Vị trí mạnh trong truyện cười dân gian việt nam - Pdf 30

Khóa luận tốt nghiệp đại học

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=====***=====

TRỊNH HƢƠNG NGỌC

VỊ TRÍ MẠNH TRONG TRUYỆN CƢỜI
DÂN GIAN VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

HÀ NỘI, 2015


Khóa luận tốt nghiệp đại học

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=====***=====

TRỊNH HƢƠNG NGỌC

VỊ TRÍ MẠNH TRONG TRUYỆN CƢỜI
DÂN GIAN VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2015
Sinh viên

Trịnh Hƣơng Ngọc


Khóa luận tốt nghiệp đại học

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................ 1
PHẦN NỘI DUNG ............................................................................................ 8
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN. ...................................................................... 8
1.1. Một số vấn đề lí thuyết về phong cách học văn bản. ......................... 8
1.1.1. Phong cách học văn bản. ................................................................. 8
1.1.2. Biện pháp tu từ văn bản................................................................... 8
1.1.3. Phương thức tổ chức hình thức của văn bản nghệ thuật. ............. 9
1.1.4. Vị trí mạnh. .................................................................................... 10
1.2. Những đặc trƣng cơ bản của Truyện cƣời dân gian Việt Nam. ...... 10
1.2.1. Khái niệm “Truyện cười dân gian”. ............................................ 10
1.2.2. Phân loại truyện cười. ................................................................... 11
1.2.3. Một số đặc điểm về truyện cười dân gian Việt Nam..................... 11
CHƢƠNG 2: VAI TRÒ CỦA VỊ TRÍ MẠNH TRONG TRUYỆN CƢỜI 13
DÂN GIAN VIỆT NAM. ................................................................................ 13
2.1. Kết quả khảo sát – thống kê – phân loại. ........................................... 13
2.1.1. Kết quả khảo sát – thống kê........................................................... 13
2.1.2. Nhận xét.......................................................................................... 14
2.2. Phân tích kết quả thống kê .................................................................. 16
2.2.1. Vị trí mạnh nằm ở phần nhan đề tác phẩm. ................................. 16
2.2.2. Vị trí mạnh nằm ở phần nội dung ................................................. 23
2.2.3. Vị trí mạnh nằm ở cuối tác phẩm.................................................. 39

của tác giả Đinh Trọng Lạc để đi sâu tìm hiểu vai trò của việc sử dụng vị trí
mạnh trong truyện cười dân gian Việt Nam. Chúng tôi hy vọng khóa luận này

1


Khóa luận tốt nghiệp đại học

sẽ đóng góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu và khẳng định một vấn đề lý
thuyết về phong cách học.
1.2. Tìm hiểu các tác phẩm được giảng dạy tại trường phổ thông, chúng tôi
thấy rằng: Truyện cười dân gian Việt Nam chiếm một vị trí quan trọng trong
bộ phận Văn học dân gian Việt Nam. Thể loại văn học dân gian này đã được
đưa vào trong chương trình giảng dạy ở phổ thông từ rất lâu.
Truyện cười dân gian Việt Nam dù có yếu tố thanh hay tục, dù chỉ là
nhằm mục đích gây cười – giải trí hay mang màu sắc xã hội với nội dung triết
lí giáo dục thì đều là những tác phẩm văn chương có giá trị thể hiện ý thức có
thẩm mỹ của cộng đồng, đậm đà bản sắc văn hóa, phong tục tập quán của cả
một dân tộc. Mặt khác, truyện cười còn là những tác phẩm văn học đặc sắc về
nghệ thuật. Làm nên sự thành công của truyện cười và để lại ấn tượng sâu sắc
trong lòng người đọc chính là việc tác giả dân gian đã sử dụng thành công vị
trí mạnh.
Từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài
“Vị trí mạnh trong truyện cười dân gian Việt Nam” để góp phần tìm hiểu
sâu hơn về thể loại truyện cười, đồng thời thấy được tác dụng to lớn của vị trí
mạnh đối với truyện cười dân gian Việt Nam. Kết quả của quá trình nghiên
cứu còn là nguồn tư liệu cần thiết trong quá trình giảng dạy và công tác sau
này của bản thân.
2. Lịch sử vấn đề
Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau và dưới

