ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
===========
HOÀNG THỊ HUẾ
THUYẾT NHÂN QUẢ PHẬT GIÁO TRONG
VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Mã số: 60.22.03.01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Hùng Hậu HÀ NỘI – 2014
Hà Nội – 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc
và xuất xứ rõ ràng. Những kết quả khoa học của luận văn chưa được công bố
trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả luận văn Hoàng Thị Huế
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 5
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu 6
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 6
6. Đóng góp mới của luận văn 6
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 7
8. Kết cấu của đề tài 7
NỘI DUNG 8
CHƢƠNG 1: THUYẾT NHÂN QUẢ PHẬT GIÁO VÀ VÀI NÉT VỀ
KHO TÀNG VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM 8
1.1 Thuyết nhân quả của Phật giáo 8
1.1.1 Một vài nét về Phật giáo 8
1.1.2. Nội dung thuyết nhân quả của Phật giáo 13
1.2. Vài nét về kho tàng văn học dân gian Việt Nam 29
1.2.1. Khái niệm văn học dân gian 29
1.2.2. Đặc trưng và hình thức của văn học dân gian Việt Nam 31
CHƢƠNG 2: MỘT SỐ BIỂU HIỆN CỦA THUYẾT NHÂN QUẢ PHẬT
GIÁO TRONG KHO TÀNG VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM 35
2.1. Nội dung thuyết nhân quả Phật giáo trong ca dao, tục ngữ 35
2.1.1. Vài nét về ca dao, tục ngữ 35
2.1.2. Nhân quả với quá trình lao động sản xuất trong ca dao, tục ngữ 38
2.1.3. Nhân quả đối với hôn nhân và gia đình trong ca dao, tục ngữ 42
2.1.4. Nhân quả với việc nhận định về con người và việc đời 48
2.2. Nội dung thuyết nhân quả Phật giáo trong một số truyện cổ tích 55
2.2.1. Khái quát về truyện cổ tích 55
2.2.2. Biểu hiện thuyết nhân quả Phật giáotrong một số câu truyện cổ tích 57
2.3. Ý nghĩa của những biểu hiện thuyết nhân quả Phật giáo trong việc
giáo dục đạo đức đối với con ngƣời Việt Nam hiện nay 67
xã hội. Trong một xã hội, nếu ai cũng yêu thương, sống chan hòa, đối xử đúng
mực với nhau, không làm điều ác, làm điều gì cũng xuất phát từ cái thiện,
luôn đặt điều nhân nghĩa lên trên thì xã hội sẽ tốt đẹp biết bao. Đó chính là
mục tiêu và mơ ước mà nhà Phật luôn hướng tới.
Ngày nay, nước ta đang trong thời kì hội nhập với thế giới, phát triển
nền kinh tế thị trường. Do vậy, thời cơ tạo ra là vô cùng to lớn nhưng bên
cạnh đó cũng có rất nhiều thách thức đặt ra cần phải chú trọng giải quyết. Ta
2
thấy rằng, xã hội trở nên mất cân đối giữa đời sống tinh thần và vật chất. Nền
khoa học thì phát triển mạnh mẽ như vũ bão, trong khi đó thì đời sống đạo
đức con người ngày càng trở nên suy thoái. Tôn ty trật tự, luân lý đạo đức
trong gia đình cũng như ngoài xã hội không còn nét đẹp truyền thống như xưa,
mà dường như còn bị xem nhẹ. Một bộ phận giới trẻ ngày nay xem chuẩn mực
đạo đức như một định kiến cổ hủ phong kiến. Đó chính là những dấu hiệu rõ
nhất cho thấy sự suy thoái của nền đạo đức trong thời đại mới. Trước những thực
trạng ấy, vấn đề giáo dục đạo đức thông qua giáo dục con người nhận biết và tin
sâu giáo lý nhân quả càng trở nên quan trọng và cấp thiết.
