội dung thực tế được giải quyết dựa trên kiến thức Vật lí
của từng bài. Hệ thống câu hỏi này được giáo viên chọn lựa,
lọc ra để ứng dụng vào từng bài học như thế nào cho phù hợp
để gây hứng thú, kích thich sự học tập tích cực của học sinh. Hệ
mình đã dạy có gì chưa ổn, chưa phát huy được năng lực vận
dụng kiến thức Vật lí vào thực tế của học sinh. Vì thế trong
những năm gần đay tôi mạnh dạn thể nghiệm đề tài này
nhằm giúp học sinh biết vận dụng sáng tạo các kiến thức đã
học để giải quyết tốt các tình huống đã nêu trong sách giáo
khoa cũng như các tình huống trong thực tế cuộc sống.
III/ CÁC GIẢI PHÁP TRONG CÁC CHƯƠNG, BÀI CỤ THỂ:
Trong phần này tôi lần lượt trình bày các kiến thức trọng
tâm, và tôi cũng đưa ra các dạng câu hỏi, các bài tập tình
huống, cùng với gợi ý trả lời các câu hỏi trên để học sinh
có thể tham khảo, qua các chương, bài đã học. Đặc biệt chú
trọng các kiến thức gắn liền với thực tế cuộc sống và sinh
hoạt hàng ngày.Cụ thể:
CHƯƠNG I: QUANG HỌC
Bài 1: NHẬN BIẾT ÁNH SÁNG - NGUỒN SÁNG VÀ VẬT
SÁNG.
Kiến thức trọng tâm:
- Ta nhìn thấy một vật khi có ánh sáng từ vật truyền vào
mắt ta.
- Nguồn sáng là vật tự phát ra ánh sáng.
Câu 1: Tại sao các công nhân quét đường thường mặc
áo có gắn các tấm phản quang?
10
Gợi ý: Công nhân quét đøng làm việc ban đêm. Trên
áo họ gắn các tấm phản quang để có thể hắt lại ánh sáng
từ các phương tiện giao thông chiếu vào.Vì vậy người điều
khiển các phương tiện ấy dễ dàng nhận ra họ, tránh được tai
nạn.
Câu 2: Góc học tập của em nên bố trí ở vò trí nào trong
nhà? Giải thích tại sao em chọn như vậy?
Câu 2: Tại sao trong các lớp học người ta lắp nhiều bóng
đèn cùng loại ở những vò trí khác nhau?
Gợi ý: Việc lắp nhiều bóng đèn trong lớp học đảm bảo
thoả mãn ba yêu cầu:
- Đủ đôï sáng cần thiết.
- Học sinh ngồi không bò loá khi nhìn lên bảng.
- Tránh bóng tối hoặc bóng nữa tối do tay hoặc bóng
người khác tạo ra.
Bài 4: ĐỊNH LUẬT PHẢN XẠ ÁNH SÁNG.
Kiến thức trọng tâm:
- Tia phản xạ nằm trong mặt phẳng chứa tia tới và đường
pháp tuyến.
- Góc phản xạ bằng góc tới.
Câu 1: Tại sao khi có sương mù thì có thể nhìn thấy rõ
luồng sáng của đèn pha?
Gợi ý: Trong sương mù có nhiều hạt nước nhỏ chúng hắt
lại ánh sáng từ ngọn đèn pha tới mắt ta nên ta nhìn thấy rõ
luồng sáng đó.
Câu 2: Một tốp thợ đang đào giếng sâu thiếu ánh sáng,
làm thế nào để chiếu sáng cho lòng giếng?
Gợi ý:
12
- Nếu ban đêm có thể dùng đèn bin hay đèn điện để chiếu
sáng.
- Nếu ban ngày có mặt trời có thể dùng gương phẳng để
phản chiếu ánh sáng xuống lòng giếng (chú ý thường xuyên
thay đổi góc nghiêng của gương để ánh sáng luôn chiếu xuống
lòng giếng).
Bài 5: ẢNH CỦA MỘT VẬT TẠO BỞI GƯƠNG PHẲNG.
Kiến thức trọng tâm:
phương tiện giao thông hoặc đặt tại các đoạn đường quanh co có thể quan
sát được một vùng rộng, giúp tránh các tai nạn giao thông khi điều khiển
các phương tiện trên.
Câu 2: Hãy tìm một số vật dụng trong nhà có thể thay thế gương cầu
lồi để có thể làm thí nghiệm với gương này tại nhà?
