Giúp học sinh tăng cường kỹ năng vận dụng kiến thức vật lý vào cuộc sống qua chương trình Vật lý 7 - Pdf 13

SỞ GIÁO DỤC V& ĐÀO TẠO TỈNH GIA LAI
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ PLEIKU
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
GIÚP HỌC SINH TĂNG CƯỜNG
KĨ NĂNG VẬN DỤNG KIẾN THỨC VẬT LÍ VÀO CUỘC SỐNG
QUA CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ LỚP 7- BẬC THCS
NGƯỜI VIẾT: ĐÀO THỊ MỸ HẠNH
TỔ: TOÁN - LÝ
TRƯỜNG THCS TÔN ĐỨC THẮNG
NĂM HỌC 2008 - 2009

1
A/ ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài:
Trong giai đoạn hiện nay, nền giáo dục nước ta đang có những chuyển
biến mạnh mẽ, chúng ta đang đổi mới nội dung, phương pháp ở tất cả các bậc
học, môn học. Đây là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước quan tâm đến chất
lượng giáo dục nước nhà. Chúng ta đã biết trên thế giới, các nước tiên tiến đã
tiến hành đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy từ nhiều năm. Họ đã ý
thức được con người trong thời đại công nghiệp là con người làm chủ được các
kiến thức khoa học, kó thuật; biết tìm tòi, suy nghó không ngừng để đáp ứng
được các đòi hỏi ngày càng cao của cuộc sống và nền khoa học đương thời.
Nhận thức sâu sắc được vấn đề này, Bộ GD - ĐT nước ta đã tiến hành
cải cách chương trình nội dung SGK từ lớp 1 bậc tiểu học và lớp 6 bậc THCS.
Cùng với việc đổi mới nội dung SGK là một phương pháp giảng dạy và học tập
cũng đổi mới. Chúng ta chuyển từ phương pháp dạy học cổ điển, lấy người dạy
làm trung tâm sang phương pháp mới đó là lấy người học làm trung tâm. Người
dạy đóng vai trò vừa là người điều khiển vừa là người hướng dẫn các hoạt động
nhận thức của học sinh. Ở phương pháp này học sinh được phát huy tối đa khả
năng tư duy độc lập sáng tạo, các em được tự do tìm tòi, khám phá, lónh hội tri

Từ đó tôi soạn ra hai dạng bài tập.
 Dạng thứ nhất : Giải thích các hiện tượng xung quanh bằng kiến thức Vật
lí.
 Dạng thứ hai: Bài tập tình huống để các em đưa ra các phương án giải
quyết, kể cả các phương án làm thí nghiệm.
3. Đ ối tượng nghiên cứu: Tôi chọn đối tượng nghiên cứu trong đề tài này
là học sinh lớp 7 THCS mà tôi đang giảng dạy.
4. Giả thiết khoa học: Là tìm hiểu và tăng cường kó năng vận dụng kiến
thức Vật lí để giải quyết các tình huống thực tế.
5. Nhiệm vụ của đề tài: Sau khi ứng dụng đề tài này vào thực tế giảng
dạy học sinh phát huy tốt kỹ năng , vận dụng kiến thức vật lý đã học vào cuộc
sống.
6. Giới hạn đề tài: Tôi chỉ nghiên cứu các dạng câu hỏi, bài tập với kiến
thức nằm trong chương trình Vật lí lớp 7 THCS và cụ thể ở 3 chương.
Chương I: Quang học.
Chương II: Âm học.
Chương III: Điện học.
7. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp quan sát sư phạm.
- Phương pháp điều tra thực tế.
- Phương pháp trắc nghiệm.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp.

