Hình tượng rắn trong truyện kể dân gian Việt Nam - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Phạm Huyền Trâm
HÌNH TƯỢNG RẮN
TRONG TRUYỆN KỂ DÂN GIAN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
T.S HỒ QUỐC HÙNG

Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn của tôi đến các thầy cô khoa Ngữ văn,
Trường Đại học Sư Phạm Tp.Hồ Chí Minh, những người đã nhiệt tình giảng dạy và cung cấp
cho tôi những kiến thức cần thiết để tôi hoàn thành tốt khóa học và luận văn tốt nghiệp.
Ngoài ra, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu nhà trường, đến phòng Khoa
học Công nghệ và Sau Đại học đã tạo những điều kiện tốt nhất cho học viên cao học trong
suốt thời gian học tập tại trường. Tp. Hồ Chí Minh, năm 2010
PHẠM HUYỀN TRÂM

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Truyện kể về rắn là một trong những nhóm truyện kể tương đối quen thuộc trong hệ
thống truyện kể dân gian Việt Nam.
Không chỉ xuất hiện trong truyện kể mà trong đời sống tín ngưỡng, tâm linh chúng ta
cũng thấy sự có mặt của hình tượng rắn; không chỉ có mặt ở một vùng mà phổ biến trên
nhiều vùng của cả nước. Vì thế mà hình tượng rắn mang trong nó những biến thể (về cấu tạo
và nội dung biểu đạt) ở mỗi vùng đất mà nó dừng chân.
Nghiên cứu truyện kể dân gian về rắn ở Việt Nam trước tiên chúng tôi muốn tìm hiểu
tính phổ quát của nó trong lĩnh vực truyện kể và đưa ra một số đặc trưng của nó ở một số
vùng miền trên cả nước. Từ đấy chỉ ra được những điểm giống và khác nhau cũng như
nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khác biệt của các kiểu truyện về rắn ở một số vùng miền trên
cả nước.
Ngoài ra nghiên cứu truyện kể dân gian về rắn ở Việt Nam chúng tôi hy vọng góp
phần tìm hiểu về tín ngưỡng dân gian của người Việt trong mối tương quan với tín ngưỡng
dân gian của các dân tộc ở vùng Đông Nam Á và thế giới.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Rắn trong văn hóa dân gian là một hiện tượng khá phổ biến trên thế giới. Nó đã đi vào

Năm 1992, trong các công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian ở Nam bộ, các nhà
nghiên cứu văn học dân gian đã đề cập đến mảng truyện kể về rắn như một chủ đề của truyện
kể dân gian về thú dữ ở Nam bộ như: công trình Văn hóa dân gian người Việt ở Nam bộ của
tác giả Thạch Phương do NXB KHXH xuất bản, bài viết Một vài thu hoạch từ những câu
chuyện truyền miệng ở mảnh đất phương Nam của tác giả Huỳnh Ngọc Trảng in chung trong
tập truyện Nghìn năm bia miệng do NXB Trẻ Tp. HCM xuất bản. Cả hai tác giả trên đều chỉ
dừng lại ở việc nêu và kể tên một số truyện kể về rắn ở Nam bộ.
Trong tuyển tập (tập 3) của Đinh Gia Khánh, nhân nói về những nét đặc thù của văn
hóa dân gian Việt Nam, ông cũng đã đề cập đến tục thờ rắn là vật tổ của các cư dân ở đồng
bằng và theo ông đó cũng là nguyên nhân dẫn đến sự phổ biến của các truyện về rắn thần ở
khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ. Kết quả nghiên cứu trên đã tạo cho chúng tôi một cơ sở lý
luận chắc chắn trong quá trình tìm hiểu nguyên nhân hình thành truyện kể dân gian về rắn ở
khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ.

Năm 1998, tác giả Nguyễn Bích Hà lại có một chuyên luận nghiên cứu sâu hơn về tác
phẩm Thạch Sanh. Chuyên luận này đã được NXB Giáo Dục xuất bản thành sách với nhan
đề: Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á. Nhân bàn
về truyện Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á, tác
giả đã đi vào tìm hiểu rất kĩ môtíp dũng sĩ diệt rắn ác. Và theo những tài liệu sưu tầm được,
tác giả cho thấy đây là môtíp khá phổ biến trong kiểu truyện dũng sĩ ở Việt Nam cũng như ở
Đông Nam Á. Kế thừa những thành quả nghiên cứu từ trước, tác giả cũng khẳng định “rắn
được dùng đồng nhất với khái niệm nước” - một yếu tố chi phối chặt chẽ đến đời sống của con
người thời bấy giờ. Vì thế mà con người vừa có tâm lí cầu thân, làm hòa vừa có tâm lí muốn
chống lại thiên nhiên hung dữ qua hình tượng rắn. Những kết quả nghiên cứu của tác giả về
hình tượng rắn trong môtip dũng sĩ diệt rắn ác đã gợi mở cho chúng tôi rất nhiều điều trong
quá trình thực hiện đề tài của mình.
Qua các công trình nghiên cứu của những năm 90 vừa được đề cập ở trên, chúng tôi
thấy rằng các nhà nghiên cứu đã bước đầu chú ý đến hình tượng rắn trong văn hóa dân gian
đặc biệt là trong thể loại truyện kể dân gian về rắn. Tuy nhiên, chúng tôi cũng thấy rằng hình
tượng rắn trong truyện kể dân gian chỉ được đề cập đến khi nó có liên quan đến một đề tài