phóng đại và yếu tố kịch tính. Phóng đại ở truyện cười là sự cường điệu tâm
lí, tâm trạng, thói hư, tật xấu của nhân vật còn kịch tính trong mỗi câu truyện
hài là sự thay đổi đột ngột của hoàn cảnh.
Hai công trình trên đã đề cập tới những khía cạnh cơ bản của truyện
cười dân gian Việt Nam. Đây là những cơ sở quan trọng cho chúng tôi tìm
hiểu về thể loại văn học dân gian đặc sắc này.
2.1.3. Ngoài hai công trình tiêu biểu vừa nêu, truyện cười dân gian Việt
Nam còn được đề cập ở một số tài liệu khác như:

3


Khóa luận tốt nghiệp đại học

- Nguyễn An Tiêm, “Cái hài mua vui giải trí trong Truyện cười dân
gian Việt Nam”, Tạp chí Văn hóa dân gian, 96(1), tr.31-34.
- Huỳnh Công Tín, “Cái hài dân gian Bắc bộ - Nam bộ”, Tạp chí Văn
hóa dân gian, 2002(5), tr.60-64.
Các tác giả chú ý nghiên cứu đến nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong
truyện cười, các thủ pháp chơi chữ. Vị trí mạnh cũng đã được đề cập tới
nhưng chưa được xem xét một cách cụ thể và hệ thống. Tuy nhiên, những kết
quả nghiên cứu trên sẽ là những định hướng vô cùng quý giá giúp cho chúng
tôi đi sâu tìm hiểu truyện cười, đặc biệt là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ.
2.2. Từ góc độ ngôn ngữ học
2.2.1. Ở góc độ ngôn ngữ, tác giả Đinh Trọng Lạc là người đầu tiên tìm
hiểu biện pháp tu từ văn bản. Có thể coi ông là người đầu tiên cho việc xây
dựng nền móng nghiên cứu các biện pháp tu từ văn bản.
Trong tạp chí Ngôn ngữ, với bài “Vấn đề xác định, phân loại và miêu
tả các phương tiện tu từ và các biện pháp tu từ”, tác giả Đinh Trọng Lạc đã
đưa ra sự phân biệt của mình về biện pháp tu từ và phương tiện tu từ xét ở

cứu truyện cười là “Hiệu quả của biện pháp quy định trong truyện cười dân
gian Việt Nam” của tác giả Lưu Xuân Bình – Sinh viên k29G – Ngữ văn –
ĐHSPHN2. Khóa luận đã chỉ ra những hiệu quả nghệ thuật của biện pháp quy
định, khám phá những khía cạnh mới mẻ trong giá trị nội dung cũng như giá
trị nghệ thuật của truyện cười dân gian Việt Nam từ góc độ phong cách học.
Tác giả Lê Kim Nhung có bài viết “Tìm hiểu nghệ thuật chơi chữ trong
truyện cười dân gian Việt Nam” (Báo cáo khoa học tại Hội thảo Ngữ học trẻ Xuân 2007). Bài viết đã miêu tả và phân tích nghệ thuật chơi chữ để rút ra những
nhận xét về giá trị sử dụng của biện pháp này đối với hiệu quả của truyện cười
dân gian.
Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy hầu hết những bài nghiên cứu
trên, tác giả mới chỉ dừng lại ở mức độ khảo sát lí thuyết, mang tính chất
khám phá, minh. Tiếp nối mạch nghiên cứu ấy, chúng tôi tập trung đi sâu vào
miêu tả và phân tích vị trí mạnh trong truyện cười dân gian Việt Nam.