3
B/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I/ CƠ SỞ LÍ LUẬN:
- Như chúng ta đã biết, môn Vật lí nói chung và vật lí 7 nói riêng chiếm
giữ một vò trí rất quan trọng đối với việc phát triển năng lực tư duy, sáng tạo,
hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh. Nó là một môn khoa học thực nghiệm,
có liên hệ mật thiết với các hiện tượng trong tự nhiên và được ứng dụng rất

làm việc với lưới điện?
2.4: Tại sao dây dẫn điện trong nhà phải có vỏ bọc cách điện, còn ngoài
trời thì có thể dùng dây trần?
2.5: Tại sao khi áp tai vào tường, ta có thể nghe được tiếng cười nói ở
phòng bên cạnh, còn khi không áp tai vào tường lại không nghe được?
Ngày nay cùng với tri thức khoa học của bộ môn giáo viên phải cho học
sinh thấy rõ kiến thức Vật lí có nhiều ứng dụng rộng rãi trong thực tế. Muốn
làm được điều này thì mỗi giáo viên nói chung, bản thân tôi nói riêng trong quá
trình dạy học kiến thức của từng bài, từng chương phải học hỏi, tìm tòi, suy nghó
để đưa ra được một hệ thống câu hỏi có nội dung thực tế mà được giải quyết
dựa trên kiến thức vật lí. Thực tế không phải học sinh nào cũng đònh hướng
được nhưng dần dần các em sẽ được hoàn thiện. Điều này có ý nghóa to lớn với
nhiệm vụ học tập trước mắt và trong tương lai của học sinh.
3. Năng lực của học sinh trong một lớp không hoàn toàn giống nhau. Vì
vậy việc đưa vào các bài tập có nội dung thực tế để các em vận dụng kiến thức
bài học để xử lí là một tất yếu, giúp các em có một nền tảng vững chắc trong
việc vận dụng kiến thức Vật lí vào trong thực tế.
 Tóm lại, việc tăng cường đưa bài tập có nội dung thực tế vào mỗi bài học
không những giúp học sinh củng cố lại lí thuyết, hứng thú học tập mà còn
trang bò cho học sinh kó năng vận dụng kiến thức Vật lí vào cuộc sống.Đây
cũng là nghuyên lý giáo dục cơ bản mà Đảng ta đã đònh hướng “học đi đôi
với hành”
II/ CƠ SỞ THỰC TẾ:
Như chúng ta đã biết, kiến thức Vật lí trong chương trình sách giáo khoa
hiện nay có nhiều ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống như:
 Liên hệ Vật lí với năng lượng:
Muốn cho học sinh hiểu được những nguyên lí cơ bản của sự khai thác năng
lượng của dòng nước và nhiên liệu, sự vận tải và khai thác năng lượng phục vụ
sản xuất, những kiến thức sau đây là rất cần thiết.
+ Những khái niệm về vận tốc, lực, khối lượng, công và năng lượng, hiệu

- Nguyên tắc cấp thoát nước thành phố.
- Cung cấp điện sinh hoạt và sản xuất cho thành phố, nông thôn.
* Những kiến thức kể trên đều đề cập tới trong sách giáo trình Vật lí cấp
THCS. Tuy nhiên nếu người học chỉ nắm được kiến thức trọng tâm của bài mà
không biết ứng dụng kiến thức đó vào giải thích những hiện tượng rất gần gũi
trong đời sống thì tính giáo dục của bộ môn sẽ không thực hiên được. Xuất phát
từ mục đích yêu cầu về giáo dục đào tạo là đào tạo những con người lao động
tự chủ và sáng tạo vào tình hình thực tế hiện nay, việc đổi mơí phương pháp
dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh là yêu cầu hết
sức cần thiết. Muốn làm được điều này, theo tôi mỗi giáo viên chúng ta phải

6
tích lũy được kinh nghiệm hàng ngày cũng như luôn tìm tòi cho mình một hệ
thống câu hỏi hoặc bài tập có nội dung thực tế được giải quyết dựa trên kiến
thức Vật lí của từng bài. Hệ thống câu hỏi này được giáo viên chọn lựa, lọc ra
để ứng dụng vào từng bài học như thế nào cho phù hợp để gây hứng thú, kích
thich sự học tập tích cực của học sinh. Hệ thống bài tập đó có thể đã có sẵn
trong SGK, sách bài tập”SBT” hoặc GV phải sưu tầm. Qua đó giáo viên luôn
tìm cách hướng cho học sinh tự suy nghó, tìm tòi, khám phá, phát hiện ra nội
dung cơ bản để chiếm lónh tri thức mới đó. Và biết dựa vào kiến thức đã học để
giải thích những hiện tượng thường gặp xung quanh ta, biết áp dụng kiến thức
đã học vào phục vụ đời sống, cải tạo thiên nhiên.
* Khắc phục dần dần hiện tượng học sinh học lí thuyết suông mà không
biết ứng dụng kiến thức đã học vào thực tế. Hiện nay không những môn tôi dạy
mà nhiều bộ môn khác cũng thế, nếu học sinh gặp dạng bài tập trắc nghiệm,
bài tập điền từ vào chỗ trống thì các em có thể làm được, nhưng nếu gặp bài
tập ở dạng giải thích các vấn đề có liên quan đến đời sống như chương “Quang
Học” đòi hỏi học sinh phải hiểu và nắm vững kiến thức trọng tâm, các đònh luật
phản xạ ánh sáng, đònh luật truyền thẳng của ánh sáng thì hầu như các em chưa
biết vận dụng vào thực tế. Ví dụ như những năm trước, sau khi tôi dạy xong bài