của hành trình là Việt Nam. Ở Việt Nam, tác giả này đã nói về hình tượng rắn qua truyền
thuyết vườn Lệ Chi. Tuy chỉ mang tính liệt kê nhưng tác giả này bước đầu đã có sự so sánh
khi đặt hình tượng rắn trong văn hóa Việt Nam trong tương quan với hình tượng rắn trong
văn hóa thế giới đặc biệt là hình tượng rắn ác trong truyện kể dân gian về rắn.
Đi sâu vào nguồn gốc lịch sử của biểu tượng rắn ở Việt Nam, tác giả Dương khuê
trong bài viết “Rắn trong biểu tượng dân gian”, đăng trên website:
http://www.thuvienhaiphu.com.vn
cho rằng rắn là biểu tượng văn hóa được thiêng liêng hóa
thành biểu tượng rồng

và “xu hướng tôn vinh, linh thiêng hóa rắn trong tiềm thức lịch sử văn
hóa, cho phép chúng ta phán đoán, khẳng định rắn là tổ họ, là gốc, là tiền thân của rồng”.
Theo tác giả rắn là biểu tượng của thần sông nước, là vật tổ và rắn có khi là biểu tượng cho
điều thiện, nhưng nhiều khi rắn là biểu tượng cho điều ác.

Trong bài viết “Rắn trong tâm thức người Việt” , đăng trên tạp chí Tem, số 46, năm
2001, tác giả C.Q.T đã khẳng định rằng “con rắn đi vào đời sống văn hóa của rất nhiều nước,
với vị thế những vị thần khởi nguyên. Trong đó Việt Nam được xem là một mảnh đất mầu
mỡ ”. Để chứng minh cho điều đó, tác giả bài viết đã cho thấy sự xuất hiện của hình tượng
rắn từ thời vua Hùng thứ nhất khi vua bảo thần dân xăm hình giao long để khi xuống nuớc,
thuồng luồng nhận là đồng loại mà không làm hại hay hình tượng rắn trong các thuyền rắn

nước trên mặt trống đồng và thạp đồng của văn hóa Đông Sơn. Rắn còn xuất hiện trong các
đền thờ Mẫu của các cư dân ven sông Bắc bộ và trong nghệ thuật tạo hình xưa. Chính vì vậy,
tác giả khẳng định trong văn hóa Việt Nam, rắn luôn chiếm vị trí trang nghiêm trong tâm
thức dân tộc.
Tuy cũng là những bài báo Xuân nhưng các tác giả Dương Khuê và C.Q.T đã khá dày
công trong việc thu thập và phân tích các tài liệu. Tác giả Dương Khuê và C.Q.T lại đi vào
tìm hiểu nguồn gốc lịch sử của biểu tượng rắn trong văn hóa Việt Nam. Từ những dữ kiện
đưa ra, hai tác giả này cũng đồng thời khẳng định vị trí quan trọng của rắn trong tâm thức