5


Khóa luận tốt nghiệp đại học

Trên nền tảng lý thuyết của tác giả Đinh Trọng Lạc và dựa vào sự phân
tích những kết quả ngữ liệu thống kê từ kho tàng Truyện cười dân gian Việt
Nam, khóa luận này sẽ đi sâu vào tìm hiểu các yếu tố mạnh được sử dụng
trong truyện cười dân gian Việt Nam một cách cụ thể. Đồng thời, khóa luận
còn góp phần khẳng định những tiền đề lý thuyết của các nhà nghiên cứu
ngôn ngữ học trước đó.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp các vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài.
- Khảo sát, thống kê những trường hợp sử dụng vị trí mạnh trong
truyện cười dân gian Việt Nam.
- Vận dụng phương pháp phân tích phong cách học văn bản để miêu tả,

Ngoài phần mở đầu và tài liệu tham khảo, khóa luận bao gồm 2
chương:
Chƣơng 1. Cơ sở lí luận
Chƣơng 2. Vai trò của vị trí mạnh trong truyện cƣời dân gian Việt Nam

7


Khóa luận tốt nghiệp đại học

PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.

Một số vấn đề lí thuyết về phong cách học văn bản

1.1.1. Phong cách học văn bản
Phong cách học được hiểu là khoa học nghiên cứu về các quy luật nói
và viết có hiệu lực cao và sử dụng ngôn ngữ đạt được tính chính xác, tính
đúng đắn và tính thẩm mĩ.
Trong cuốn “Phong cách học văn bản”, tác giả Đinh Trọng Lạc đã
khẳng định “...Cần đặc biệt chú ý đến vai trò quan trọng của phong cách
học”. Phong cách học là một bộ môn trong ngành ngôn ngữ học nghiên cứu
những nguyên tắc lựa chọn, sử dụng tất cả những phương tiện dồi dào của
ngôn ngữ (bao gồm cả những đơn vị ngôn ngữ, cả những đơn vị giao tiếp tức
những văn bản phát ngôn), cũng như tất cả biện pháp sử dụng đặc biệt – tức
những biện pháp tu từ để sự diến đạt ngôn ngữ đạt được hiệu quả cao nhất
trong mọi lĩnh vực của hoạt động giao tiếp xã hội.
Vì vậy, để thực hiện nhiệm vụ của mình, phong cách học đi đến việc
đổi mới trong quan niệm, mở rộng đối tượng, phạm vi khảo sát, nghiên cứu

1.1.3. Phương thức tổ chức hình thức của văn bản nghệ thuật.
Theo Tác giả Đinh Trọng Lạc, trong số các khái niệm cơ bản của
phong cách học giải mã được V. Acnôn nghiên cứu, thú vị nhất – đứng ở
quan điểm tham gia vào việc tạo lập ra tính toàn vẹn của văn bản – là nhóm
các hiện tượng được liên kết lại bởi một tên gọi chung là đề xuất. Trong
phong cách học giải mã, đề xuất được hiểu là “Những phương thức tổ chức
hình thức của văn bản tập trung chú ý của độc giả vào những yếu tố thông
báo nhất định và thiết lập những quan hệ thích hợp về ngữ nghĩa giữa các
yếu tố của một cấp độ đã cho, hoặc thông thường hơn của các cấp độ”.
Các kiểu đề xuất cơ bản gồm có:
- Vị trí mạnh
- Nối tiếp
- Hội tụ

9


Khóa luận tốt nghiệp đại học

- Sự chờ đợi bị hụt hẵng…
Chức năng liên kết của các kiểu đề xuất bị quy định ở chỗ, hoạt động
của chúng được biểu hiện trên mảnh cắt lớn của văn bản, hoặc trong khuôn
khổ của cả văn bản. Những biện pháp đề xuất làm cho sự chú ý của độc giả
dừng lại ở những yếu tố của văn bản có giá trị lớn về nghĩa, và do đó giúp độc
giả phát hiện ra những liên hệ tồn tại trong văn bản và tri giác văn bản như
một chính thể.
1.1.4. Vị trí mạnh
Nói về vai trò liên kết của các kiểu đề xuất, tác giả Đinh Trọng Lạc đã
nhấn mạnh tới tính chất đặc biệt quan trọng của những mối liên hệ có tính
chất liên tưởng về nghĩa, được xác lập giữa các vị trí mạnh của văn bản (giữa