tấm phản quang để có thể hắt lại ánh sáng từ các phương tiện giao thông chiếu
vào.Vì vậy người điều khiển các phương tiện ấy dễ dàng nhận ra họ, tránh được
tai nạn.
Câu 2: Góc học tập của em nên bố trí ở vò trí nào trong nhà? Giải thích
tại sao em chọn như vậy?
Gợi ý: Góc học tập bố trí gần cửa sổ, ban ngày ánh sáng từ bên ngoài hắt
vào nên góc học tập đảm bảo đủ ánh sáng.
Bài 2: SỰ TRUYỀN ÁNH SÁNG
 Kiến thức trọng tâm:
Trong môi trường trong suốt, đồng tính, ánh sáng truyền theo đường
thẳng.
Câu1: Tại sao muốn xếp thẳng hàng thì người thứ ba trở đi không
được nhìn thấy người thứ nhất?
Gợi ý: Vì ánh sáng truyền theo đường thẳng. Nếu người thứ ba trở đi
không nhìn thấy người thứ nhất chứng tỏ ánh sáng từ người thứ nhất không
truyền tới mắt các người này. Vì vậy hàng đã đứng thẳng.
Câu 2: Bằng kiến thức vật lý hãy giải thích câu “Tối như hũ nút”
Gợi ý: Các vật đựng trong hũ nút kín vì thế không cõ ánh sáng từ đó đến
mắt ta nên ta không nhìn thấy gì.
Bài 3: ỨNG DỤNG ĐỊNH LUẬT TRUYỀN THẲNG ÁNH SÁNG.
 Kiến thức trọng tâm:
- Bóng tối không nhận được ánh sáng từ nguồn sáng.
- Bóng nửa tối nhận được một phần ánh sáng từ nguồn sáng truyền tới.
Câu1: Để kiểm tra độ phẳng của bức tường người ta thường chiếu đèn là
là trên mặt tường. Tai sao?

8
Gợi ý: Khi được chiếu sáng, vì tia sáng truyền theo đường thẳng nên chỗ
lồi lõm của tường không nằm trên đường thẳng của tia sáng. Những chỗ lồi
sáng lên, chổ lõm tối đi, vì vậy người thợ có cơ sở sửa chữa cho tường phẳng

gương phiá trước và gương này tạo ảnh của gáy trong đó nên có thể quan sát
thấy gáy của mình trong gương phía trước.

9
Câu 2: Chỉ với hai gương phẳng làm thế nào để người ngồi dưới hố có
thể quan sát cảnh vật trên mặt đất mà không cần nhô đầu lên?
Gợi ý: Có thể bố trí hai gương theo sơ đồ dưới đây:
Ánh sáng từ các vật trên mặt đất phản xạ qua hai gương rồi tới mắt người quan
sát mặc dù người này không nhô đầu lên trên mặt đất.
Bài 7 : GƯƠNG CẦU LỒI.
 Kiến thức trọng tâm:
- Gương cầu lồi cho ảnh ảo nhỏ hơn vật.
- Vùng nhìn thấy của gương cầu lồi rộng hơn vùng nhìn thấy của gương
phẳng.
Câu 1: Tại sao trên ôtô, xe máy hoặc tại đoạn đường quanh co người ta
thường gắn các gương cầu lồi mà không dùng gương phẳng?
Gợi ý: Vì vùng nhìn thấy của gương cầu lồi rộng hơn vùng nhìn thấy của
gương phẳng nên dùng gương cầu lồi làm gương chiếu hậu cho các phương tiện
giao thông hoặc đặt tại các đoạn đường quanh co có thể quan sát được một vùng
rộng, giúp tránh các tai nạn giao thông khi điều khiển các phương tiện trên.
Câu 2: Hãy tìm một số vật dụng trong nhà có thể thay thế gương cầu lồi
để có thể làm thí nghiệm với gương này tại nhà?
Gợi ý: Dùng các vật:
- Gương xe máy
- Muỗng canh inox
- Mảnh ruột phích vỡ
Bài 8: GƯƠNG CẦU LÕM.
 Kiến thức trọng tâm:
Gương cầu lõm có tác dụng biến một chùm tia tới song song thành một chùm
tia phản xạ hội tụ vào một điểm và ngược lại biến một chùm tia phân kì thành