Qua đó, học thuyết nhân quả của Phật giáo có một vai trò rất lớn không
chỉ với con người Việt Nam nói chung mà nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
đối với giới trẻ nói riêng. Và để giáo lý nhân quả đi sâu và trong ý thức của
mọi người thì không chỉ bằng những lý luận, giáo lý trong sách vở mà cần
thấy rằng Phật giáo đã du nhập vào nước ta từ rất sớm, chính vì thế ảnh hưởng
của nó đến đời sống tinh thần của người dân Việt Nam là rất lớn, nó được ông
cha ta đúc kết lại trong kho tàng văn học dân gian vô cùng phong phú và đa
dạng. Thông qua những câu ca dao, tục ngữ hay những câu chuyện thần thoại,
cổ tích cha ông ta luôn thể hiện những tư tưởng nhân quả rất sâu sắc, đó là tư
tưởng “ở hiền gặp lành”, “gieo nhân nào gặt quả ấy”, hay “gieo gió gặt bão”, “ác
giả ác báo”… Những câu chuyện cổ tích, những câu ca dao tục ngữ chính là
những ví dụ sinh động nhất, dễ hiểu nhất đưa các thế hệ người Việt hiểu rõ hơn
giác, có trong cả động vật, thực vật và tất cả chúng sinh, không một sự vật
nào là không có nhân quả. Đặc biệt, qua đây chúng ta còn thấy được những
lợi ích đạt được nếu như hiểu được và áp dụng luật nhân quả: nó tránh cho ta
những mê tín dị đoan, những tin tưởng sai lầm vào thần quyền “vạn vật do
một vị thần sinh ra và uy quyền thưởng phạt muôn loài”, nó đem lại cho ta
lòng tin tưởng vào chính bản thân cá nhân mình khi họ biết rằng cuộc đời
mình là do nghiệp nhân quả của mình tạo nên, là người tự xây dựng đời mình
thì phải tin tưởng vào mình để sống tốt hơn và khi họ đã hiểu rõ được luật
4
nhân quả thì không còn thấy chán nản hay trách móc bất kì ai nữa mà tự tìm
ra lối thoát cho mình.
Hay trong đề tài “Nhân quả, luân hồi, nghiệp báo và tổ ấm Việt Nam”
trích trong Đạo Phật và dòng sử Việt của Thích Đức Nhuận chúng ta cũng
thấy rõ hơn được người Việt Nam xưa và nay vẫn luôn có một lối sống lạc
quan, yêu đời thanh nhàn trong tư tưởng, nội tâm trước những sóng gió cuộc
đời. Đó chính là họ nhận thức được quy luật nhân quả vẫn luôn thường nhật
trong mọi mặt của đời sống con người. Qua đó chúng ta thấy được tác giả đã
khẳng định con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam luôn thể hiện tính đại
đoàn kết dân tộc ngay từ thời kì dựng nước và giữ nước. Những con người
Việt Nam thời đó họ đã nhìn về các tấm gương anh hùng thời đại trước để
tiếp nối cho sự nghiệp xây dựng ngày mai của đất nước.
Và một trong những cuốn sách thể hiện rõ nét, sâu sắc và đầy đủ nhất
mà chúng ta không thể không nhắc đến đó chính là cuốn “Luận về nhân -
quả” của tác giả Thích Chân Quang. Đây không phải là quyển sách đọc một
lần, bởi càng đọc chúng ta càng thấm thía sâu sắc hơn khi nhìn lại cuộc đời
mình, càng đọc chúng ta càng thấy cần tạo cho mình một lối sống an vui và
hạnh phúc chân thật, càng đọc chúng ta càng thấy đường “giải thoát” của đạo
Phật không phải là khó đi.
Ở đây tác giả Thích Chân Quang đã chỉ cho chúng ta thấy rõ ràng cuộc
Và ở đề tài nghiên cứu này, người nghiên cứu muốn kế thừa, bổ sung và
phát triển kết quả của những người đi trước để từ đó có cách nhìn tổng quát,
đặc biệt thấy được sự vận dụng triết lý nhân quả của Phật giáo trong kho tàng
văn học dân gian Việt Nam của cha ông ta. Trong một giới hạn nhất định, tác
giả nghiên cứu mong muốn đi sâu, phân tích một cách có hệ thống trên cơ sở
đó hình thành phương pháp luận đúng để mỗi người có cách hành động đúng
và đó cũng chính là nhu cầu cần tìm hiểu hơn về thuyết nhân quả trong kho
tàng văn học dân gian Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích:
6
Luận văn phân tích biểu hiện thuyết Nhân quả Phật giáo trong kho tàng
văn học dân gian Việt Nam và phần nào làm rõ ý nghĩa của nó trong việc giáo
dục đạo đức đối với con người Việt Nam hiện nay.
* Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích nghiên cứu luận văn cần giải quyết một số nhiệm
vụ sau:
- Trình bày nội dung thuyết nhân quả của Phật giáo và giới thiệu qua về
kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
- Phân tích một số biểu hiện thuyết nhân quả của Phật giáo trong kho
tàng văn học dân gian Việt Nam và ý nghĩa trong việc giáo dục đạo đức đối
với con người Việt Nam hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của công trình này là những quan điểm, nguyên lý trong
chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí
Minh và văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đây là công trình nghiên cứu sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin như phương pháp phân tích - tổng hợp, logic - lịch sử,
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Chương 2: Một số biểu hiện của thuyết nhân quả Phật giáo trong kho
tàng văn học dân gian Việt Nam
2.1. Nội dung thuyết nhân quả Phật giáo trong ca dao, tục ngữ
2.2. Nội dung thuyết nhân quả Phật giáo trong một số truyện cổ tích
2.3. Ý nghĩa của những biểu hiện thuyết nhân quả Phật giáo trong việc
giáo dục đạo đức đối với con người Việt Nam hiện nay
8
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: THUYẾT NHÂN QUẢ PHẬT GIÁO VÀ VÀI NÉT VỀ
KHO TÀNG VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
1.1 Thuyết nhân quả của Phật giáo
1.1.1 Một vài nét về Phật giáo
* Khái lược về Phật giáo
Phật giáo là một hệ thống tư tưởng thống nhất quy tụ về Nhất Thừa
Phật pháp. Tất cả giáo lý Phật là nền tảng cho việc xây dựng con người vị tha
và coi cuộc sống vị tha là lý tưởng cao quý nhất của đời mình, tiến tới con
người vị tha và coi cuộc sống vị tha là lý tưởng cao quý nhất của đời mình,
tiến tới con người từ, bi, hỷ, xả, con người Phật. Phật giáo xuất hiện ở miền
bắc Ấn Độ cổ đại (nay thuộc Nê pan) vào khoảng thế kỉ VI trước công
nguyên, Phật giáo đã nhanh chóng phổ biến và trở thành một quốc giáo ở Ấn
Độ. Khi ấy trong xã hội tình trạng phân chia đẳng cấp rất khắc nghiệt. Sự ra
đời của Phật giáo thể hiện tinh thần phản kháng của những người nghèo,
chống lại chế độ phân biệt đẳng cấp của đạo Bàlamôn, tìm con đường giải
thoát con người khỏi nỗi khổ triền miên trong xã hội nô lệ Ấn Độ. Trải qua
những thăng trầm lịch sử, Phật giáo trở thành một tôn giáo thế giới và đã đang
ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống văn hóa tinh thần của nhiều dân tộc phương
trường phái tư tưởng mới ở Ấn Độ trong thời kì này. Do vậy “để chống lại
những đạo luật hà khắc của đạo Bàlamôn - đạo Phật đã ra đời. Phật giáo xuất
hiện như là sự đáp ứng nhu cầu tinh thần phản kháng xã hội; một mặt, nó
phản ánh nỗi bất hạnh, đau khổ thực tế của nhân dân Ấn Độ; mặt khác, nó
phản kháng chế độ đẳng cấp nghiệt ngã, chống lại sự áp bức, bất bình đẳng
giữa con người. Nó công khai chống lại giáo lý truyền thống của kinh Véda
và đạo Bàlamôn, bác bỏ uy quyền thần thánh, xây dựng niềm tin vào chính
con người”.[8, tr. 116]
Sự ra đời Phật giáo còn gắn liền với tên tuổi người sáng lập là Thích Ca
Mâu Ni (nghĩa là giác ngộ của tộc người Thích ca). Đây là tên gọi khi thành
đạo. Tên thật của Thích Ca Mâu Ni là Siddhartha (Tất đạt đa) nghĩa là “người
10
thực hiện mục đích”, họ là Gautama, vốn là con đầu của vua Tịnh Phạn. Thích
Ca Mâu Ni sống trong khoảng thời gian từ năm 566 đến 485 trước Công
Nguyên ở miền Trung Bắc Ấn Độ.
Ngay từ nhỏ, Thái tử Tất Đạt Đa đã được sống trong nhung lụa, không
tiếp xúc với xã hội bên ngoài, không hề thấy và không hề biết rằng trong cuộc
đời lại có những đói khát, bệnh tật, già yếu và chết chóc. Năm 17 tuổi, Thái tử
cưới vợ là công chúa Da giu đà la (Yasodnara) sinh một con trai là La hầu la.
Từ đó, Thái tử mới được tiếp xúc với hiện thực cuộc sống ngoài chốn cung
đình. Những cuộc gặp gỡ bất ngờ với những cảnh già yếu, bệnh tật, chết
chóc đã tác động mạnh đến tâm hồn nhạy cảm của Ngài.