vật). Trong truyện cười không kết chuỗi lại gồm các kiểu loại khác nhau như:
truyện khôi hài, truyện trào phúng và truyện tiếu lâm. Phạm vi nghiên cứu của
đề tài tập trung nghiên cứu về truyện cười không kết chuỗi.
Như vậy, trong truyện cười, vị trí mạnh chính là những vị trí đặc biệt
trong cấu trúc ngữ nghĩa của tác phẩm có tác dụng hài hước, gây cười hoặc để
thực hiện chức năng phê phán, châm biếm. Ngoài tác dụng gây cười và phê
phán, các yếu tố này còn có chức năng khái quát hóa nội dung, quy định
giọng kể và định hướng cách hiểu tác phẩm.
1.2.3. Một số đặc điểm về truyện cười dân gian Việt Nam.
Truyện cười dân gian Việt Nam ra đời và phát triển cùng với quá trình
lao động sản xuất và đời sống nhân dân. Khi tư duy con người tương đối phát
triển, họ ý thức được tầm quan trọng của truyện cười. Nó không chỉ đem lại
tiếng cười mua vui cho thiên hạ để cho họ giải tỏa những mệt nhọc, vất vả sau
một ngày lao động tích cực mà truyện cười còn có tác dụng phê phán, châm
biếm, mỉa mai các thói hư tật xấu của con người. Có khi nó được xem như là
một thứ vũ khí sắc bén để đấu tranh chống lại những bất công của tầng lớp
trên. Tiếng cười ấy còn phản ánh sự thông minh, tư duy sâu sắc của người
Việt nói chung và nhưng con người có trí tuệ, khả năng giao tiếp nhanh nhạy
nói riêng. Ở đó đã có sự kết tinh của một quá trình chọn lọc, khái quát và nó

11


Khóa luận tốt nghiệp đại học

xứng đáng được xem là một tác phẩm hoàn chỉnh, một chỉnh thể thống nhất
và toàn vẹn .
Truyện cười là thể loại ngắn gọn bặc nhất, dài cũng chỉ đến 15 – 20
câu, ngắn thì 5 -7 câu. Tuy ngắn thế, nhưng cũng là cả một câu chuyện có mở
đầu, có diễn biến và có kết thúc. Mọi yếu tố được sử dụng trong truyên cười

- Vị trí mạnh nằm ở phần nội dung của tác phẩm.
- Vị trí mạnh nằm ở phần cuối của tác phẩm.
Ở mối vị trí, căn cứ vào đặc điểm cấu tạo và phương thức biểu hiện mà
chia thành các tiểu loại nhỏ hơn. Kết quả cụ thể được chúng tôi thể hiện ở
bảng phân loại sau:
Kết quả thống kê
STT

Vị trí

Tiểu loại

Số

Tỷ lệ

phiếu
Nhan đề thể hiện sự đối lập, vô lý

1

9

5,0%

Vị trí mạnh nằm Nhan đề là câu hỏi

11

6,1%

phát ngôn thể hiện trí tuệ con
2

Vị trí mạnh nằm người
ở phần nội dung Yếu tố mạnh là hững hành động, 17

9,5%

phát ngôn thể hiện tính cách, bản
chất của con người
Yếu tố mạnh được thể hiện bằng 28

15,6%

những thủ pháp chơi chữ
Yếu tố mạnh là một kết luận vô lý 25
3

14,0%

Vị trí mạnh nằm của lập luận
ở phần cuối của Yếu tố mạnh là một chi tiết bất 32
tác phẩm

17,9%

ngờ, hài hước trái ngược với dự
đoán
Yếu tố mạnh là một câu nói ẩn ý.