biểu đạt của hình tượng rắn trong các thể loại của truyện kể dân gian.
Nhìn lại lịch sử nghiên cứu hình tượng rắn trong văn hóa cũng như văn học dân gian ở
Việt Nam, chúng tôi thấy rằng, rắn là một biểu tượng văn hóa được các nhà nghiên cứu chú ý
đến từ rất lâu. Mỗi bài viết ở trên là một cái nhìn rất riêng về hiện tượng này. Đó chính là cơ
sở gợi mở cho chúng tôi tiếp tục nghiên cứu về hình tượng rắn trong văn hóa dân gian Việt
Nam. Vì thế, dựa trên cơ sở những công trình đã nghiên cứu, luận văn của chúng tôi sẽ bổ
sung một cái nhìn cụ thể và hệ thống hơn về hình tượng rắn trong văn hóa Việt đó là: hình
tượng rắn trong truyện kể dân gian Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những truyện kể dân gian về rắn ở Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những truyện kể dân gian về rắn trong hệ thống truyện kể dân
gian ở Việt Nam. Cụ thể, ở mỗi vùng miền thuộc phạm vi nghiên cứu (Bắc bộ, Bắc Trung
bộ, Tây Nguyên và Tây Nam bộ), chúng tôi sẽ chọn ra những truyện kể về rắn có tính phổ
biến và đặc trưng cho vùng miền ấy để nghiên cứu. Do đó, sẽ có một số truyện kể về rắn của
một số vùng miền không được đề cập đến trong luận văn. Cụ thể là vùng Tây Bắc, vùng
đồng bằng ở miền Trung bộ. Trong quá trình khảo sát và tìm tư liệu ở hai vùng này, chúng
tôi cũng thấy xuất hiện một số truyện kể về rắn nhưng số lượng không nhiều và nội dung
không đặc trưng vì thế chúng tôi không chọn Tây Bắc và đồng bằng Trung bộ là đối tượng
khảo sát của luận văn.
Tính đặc trưng và phổ biến của các truyện được chúng tôi chọn dựa trên các tiêu chí
sau:
- Tính phổ biến của nội dung truyện trên vùng khảo sát.
- Sự xuất hiện thường xuyên của một hay vài môtíp trong các truyện.
- Nội dung truyện gắn với văn hóa cũng như phong tục tập quán của địa phương.
Ví dụ
: ở miền Bắc và Bắc Trung bộ, chúng tôi sẽ tìm hiểu nhóm truyện về rắn trong
đó có liên quan đến một trong các nội dung sau:


- Các công trình địa chí, thần tích ở các tỉnh.

+ Ở khu vực phía Bắc và Bắc Trung bộ chúng tôi dựa vào tài liệu thần tích Việt Nam
(Xuân Quang)
+ Ở khu vực Tây Nam bộ chúng tôi dựa vào các tập địa chí về các tỉnh thuộc khu vực
này do tác giả Huỳnh Minh biên soạn.
- Các công trình nghiên cứu về văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và một số
nước ở Đông Nam Á.
Chủ yếu là các bài viết được đăng trên các tạp chí như: văn học nghệ thuật, Di sản, nghiên
cứu văn học; các bài viết được đăng trên các website có uy tín như: Vietnam.net,
vanhoahoc.edu, vannghesongcuulong.org.
Trên đây, chúng tôi chỉ nêu khái quát nguồn tư liệu được sử dụng trong luận văn còn
phần tư liệu cụ thể chúng tôi sẽ miêu tả kỹ hơn ở mỗi chương.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn nghiên cứu một cách hệ thống, cụ thể về hình tượng rắn trong hệ thống
truyện kể dân gian Việt Nam. Từ đó đưa ra được những điểm đặc trưng của truyện kể dân
gian về rắn ở một số vùng miền trên cả nước. Đồng thời qua hệ thống truyện kể này, luận
văn cũng giúp cho người đọc thấy được nét văn hóa tương đồng và dị biệt của người Việt
xưa trong tương quan với nền văn hóa của một số dân tộc ở vùng Đông Nam Á.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của luận văn được chia làm 4
chương:
Chương I
: Khái quát biểu tượng rắn trong văn hóa thế giới và Việt Nam
Ở chương này, chúng tôi sẽ tập trung trình bày ý nghĩa của biểu tượng rắn trong đời
sống tinh thần của nhân dân Việt Nam từ xưa đến nay. Chính sự xuất hiện của biểu tượng rắn
trong các lĩnh vực của đời sống nhân dân sẽ là cơ sở cho việc khảo sát sự chuyển đổi các ý
nghĩa biểu đạt của hình tượng rắn trong các thể loại của truyện kể dân gian.
Chương II: Hình tượng rắn trong truyện kể dân gian của người Kinh ở Bắc bộ và Bắc
Trung bộ.

Nam bộ.
Trong quá trình thống kê, phân lập hình tượng rắn trong các thể loại truyện kể và một
số vùng miền tiêu biểu, luận văn sẽ tiến hành so sánh để rút ra những tương đồng và dị biệt
về cách biểu đạt cũng như tìm hiểu đời sống đích thực của nó.

NỘI DUNG
Chương một
KHÁI QUÁT BIỂU TƯỢNG RẮN TRONG VĂN HÓA
THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