Năm 29 tuổi, ông quyết định từ bỏ cuộc đời vương giả của một thái tử
để đi tu hành, tìm được diệt khổ và sự giải thoát cho chúng sinh. Sau sáu năm
tu khổ hạnh ở núi Tuyết Sơn mà không đạt được sự yên tĩnh trong tâm hồn và
cũng không nhận thức được chân lý, ông nghiệm ra là cả cuộc sống tràn đầy
vật chất, thỏa mãn dục vọng, lẫn cuộc sống khổ hạnh đều không giúp tìm con
đường giải thoát, chỉ có con đường trung đạo là đúng đắn nhất. Do đó, ông tự
mình đào sâu suy nghĩ để nhận thức chân lý và bỏ lối tu khổ hạnh, đi sâu vào
Phật giáo du nhập và được truyền bá vào Việt Nam từ rất sớm, nhất là
cuối thế kỉ II đến thế kỉ III Tây lịch qua hai con đường Hồ Tiêu (con đường
biển) và con đường Đồng Cỏ (con đường tơ lụa).
Dân tộc Việt Nam, về nhân chủng, có nguồn gốc cùng Malaisia và
Indonesia cùng với các nước Đông Nam Á láng giềng, trực tiếp thu nhận tinh
hoa Phật giáo vốn có chung một truyền thống sinh hoạt “nông nghiệp thảo
mộc” - Một nền văn hóa nhân bản bao dung, trí tuệ và khai phóng, đượm sắc
thái hiếu sinh, hiếu hòa và giải thoát.
Chính vì thế mà Phật Giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, ngay từ
đầu công nguyên với truyện cổ tích Chử Đồng Tử học đạo của nhà sư Ấn Độ,
Luy Lâu (thuộc tỉnh Bắc Ninh) là trụ sở của của quận Giao Chỉ sớm trở thành
trung tâm Phật quan trọng. Các truyền thuyết về Thạch Quang Phật và Man
Nương Phật Mẫu xuất hiện cùng với sự giảng đạo của Khâu Đà La trong
khoảng các năm 168-189. Và để sau đó Phật giáo có mặt tại Việt Nam, với
12
chiều sâu và bề dày lịch sử 20 thế kỉ, đã cùng với dân tộc đấu tranh giành
quyền cho một nước Việt Nam tự chủ, độc lập, đã gây dựng nên một nếp sống
“dân phong quốc tục” đẹp làm vẻ vang cho nòi giống Việt - con rồng cháu
tiên. Xuyên qua những đóng góp to lớn trong công cuộc dựng nước và giữ
nước của đạo Phật Việt, kể từ các Vương triều: Tiền và Hậu Lý Nam Đế
(542-603) mở đầu nền tự chủ cho nước nhà, đến nhà Đinh (968-980) và Tiền
Lê (989-1009), sang nhà Lý (1009-1225) và tiếp theo nhà Trần (1225-1400),
Phật giáo lại càng được phát triển mạnh mẽ trong đời sống xã hội, đồng thời
mở mang trên khắp mặt sinh hoạt quốc gia, đem an vui hạnh phúc đến với
toàn dân, từ bi, thương yêu tràn ngập, thì đồng thời nền văn hóa Đại Việt cũng
vươn lên tuyệt đỉnh vinh quang.
Có thể nói từ khi mới du nhập vào nước ta Phật giáo đã có một chỗ
đứng khá vững chắc trong cuộc sống tinh thần của người dân Việt Nam. Và
đặc biệt Phật giáo đã có một bước phát triển mạnh mẽ và đã trở thành quốc
thấy được luật ấy. Do đó, họ đã hành động một cách bừa bãi, thiếu tinh thần
trách nhiệm đối với bản thân mình và với người xung quanh. Và cũng chính
vì thế mà họ đau khổ, lặn ngụp mãi trong biển mê mờ, tội lỗi.
Trái lại, Đức Phật là vị hoàn toàn giác ngộ, đã phát huy hiện ra luật
nhân quả đang chi phối, điều hành mọi sự vật trong vũ trụ này, nên Đức Phật
đã hành động một cách sáng suốt, lỗi lạc cho chính mình và chúng sinh.