Gợi ý: Dùng các vật:
- Gương xe máy
- Muỗng canh inox
- Mảnh ruột phích vỡ
Bài 8: GƯƠNG CẦU LÕM.
Kiến thức trọng tâm:
Gương cầu lõm có tác dụng biến một chùm tia tới song song thành một
chùm tia phản xạ hội tụ vào một điểm và ngược lại biến một chùm tia phân
kì thành một chùm tia phản xạ song song.
Câu 1: Tại sao pha của các đèn chiếu thường là các gương cầu
lõm?
14
Gợi ý: Ánh sáng từ bóng đèn phát ra là chùm tia phân kì khi phản xạ
trên gương cầu lõm sẽ cho chùm tia phản xạ song song theo một hướng
nhất định .Vì vậy đèn chiếu được xa.
Câu 2: Em có một bóng đèn nhỏ ở góc học tập hãy nêu phương án
làm một cái chụp cho bóng đèn và nêu tác dụng của nó?
Gợi ý: Lấy miếng bìa cắt dán tạo thành hình chóp nón phía trong dán
giấy bạc và chụp nó lên trên bóng đèn. Cái chụp có tác dụng phản xạ
chùm sáng phát ra từ ngọn đèn xuống bàn học (như hình vẽ)
CHƯƠNG II: ÂM HỌC
Bài 10: NGUỒN ÂM.
Kiến thức trọng tâm:
Các nguồn âm đều dao động.
Câu 1: Tại sao khi trống đang kêu nếu đè tay lên hai mặt trống thì nó
Gợi ý: Khi bác bảo vệ đánh mạnh dùi trống vào mặt trống. Mặt trống
dao động mạmh, phát ra tiếng to. Ngược lại khi đánh nhẹ mặt trống dao
động yếu nên phát ra tiếng nhỏ.
Câu 2: Bằng kiến thức Vật lý, hãy giải thích câu “ Thùng rỗng kêu to”
Gợi ý: Nếu gõ vào thùng đặc, do cân các vật trong đó nên dao động
yếu âm phát ra nhỏ. Khi thùng rỗng thì dao động mạnh hơn âm phát
ra to. Mặt khác thùng rỗng còn đóng vai trò như hộp đàn làm cho âm phát
ra lớn và sắc thái hơn.
Bài 13: MÔI TRƯỜNG TRUYỀN ÂM .
Kiến thức trọng tâm:
16
- Âm có thể truyền trong chất rắn, chất lỏng, chất khí nhưng không
truyền qua chân không.
- Vận tốc truyền âm trong chất rắn lớn hơn trong chất lỏng, trong chất
lỏng lớn hơn trong chất khí.
Câu 1: Trong thời kỳ chiến tranh chống mỹ, để phát hiện xe tăng địch
từ xa các chiến sỹ ta thường áp tai xuống mặt đất, vì sao?
Gợi ý: Mặt đất truyền âm tốt hơn trong không khí vì vậy việc áp tai
lên mặt đất giúp các chiến sỹ bộ đội phát hiện sự di chuyển của xe tăng
địch một cách nhanh chóng và rõ ràng hơn.
Câu 2: Tại sao khi xem phim, nếu đứng xa màn ảnh ta thường thấy
miệng các diễn viên mấp máy sau đó mới nghe tiếng?
Gợi ý: Aùnh sáng truyền đi với vận tốc rất lớn so với vận tốc âm
thanh truyền trong không khí. Vì thế ta thấy miệng diễn viên mấp máy
trước khi nghe tiếng.
Câu 3: Một học sinh nói, khi nghe tiếng sáo diều bạn có thể biết gió
mạnh hay gió yếu. Bằng kiến thức vật lý đã học, hãy giải thích cho biết
điều bạn ấy nói đúng hay sai?
Gợi ý: Bạn nói đúng vì: Tiếng sáo diều to hay nhỏ là do gió thổi
mạnh hay yếu. Vì thế ở cùng một khoảng cách nếu ta nghe tiếng sáo lớn
Câu 1: Tại sao cánh quạt điện thưòng bám nhiều bụi. Mặc dù khi
quay cánh quạt chém vào không khí rất mạnh?
Gợi ý: Khi quay, cánh quạt cọ xát với không khí, nên bị nhiễm điện.
Vì vậy nó hút các bụi bẩn có trong không khí. Kết quả cánh quạt bị bám
nhiều bụi.