- Tần số dao động của nguồn âm càng lớn, âm phát ra càng cao và ngược
lại.
Câu 1: Tại sao khi bơm lốp xe ô tô, người thợ lại lấy búa hoặc thanh sắt
gõ vào lốp. Giải thích?
Gợi ý: Khi lốp xe căng, gõ vào ta sẽ nghe tiếng đanh hơn khi lốp chưa
căng. Tương tự như khi gõ trống, nếu mặt trống căng thì gõ vào âm phát ra cao
hơn

11
Bóng đèn Bóng đèn có chụp
Câu 2: Quan sát người gảy đàn bầu thấy có những lúc họ chỉ gảy một lần
vào dây, nhưng họ vẫn điều chỉnh cho đàn phát ra các nốt nhạc khác nhau.
Trong trường hợp này, họ đã làm gì ?
Gợi ý: Người nhạc công đã thay đổi độ căng hay chùng của dây đàn vì
vậy dây đàn dao động ở các tần số khác nhau và phát ra các nốt nhạc khác
nhau.
Bài12: ĐỘ TO CỦA ÂM.
 Kiến thức trọng tâm:
- Biên độ dao động của nguồn âm càng lớn, âm phát ra càng to.
Câu 1: Bác bảo vệ dánh một hồi trống vào lớp. Trong hồi trống ấy có
tiếng to, tiếng nhỏ. Bác đã đành như thế nào để thu được kết quả đó?
Gợi ý: Khi bác bảo vệ đánh mạnh dùi trống vào mặt trống. Mặt trống
dao động mạmh, phát ra tiếng to. Ngược lại khi đánh nhẹ mặt trống dao động
yếu nên phát ra tiếng nhỏ.
Câu 2: Bằng kiến thức Vật lý, hãy giải thích câu “ Thùng rỗng kêu to”
Gợi ý: Nếu gõ vào thùng đặc, do cân các vật trong đó nên dao động yếu
 âm phát ra nhỏ. Khi thùng rỗng thì dao động mạnh hơn  âm phát ra to. Mặt
khác thùng rỗng còn đóng vai trò như hộp đàn làm cho âm phát ra lớn và sắc
thái hơn.
Bài 13: MÔI TRƯỜNG TRUYỀN ÂM .

ra phía trước vì vậy âm thanh truyền được đi xa.
Câu 2: Tại sao ở các phòng họp rộng người ta thường làm tường sần sùi?
Gợi ý: Ở các phòng họp rộng các vách tường thường làm sần sùi để cho
âm dội vào sẽ phản xạ theo nhiều hướng khác nhau. Vì vậy giảm được tiếng
vang.
Câu 3: Giả sử nhà em ở gần khu vực có nhiều tiếng ồn, hãy nghó cách
làm giảm tiếng ồn ảnh hưởng xấu đến sinh hoạt của gia đình?
Gợi ý:
Lắp cửa kính: Vì kính có bề mặt nhẵn, cứng phản xạ âm tốt nên âm ít
truyền vào trong nhà, hạn chế được tiếng ồn.
Trồng cây xanh quanh nhà: Vì lá cây phản xạ âm theo nhiều hướng khác
nhau nên hạn chế dược âm truyền vào trong nhà.
Treo rèm cửa bằng vật liệu mềm, xốp: Vì các vật liệu này có thể hấp thụ
tốt âm thanh nên hạn chế được tiếng ồn truyền vào trong nhà.
CHƯƠNG III: ĐIỆN HỌC
Bài17: SỰ NHIỄM ĐIỆN DO CỌ XÁT.
 Kiến thức trọng tâm:
- Có thể nhiễm điện cho một vật bằng cách cọ xát.
- Vật bò nhiễm điện có khả năng hút các vật khác hoặc làm cho bóng đèn
bút thử điện loé sáng.
Câu 1: Tại sao cánh quạt điện thưòng bám nhiều bụi. Mặc dù khi quay
cánh quạt chém vào không khí rất mạnh?