khi, trong những điều kiện nhất định thì sự vụng về, những thiếu sót về hình
dáng bề ngoài, những sự ngẫu nhiên vô lý đều có thể là một lời gợi ý, nhắc
nhở nhẹ nhàng giúp người ta sửa chữa dần những thói quen, những tật xấu
trong xã hội như tính lười biếng, tham ăn, thô lỗ,…
Mâu thuẫn được coi là cơ sở của sự hài hước, các tác phẩm dừng lại ở
sự mua vui giải trí khi tiếng cười bật ra là để tố cáo sự mâu thuẫn ấy chứ
không phê phán những cái lạc hậu, xấu xa, phản động. Nhưng cùng với sự
phát triển của xã hội, khi bắt đầu có sự phân chia giai cấp cũng là lúc xuất
hiện sự áp bức, bóc lột của các giai tầng thống trị. Truyện cười dân gian mặt
khác thực hiện thiên trách phản ánh thực trạng của xã hội cũ mà người dân lao
động nghèo khổ phải chịu những bất công, đày đọa, đồng thời bênh vực cho
những người nghèo khổ, có trí thông minh sắc sảo như trong các tác phẩm:
Mưu chủ nhà và mưu đày tớ, Trả thù, Vừa buồn cười vừa sợ, Tài nói láo…
Truyện cười có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp con người rèn luyện,
mài giũa năng lực và tư duy nhanh nhạy, khả năng sử dụng tiếng Việt thành
thạo. Đọc các câu chuyện, không phải ai cũng có thể phát ra tiếng cười ngay
được, có người vừa đọc xong là bật ra tiếng cười giòn, có người phải ngẫm
nghĩ hồi lâu mới cười được. Phát hiện ra chỗ gây cười để cười đòi hỏi phải có
đầu óc thông minh, một vốn kiến thức về từ ngữ, ngữ pháp tiếng Việt tốt.

15


Khóa luận tốt nghiệp đại học

2.2. Phân tích kết quả thống kê
2.2.1. Yếu tố mạnh nằm ở phần nhan đề tác phẩm
Nhan đề còn gọi là đầu đề, là tên, là cái "tít" (title - tiếng Anh, titre tiếng Pháp) chung của một văn bản, một tác phẩm. Nó như gương mặt của một
con người, là cái nổi bật nhất để phân biệt tác phẩm này với tác phẩm khác.
Nhan đề (đầu đề) thường do người viết đặt ra - như người bố, người mẹ

khiến người đọc tò mò muốn tìm ra nguyên nhân, bản chất của sự việc.
Truyện “Ngửi văn” là một minh chứng tiêu biểu, nhan đề đã kích kích
sự tò mò của bạn đọc bởi sự vô lí, bất thường. Nếu bình thường, con người
tiếp nhận một tác phẩm văn chương thông qua việc tri giác ngôn từ dưới hình
thức nghe, đọc thì đến đây, nhân vật trong truyện lại sử dụng một hình thức lạ
là ngửi. Bởi lẽ, ngửi là một hoạt động của khứu giác nhằm cảm nhận mùi vị
của một vật, nhưng văn chương thì không hề có mùi vị. Sự kết hợp này tạo ra
sự lạ lẫm trong nhan đề câu chuyện. “Ngửi văn” gợi ra cách thức mà nhân vật
nhận biết tác phẩm văn chương. Đối chiếu vào nội dung tác phẩm, sự vố lí bất
thường trong nhan đề đã được triển khai một cách cụ thể. Nhân vật chỉ ngửi
cũng biết đâu là bộ “Tây sương kí” vì thấy mùi phấn sáp, đâu là “Tam quốc
chí” vì thấy mùi binh đao. Và cuối cùng nhân vật mù đoán ngay ra văn của
thầy tú vì ngửi thấy mùi thum thủm. Như vậy, nhan đề “Ngửi văn” đã bao
quát được toàn bộ nội dung câu chuyện. Nhân vật không cần nhìn mà chỉ cần
ngửi cũng biết là văn của ai. Sự vô lý này thể hiện rõ thái độ mỉa mai, châm
biếm của tác giả.
Truyện “Con rắn vuông” là một minh chứng tiêu biểu, nhan đề không
chỉ gợi ra một phần nội dung của văn bản mà còn tạo cho bạn đọc sự thú vị
hấp dẫn. Chính sự bất thường vô lí đã tạo ra sự thu hút đối với bạn đọc.
Thông thường, nhắc tới rắn chúng ta sẽ nghĩ ngay tới loài bò sát không có
chân, di chuyển bằng cách trườn trên mặt đất với hình dáng thon dài, có loài
rắn dài tới vài mét. Nhưng con rắn trong câu chuyện lại có hình vuông, hình
thù kì quái này chính là điểm nhấn kích thích sự tò mò của bạn đọc tìm hiểu
đến tận cùng thực hư câu chuyện về con rắn vuông. Sở dĩ gọi là con rắn