Câu 2: Tại sao các xe ô tô chở xăng thường thả kéo lê một sợi dây
xích nhỏ từ gầm xe xuống mặt đường?
18
Gợi ý: Khi xe chạy sẽ cọ sát với không khí làm cho thân xe bị nhiễm
điện có thể gây ra cháy nổ. Để phòng tránh người ta thả kéo lê một sợi dây
xích nhỏ trên mặt đường. Các điện tích ở thân xe sẽ chuyển xuống mặt
đường thông qua sợi xích.
Câu 3: Vào những ngày hanh khô, không nên lau cửa kính và màn
hình Tivi bằng khăn khô mà chỉ cần dùng chổi lông quét nhẹ, vì sao?
Gợi ý: Khi lau cửa kính màn hình Tivi bằng khăn khô ta vô tình làm
chúng bị nhiểm điện và chúng sẽ hút bụi nhiều hơn.
Bài 18: HAI LOẠI ĐIỆN TÍCH.
Kiến thức trọng tâm:
- Có hai loại điện tích là điện tích dương và điện tích âm.
- Các vật nhiễm điện cùng loại thì đẩy nhau, khác loại thì hút nhau.
- Một vật nhiễm điện âm nếu nhận thêm các electron, nhiễm điện
dương nếu mất bớt các electron.
Câu 1: Tại sao khi chải tóc bằng lược nhựa thì có một số sợi tóc bị
kéo thẳng ra?
Gợi ý: Khi chải tóc, lược và tóc cọ sát với nhau, làm cho cả lược và
tóc đều bị nhiễm điện. Vì chúng nhiễm điện khác loại nên chúng hút nhau.
Kết quả có một số sợi tóc bị kéo thẳng ra.
Câu 2: Một cuốn sách cũ lâu năm, Giấy bị ẩm rất khó lật các trang
sách. Để tách rời trang sách mà không làm giấy rách, ta làm như thế nào?
Gợi ý: Để tách các trang sách đó dễ dàng, người ta cho cuốn sách
20
Pin 2
-
Pin1
+
Câu 1: Tại sao dây dẫn điện trong nhà phải có vỏ bọc cách điện còn
ngoài trời thì có thể dùng dây trần?
Gợi ý: Dây dẫn trong nhà phải có vỏ bọc cách điện để đảm bảo an
toàn cho người. Nếu ta sơ ý chạm tay vào dây vẫn không bị điện giật. Còn
dây ngoài trời ít khi ta tiếp xúc với nó cho nên có thể dùng dây trần.
Câu 2: Giả sử dây điện nhà em bị hở một đoạn vỏ. Hãy nêu phương
án khắc phục?
Gợi ý: Lấy băng dính hoặc bì nilông quấn xung quanh chỗ hở phủ ra
hai đầu từ 1 - 2cm. Sau đó dùng lửa hơ nóng để chỗ nối bền chắc.
Câu 3: Ổ cắm điện nhà em nhiều khi tiếp xúc không tốt với phích
cắm làm cho các dụng cụ dùng điện hay bị ngắt điện giữa chừng, hãy nêu
cách khắc phục?
Gợi ý: Ngắt điện, mởi nắp của ổ cắm điện ra, dùng giấy nhám chà kĩ
các má bằng đồng. Sau đó dùng kìm bóp cho các khe hở giữa các má hẹp
lại để đảm bảo tiếp xúc tốt giữa phích cắm và các má của ổ cắm.
Bài 22: TÁC DỤNG NHIỆT VÀ TÁC DỤNG PHÁT SÁNG CỦA
DÒNG ĐIỆN
Kiến thức trọng tâm:
Dòng điện đi qua mọi vật dẫn đều làm cho vật dẫn nóng lên. Nếu vật
dẫn nóng tới nhiệt độ cao thì phát sáng.
Câu 1: Tại sao khi sử dụng ấm điện để đun nước ta phải đổ nước
ngập dây đun?
Gợi ý: Khi đun nước bằng ấm điện. Nước nhận nhiệt từ dây đun để
nóng lên . Nếu không đổ nước ngập dây thì nước sẽ không nhận được
nhiệt từ dây đun. Mặt khác dây đun sẽ bị cháy có thể gây ra hoả hoạn.
Gợi ý: Trên các dụng cụ điện phải ghi rõ hiệu điện thế sử dụng (hiệu điện
thế định mức ). Nhờ đó ta đặt vào chúng hiệu điện thế có giá trị phù hợp,
để chúng hoạt động tốt, tránh hư hỏng.