Vậy chúng ta cần phải hiểu biết cái luật nhân quả mà đức Phật phát huy
nó như thế nào, để rồi hành động đúng theo như lời Đức Phật đã làm, nhằm
đem lại hạnh phúc chân thật, lâu bền cho mình và cho người xung quanh. Và
tư tưởng nhân quả của Phật giáo ấy được hiểu như thế nào? Chúng ta sẽ
nghiên cứu nội dung của nó ở từng khía cạnh.
a. Quan niệm của Phật giáo về nhân quả
Theo triết lý Phật giáo, vũ trụ vạn vật biến hoá vô thường chính là do
vạn vật trong vũ trụ chịu sự chi phối của luật nhân quả. Cái nhân (hetu) nhờ
có duyên (pratitya) trợ giúp mà trở thành quả (phala); quả mới lại nhờ duyên
mới trợ giúp mà tạo thành quả mới Cứ như vậy, thế giới sự vật, hiện tượng
14
cứ sinh hoá, biến hiện không ngừng không nghỉ theo quá trình sinh, trụ, diệt
hay thành, trụ, hoại, không. Quá trình đó có thể diễn ra trong nháy mắt hay
trong từng giai đoạn có sự biến đổi về chất.
Trong học thuyết nhân duyên nhằm giải thích nguyên nhân biến hoá vô
thường của vạn pháp, có ba khái niệm chủ yếu là: nhân (hetu), duyên(pratitya)
và quả (phala). Theo triết lý Phật giáo tất cả các sự vật, hiện tượng trong thế
giới từ cái vô cùng nhỏ đến vô cùng lớn, từ cái đơn giản đến phức tạp, đều
chịu chi phối, tác động của luật nhân quả tồn tại và biến hiện. Cái gì phát
động ra ở vật, làm cho nó biến đổi, gây ra một hay nhiều kết quả nào đó gọi là
nhân. Cái gì được kết tập lại do một hay nhiều nhân gọi là quả. Duyên là điều
kiện, là mối liên hệ trợ giúp cho nhân (ở trạng thái khả năng) biến thành quả
(ở trạng thái hiện thực). Như thế duyên không chỉ là một cái gì đó cụ thể, xác
tương đối trong khoảnh khắc của dòng biến chuyển vô thường vô định, vụt
mất, vụt còn, không có sự vật riêng biệt, không có cái tôi thường định, cái tôi
hôm nay không còn là cái tôi hôm qua. Tất cả thụ, tưởng, hành, thức dẫu ở
quá khứ, hiện tại hay vị lai, ở bên trong hay ngoại cảnh, thô kệch hay tế nhị,
thấp hèn hay cao thượng, xa hay gần, đều phải được nhận thức với tri kiến
chân chính theo thực tướng của nó.
Vì không nhận thức được cái biến ảo vô thường, vô định của thế giới
mới là chân thực, không nhận thức được cái vô ngã của vạn pháp, nghĩa là
không thấy được cái gốc của sự biến hoá vô cùng, vô tận của vạn vật và
chúng sinh là ở nhân duyên, nên con người ta lầm tưởng, ngộ nhận rằng cái gì
cũng thường định, ta tồn tại mãi mãi, cái gì cũng của ta, do ta. Vì vậy, con
người cứ khát ái, khát dục, dẫn đến hành động chiếm đoạt, tạo ra những kết
quả, gây nên nghiệp báo, mắc vào bể khổ triền miên không dứt trong tam giới
(dục, giới, sắc giới, vô sắc giới) và lục đạo (trời, nhân gian, súc sinh, atula,
ngã quỷ, địa ngục), gọi là luân hồi (samsàra).
Trong triết lý nhân sinh của Phật giáo, theo luật nhân quả thì nghiệp
báo và luân hồi là hai phạm trù căn bản có liên hệ luận tự nhiên của nghiệp.
“Nghiệp” theo tiếng Sancrit là karma và tiếng Pali là kamma, theo đúng nghĩa
của danh từ này là hành động hay việc làm và định nghĩa một cách rốt ráo
nhất “nghiệp” là tác ý (cetanà). Tư tưởng, lời nói, việc làm đều do ý muốn
16
làm động cơ. Phật giáo gọi ý muốn hay ý chí ấy là tác ý. Vậy “nghiệp” là do
cái hành động thiện hay bất thiện, cố ý hay không cố ý, qua thân, khẩu, ý của
ta để thoả mãn những ham muốn của ta mà thành. Những hoạt động của ta
gồm: thân nghiệp là hậu quả do việc làm, hành động của thân thể gây ra; khẩu
nghiệp là hậu quả do lời nói của ta gây ra; và ý nghiệp là vô minh, không nhận
thức được thực tướng của vạn pháp và chân bản tính của mình. Do nghiệp chi
phối theo luật nhân quả nên vạn vật, chúng sinh mất đi ở chỗ này, thời gian
này chính là để sinh ra ở chỗ khác, thời gian khác. Đó chính là quá trình tái
“Đã gieo giống nào
Sẽ gặt quả nấy
Hành thiện sẽ thâu gặt quả lành
Hành ác sẽ gặt quả dữ,
Hãy gieo giống tốt,
Ta sẽ hưởng quả lành”
[80, tr. 362]
Như vậy:
Nhân là nguyên nhân, là cái hạt (hạt nhân), là năng lực phát động để
một sự vật, một hiện tượng được hình thành nên.