13
Gợi ý: Khi quay, cánh quạt cọ xát với không khí, nên bò nhiễm điện. Vì
vậy nó hút các bụi bẩn có trong không khí. Kết quả cánh quạt bò bám nhiều bụi.
Câu 2: Tại sao các xe ô tô chở xăng thường thả kéo lê một sợi dây xích
nhỏ từ gầm xe xuống mặt đường?
Gợi ý: Khi xe chạy sẽ cọ sát với không khí làm cho thân xe bò nhiễm
điện có thể gây ra cháy nổ. Để phòng tránh người ta thả kéo lê một sợi dây


14
Câu 2: Chọn các loại pin và số lượng cho mỗi dụng cụ sau?
• Đồng hồ treo tường.
• Đèn pin.
• Đồng hồ đeo tay.
• Máy tính bỏ túi.
• Điều khiển từ xa Ti Vi.
Gợi ý:
• Đồng hồ treo tường: Dùng 1đến 2 pin tiểu.
• Đèn pin: Dùng 2 pin con thỏ
• Đồng hồ đeo tay: Dùng 1 pin cúc áo.
• Máy tính bỏ túi: Dùng 2 pin cúc áo.
• Điều khiển từ xa Ti Vi : Dùng 2 pin tiểu.
Bài 20: CHẤT DẪN ĐIỆN VÀ CHẤT CÁCH ĐIỆN – DÒNG ĐIỆN
TRONG KIM LOẠI
 Kiến thức trọng tâm:
- Chất dẫn điện là chất cho dòng điện đi qua. Chất cách điện là chất
không cho dòng điện đi qua.
- Dòng điện trong kim loại là dòng các electron dòch chuyển có hướng.
Câu 1: Tại sao dây dẫn điện trong nhà phải có vỏ bọc cách điện còn
ngoài trời thì có thể dùng dây trần?
Gợi ý: Dây dẫn trong nhà phải có vỏ bọc cách điện để đảm bảo an toàn
cho người. Nếu ta sơ ý chạm tay vào dây vẫn không bò điện giật. Còn dây ngoài
trời ít khi ta tiếp xúc với nó cho nên có thể dùng dây trần.
Câu 2: Giả sử dây điện nhà em bò hở một đoạn vỏ. Hãy nêu phương án
khắc phục?
Gợi ý: Lấy băng dính hoặc bì nilông quấn xung quanh chỗ hở phủ ra hai
đầu từ 1 - 2cm. Sau đó dùng lửa hơ nóng để chỗ nối bền chắc.
Câu 3: Ổ cắm điện nhà em nhiều khi tiếp xúc không tốt với phích cắm

HỌC CỦA DÒNG ĐIỆN.
 Kiến thức trọng tâm:
Dòng điện có thể gây ra tác dụng từ, tác dụng sinh lí, tác dụng hoá học.
Câu 1: Tại sao các thợ điện cần phải có các thiết bò cách điện khi làm
việc với lưới điện?
Gợi ý: Dòng điện có tác dụng sinh lí, gây co giật có thể gây tử vong nhất
là khi tiếp xúc với nơi có hiệu điện thế cao. Vì vậy các thợ điện phải có các
thiết bò cách điện để đảm bảo an toàn khi làm việc.
Câu 2: Khi nạp bình ăc qui người ta đã sử dụng tác dụng nào của dòng
điện?
Gợi ý: Khi nạp bình ắc qui dòng điện đi qua bình làm cho các điện cực có
thể tích điện. Như vậy khi nạp bình người ta đã sử dụng tác dụng hoá học của
dòng điện.
Bài 26: HIỆU ĐIỆN THẾ GIỮA HAI ĐẦU DỤNG CỤ DÙNG ĐIỆN.