22
Hiệu điện thế thường dùng ở một số dụng cụ dùng điện như:
• TiVi: 90V - 250V
• Quạt điện: 220V
• Đèn pin: 3V
• Máy tính bỏ túi: 3V
• Micrô phát sóng: 9V
C/ KẾT QUẢ – BÀI HỌC KINH NGHIỆM
I/ Kết quả đạt đươc:
Sau khi đưa ra một số câu hỏi có nội dung thực tế như trên vào phần
vận dụng hoặc phần củng cố của từng bài học sao cho phù hợp với nội
dung kiến thức của từng bài, tuy mới chỉ một thời gian ngắn song tôi nhận
thấy việc áp dụng kiến thức Vật lí để liên hệ thực tế cũng như để giải thích
các hiện tượng trong thực tế thực sự hỗ trợ đắc lực cho các em trong việc
tiếp thu kiến thức môn vật lí. Năng lực tư duy logic của các em dần dần
được nâng cao. Cứ mỗi khi học xong bài mới là tôi lựa chọn một số câu
hỏi có liên quan đến kiến thức vừa học và có nội dung thực tế để áp dụng
nên hầu hết các em đón nhận một cách hào hứng, thể hiện thái độ xây
dựng bài trên lớp và việc chuẩn bị bài ở nhà tích cực. Giờ đây học sinh
thực sự trở thành chủ thể của quá trình học. Học sinh lớp 7 nay không còn
bỡ ngỡ với các định luật Vật lí như: Sự truyền thẳng của ánh sáng, hiện
tượng phản xạ ánh sáng mà các em đã biết vận dụng chúng vào trình
bày một cách có khoa học. Kỹ năng vận dụng kiến thức Vật lí vào trong
cuộc sống của các em ngày càng thành thạo hơn. Có hơn 70% học sinh
23
lớp 7 biết vận dụng kiến thức vào giải thích các hiện tượng thực tế cuộc
sống hàng ngày một cách có kỹ năng, có cơ sở khoa học, học sinh hiểu
24
- Với đối tượng học sinh yếu, kém thì áp dụng như trên hoàn toàn
hợp lí. Phần lớn các em đã hiểu bài sâu sắc hơn, biết vận dụng lí thuyết
vào thực tiễn, nắm bắt nhịp nhàng những quy luật và hiện tượng vật lí.
- Nhìn chung các em được cọ xát làm quen nhiều loại bài có nội dung
thực tế, được linh hoạt sử dụng vào các thời gian giải khác nhau, được áp
dụng vào từng phần của bài học nên tránh được sự nhàm chán, đồng thời
giáo dục cho học sinh có động cơ học tập tốt, có hứng thú học tập để nắm
vững kiến thức một cách thường xuyên và có hệ thống.
- Để hạn chế được sự học vẹt, học lí thuyết suông không chịu làm
bài tập, chống được lối học lí thuyết qua loa rồi làm bài tập một cách đối
phó cần có quá trình vận dụng kiến thức có nội dung thực tế vào từng
phần, từng bài một cách phù hợp nên giúp học sinh biết độc lập trong suy
nghĩ, kiên trì, khắc phục khó khăn để giải bài tập một cách chính xác khoa
học.
- Để việc tăng cường kỹ năng vận dụng kiến thức Vật lí vào cuộc
sống đạt kết quả cao cnên kết hợp tốt khâu dạy học sinh có phương pháp
giải bài tập. Bên cạnh đó giáo viên phải có phương pháp giảng dạy thích
hợp để đáp ứng cả ba đối tượng: Khá giỏi, trung bình và yếu kém. Các câu
hỏi thường phải phù hợp đối tượng học sinh trung bình nhưng cũng phải
có câu hỏi dễ để học sinh yếu, kém và câu hỏi khó cho học sinh khá giỏi.
Có như vậy mới phát huy được năng lực, tư duy, sáng tạo của học sinh.
Với những bài học nội dung kiến thức nhiều thì GV phát phiếu bài tập về
nhà cho các nhóm. Để với bài học nào, các em cũng được làm các bài tập
dạng này- Tạo sự say mê tìm tòi khám phá trong HS
KẾT LUẬN
Qua những bài đã dạy ở chương trình Vật lí lớp 7 tôi đã mạnh dạn
đưa ra các dạng bài tập trên vào những phần củng cố và vận dụng. Có thể
các em đưa ra được các phương án ngay, nếu không tôi sẽ gợi ý, hướng
25