17


Khóa luận tốt nghiệp đại học



Khóa luận tốt nghiệp đại học

những tên quan ngu ngốc, kém tư cách nhưng lại tự đại và hách dịch, đồng thời
ca ngợi sự lém lỉnh, sắc sảo của anh lính hay chính là người dân lao động.
Nhan đề đã tạo ra sự tò mò, kích thích tới bạn đọc phải làm sao để biết được
quan sợ ai và ai có thể làm cho quan sợ hãi được. Vấn đề được đặt ra một cách
khách quan, hấp dẫn và gợi nhiều liên tưởng, tưởng tượng thú vị.
Lấy ví dụ nhan đề “Còn mười năm nữa ai nuôi?”, khi chưa biết nội
dung câu chuyện kể về cái gì, đọc nhan đề bạn đọc sẽ bị bất ngờ bởi câu hỏi
này. Nhan đề gợi ra sự liên tưởng mười năm nữa là khi nào? Ai là ai? Và hiện
giờ ai đang nuôi? Nhan đề đi kèm với phần nội dung càng làm nhấn mạnh bản
chất của nhân vật. Câu chuyện kể về một anh chàng chuyên ăn bám vào bố.
Có ông thầy coi tướng cho bảo rằng cả hai bố con anh đều sống thọ. Bố anh
sống đến tám mươi, còn anh ít ra cũng hơn bảy mươi. Nghe thấy vậy anh ta
òa lên khóc và phát ngôn ra câu hỏi chính là nhan đề tác phẩm “Còn mười
năm nữa ai nuôi?”. Câu nói của anh ta đã vạch trần sự lười biếng, vô trách
nhiệm, thói ăn bám vào người khác của anh chàng kia. Đã trưởng thành rồi
nhưng vẫn không nuôi nổi mình, và trong suy nghĩ của nhân vật, bố anh ta
phải nuôi anh cho đến khi chết. Tiếng cười bật lên cùng với sự phê phán thói
lông bông, quen ăn bám vào người khác của những anh chàng sức dài vai
rộng. Đó cũng như một lời nhắc nhở tế nhị tới bạn đọc.
2.2.1.3. Nhan đề là các hình thức so sánh
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, so sánh là “Phương thức biểu đạt
bằng ngôn từ một cách hình tượng dựa trên cơ sở đối chiếu hai hiện tượng có
những dấu hiệu tương đồng nhằm làm nổi bật đặc điểm, thuộc tính của hiện
tượng này qua đặc điểm, thuộc tính của hiện tượng kia”.
So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng có
một nét tương đồng nào đó. Đây là một biện pháp nghệ thuật quan trọng, góp
phần tạo cho người đọc những ấn tượng thẩm mĩ hết sức phong phú.

với sáu mươi tư, chả là một trăm quan đó sao.” Lí giải của chị ta khiến cho
quan mới thấy mình không sáng ý bằng người đàn bà dốt. Đúng là chỉ có hai
vợ chồng anh chị ta mới có thể hiểu được cách tính toán của nhau. Câu

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status