16
 Kiến thức trọng tâm:
Số vôn ghi trên mỗi dụng cụ dùng điện cho biết hiệu điện thế đònh mức để
dụng cụ đó hoạt động bình thường.
Câu 1: Tại sao người ta phải ghi rõ hiệu điện thể trên các dụng cụ điện?
Tìm hiểu một số dụng cụ dùng điện xem chúng hoạt động ở hiệu điện thế là
bao nhiêu?
Gợi ý: Trên các dụng cụ điện phải ghi rõ hiệu điện thế sử dụng (hiệu điện thế
đònh mức ). Nhờ đó ta đặt vào chúng hiệu điện thế có giá trò phù hợp, để chúng
hoạt động tốt, tránh hư hỏng.
Hiệu điện thế thường dùng ở một số dụng cụ dùng điện như:
• TiVi: 90V - 250V
• Quạt điện: 220V
• Đèn pin: 3V
• Máy tính bỏ túi: 3V

Trên Trung bình Dưới trung bình
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
7.
6,7
64 82.1 14 17.9
NĂM HỌC 2007 - 2008
Tổng số
Trên Trung bình Dưới trung bình
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
7.
2,3,6,7
112 85.7 16 14.3
Kết quả này một lần nữa khích lệ tôi cần nghiên cứu nhiều hơn nữa các
vấn đề, hiện tượng Vật lí xung quanh chúng ta.
II/ Một số kinh nghiệm nhỏ:
Sau một thời gian học hỏi tìm tòi và áp dụng một số kinh nghiệm về việc
“Tăng cường kỹ năng vận dụng kiến thức Vật lí vào cuộc sống ở trường
THCS”, tôi rút ra được một số bài học kinh nghiệm sau:
- Giáo viiên phải luôn chủ động trong việc xác đònh kiến thức có liên
quan đến cuộc sống thực tiễn- tích cực đọc sách, báo,tài liệu tham khảo, khai
thác trên mạng để có vốn sống thực tế sâu rộng để chủ đạo dẫn dắt HS, tạo cho
các em có niềm tin vững chắc khi vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn
- Với đối tượng học sinh yếu, kém thì áp dụng như trên hoàn toàn hợp lí.
Phần lớn các em đã hiểu bài sâu sắc hơn, biết vận dụng lí thuyết vào thực tiễn,
nắm bắt nhòp nhàng những quy luật và hiện tượng vật lí.
- Nhìn chung các em được cọ xát làm quen nhiều loại bài có nội dung
thực tế, được linh hoạt sử dụng vào các thời gian giải khác nhau, được áp dụng
vào từng phần của bài học nên tránh được sự nhàm chán, đồng thời giáo dục

18

có thể sử dụng làm tài liệu trong các buổi tổ chức thi dạng như các chương trình
“Bảy sắc cầu vồng”; “ Câu lạc bộ đốù vui để học”
Trên đây là một số kinh nghiệm cá nhân chắc chắn nhiều đồng nghiệp
cũng đã làm. Với cách khai thác như trên tôi đã gặt hái được những kết quả ban
đầu đáng phấn khởi, xây dựng cho học sinh thói quen say mê khám phá khoa
học từ những hiện tượng đơn giản nhất hay xảy ra xung quanh chúng ta Bởi tất

19
cả đều có nguyên lý khoa học của nó, không phải ngẫu nhiên, song chắc chắn
không tránh khỏi hạn chế, khiếm khuyết. Kính mong sự góp ý và chia sẻ của
hội đồng khoa học các cấp để tôi củng cố thêm niềm tin vào ý tưởng của mình
với mong muốn tất cả vì thế hệ tương lai của đất nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. SGK Vật lí 7 - NXB GD.
2. Cơ sở Vật lí - NXB GD - 1999.
3. Bộ sách “Mười vạn câu hỏi vì sao” NXB Giao thông vận tải - 1997.
4. Sách đổi mới phương pháp dạy và giải bài tập Vật lí THCS – Nhà xuất
bản GD – MAI LÊ - NGUYỄN XUÂN KHOÁI

20

21
MỤC LỤC
TT NỘI DUNG TR
01 A/ Đặt vấn đề 1
02 B/ Giải quyết vấn đề 3
03 I. Cơ sở lí luận 3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status