Quả là kết quả, là cái mầm, là sự hiện hữu của một vật, một hiện tượng
của năng lực phát động ấy.
Tất cả các sự vật, hiện tượng hiện hữu trong thế giới của chúng ta đều
có mối tương quan mật thiết. Chúng vừa làm nhân vừa làm quả, xoắn lấy
nhau, tiếp nối nhau, nương tựa vào nhau mà có. Nói cách khác, mối tương
quan nhân quả chính là tương quan Duyên Sinh. Trong đó, một sự vật hiện
hữu làm nhân chính (nhân trực tiếp). Nhân chính này muốn phát động cần
phải có những nhân phụ (nguyên nhân xa) hỗ trợ, giúp cho nhân chính phát
triển. Trong nhà Phật gọi những nhân phụ này là Duyên. Để một pháp được
hình thành thì Duyên là một yếu tố không thể thiếu. Do đó, nhân quả là cách
nói lược của Nhân - Duyên - Quả. Mỗi hiện tượng vừa là nhân mà cũng vừa là
quả. Tương quan nhân quả ấy gọi là tương quan duyên sinh đã được Đức phật
nói đến qua giáo lý duyên khởi.
18
Có thể đưa ra định nghĩa về nhân quả như sau: “Nhân” là nguyên
nhân, “Quả” là kết quả. Nhân là cái mầm, Quả là cái hạt, cái trái do mầm ấy
phát sinh. Nhân là năng lực phát động, Quả là sự hình thành của năng lực
phát động ấy. Nhân và Quả là hai trạng thái tiếp nối nhau, tương quan mật
thiết với nhau, nương nhờ vào nhau mà có. Nếu không có Nhân thì không có
chứa cái quả tương lai, và cũng trong cái quả hiện tại đã có hình bóng của
nhân quá khứ.
Nếu như vậy thì sự biến chuyển từ nhân đến quả mau chậm như thế
nào? Đây là một điểm quan trọng khi nói đến luật nhân quả bởi vì sự biến
chuyển từ nhân đến quả có khi nhanh khi chậm, không bao giờ diễn biến
trong cùng một thời gian đồng nhất.
Có khi từ nhân đến quả cách nhau như một cái chớp mắt. Có khi đòi
hỏi đến một vài năm, hay dài hơn nữa. Có khi đòi hỏi đến vài trăm năm thì
nhân quả mới xuất hiện. Bởi vậy thuyết nhân quả này từ khi được đức Phật
Thích-ca thuyết giảng đến nay đã trải qua hơn 25 thế kỷ, ngày càng có nhiều
bằng chứng xác thực hơn trong thực tế đời sống và cũng ngày càng tỏ ra gần
gũi, phù hợp hơn với những hiểu biết, khám phá mới của khoa học hiện đại.
Chính vì thế mà số người hoài nghi về những việc thiện ác, báo ứng đã ngày
càng giảm hẳn, trong khi số người tin chắc vào nhân quả ngày càng tăng
thêm, đặc biệt là còn có không ít người thuộc hàng ngũ các nhà khoa học hiện
đại.
Sở dĩ như thế là vì thuyết nhân quả của Phật giáo đưa ra một quan điểm
thấu triệt và hợp lý hơn hết. Theo quan điểm này thì mỗi một sự việc xảy đến
cho mỗi người chúng ta trong cuộc sống đều có một nguyên nhân sâu xa, trực
tiếp hoặc gián tiếp, từ những hành vi mà chính ta đã từng thực hiện. Chúng ta
không thể mong rằng sẽ gặt hái được những quả báo tốt đẹp nếu như ta chỉ
gieo trồng toàn những hạt giống xấu bằng các hành vi xấu ác, trái đạo lý.
Ngược lại, nếu ta biết làm lành tránh dữ, thường giúp đỡ người khác thì