1.1. Về khái niệm biểu tượng
Biểu tượng văn hóa là một đối tượng giữ vị trí quan trọng trong nền văn hóa của mỗi
quốc gia. Nhà văn hoá Levis Strauss đã từng nói: “Mọi nền văn hoá đều có thể xem như một
tập hợp các hệ thống biểu tượng…”[10, XIII]. Tuy nhiên, trước kia người ta thường cho biểu
tượng là những hình ảnh của trí tưởng tượng, do bịa đặt mà ra như: biểu tượng nàng tiên cá
trong văn hóa Đan Mạch, biểu tượng rồng trong văn hóa Việt Nam, Trung Hoa, biểu tượng
sư tử biển của Singapore, biểu tượng rắn Naga trong văn hóa Thái Lan, Campuchia, Lào…
Vì thế mà biểu tượng văn hóa dường như ít được gắn với văn hóa của các quốc gia.
Ngày nay, càng quan tâm tìm hiểu về văn hóa của dân tộc mình trong mối tương quan
với các dân tộc khác, người ta càng thấy rằng biểu tượng văn hóa cũng như những huyền
thoại, thần thoại, truyền thuyết… của các dân tộc có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Bởi vì
khi tìm hiểu, giải mã các biểu tượng văn hóa chúng ta cũng đồng thời thấy được tư tưởng,
tình cảm, phong tục tập quán… của con người trong những cộng đồng văn hóa và lãnh thổ
xác định. Vì vậy, trước khi đi vào khảo sát sự xuất hiện của biểu tượng rắn trong văn hóa thế
giới và đặc biệt trong văn hóa Việt Nam, chúng ta không thể không liên hệ đến khái niệm
biểu tượng văn hóa.
Theo từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới thì bản chất khởi nguyên của biểu tượng là

- Biểu tượng có tính bền vững, ổn định.
Tính bền vững, ổn định là điều kiện không thể thiếu để hình thành nên biểu tượng. Bởi
vì nếu nó luôn thay đổi, nó sẽ không còn mang tính biểu tượng nữa, bởi giữa cái biểu tượng
và cái được biểu tượng không thay đổi hoặc ít thay đổi thì sự khám phá mới có ý nghĩa. Tuy
nhiên, việc giải nghĩa biểu tượng không phải là một thao tác đơn giản có thể giải quyết trong

một lần. Vì biểu tượng không chỉ có một lớp nghĩa mà biểu tượng luôn mang trong nó biết
bao suy tư, thăng trầm của cuộc sống con người.
Biểu tượng sống là biểu tượng còn tiếp tục được giải mã, phân tích, khám phá các lớp
nghĩa bên trong của nó. Sự khám phá đó khiến biểu tượng gợi cảm đến bất tận. Biểu tượng
chết là khi người ta đã lí giải được toàn bộ ý nghĩa của nó, nó trở nên dễ hiểu, được sử dụng
theo một số nghĩa nhất định nào đó và không còn được người ta dày công khám phá nữa.
Tóm lại, giải mã các biểu tượng là việc làm có một ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc
nghiên cứu, tìm hiểu các nền văn hóa trên thế giới. Kết quả của việc giải mã sẽ giúp ta bóc
tách được các lớp lịch sử che phủ lên biểu tượng đồng thời thấy được trình độ tư duy và quan
niệm nghệ thuật của con người qua từng giai đoạn lịch sử.
1.2. Biểu tượng rắn trong văn hóa thế giới
Rắn là một con vật thường gây cho con người nhiều sự sợ hãi cũng như trí tò mò nhất.
Chính vì vậy không riêng gì ở Việt Nam mà hầu như ở các quốc gia trên thế giới, rắn luôn là
đối tượng để mọi người “bàn luận”.
Một nhà phân tâm học từng nói: “Rắn là một con vật có xương sống luôn hiện thân
cho tâm hồn hội đẳng, cho cái tâm tăm tối, cho cái không bình thường, khó hiểu, huyền bí”
[10,tr.762]. Trong lời phát biểu của mình, tác giả này vừa khẳng định nhưng đồng thời ông
cũng phủ định, ông vừa cho rằng rắn là xấu xa nhưng ngay sau đó ông lại cho rằng rắn cũng
có phần khó hiểu, huyền bí.
Cũng cùng với quan điểm đó, Kito giáo vừa cho rắn là một loài vật xấu, độc ác như
quỷ Satan, khi Chúa dùng hình ảnh con rắn để ám chỉ những biệt phái và những luật sĩ cứng
lòng không tiếp nhận lời giảng của Ngài: “Hỡi loài rắn độc kia, các ngươi thoát khỏi ánh
lửa hỏa ngục làm sao được?”
Nhưng ở chỗ khác Giêsu lại dùng hình ảnh con rắn để ví với bản thân mình và ông

lên các luân xa: đấy là dục năng dâng lên, là sự sống tái hiện” [10,tr.763]. Ở Châu Á và
Châu Mỹ, thời kỳ đồ đá rắn được xem là có tính lưỡng trị trong giới tính. Tính lưỡng trị của
nó được bộc lộ ở chỗ nó vừa là tử cung vừa là dương vật. Người ta còn cho rằng nguồn gốc
của các kỳ hành kinh ở phụ nữ là do quan hệ của bà Eva với rắn. Ở một số nước Châu Âu
như Đức, Pháp, Bồ Đào Nha, phụ nữ một số vùng rất sợ rắn chui vào mồm lúc họ đang ngủ
bởi nó sẽ làm cho họ có thai khi đang kỳ hành kinh. Quan niệm về giới tính của biểu tượng

rắn cũng có ở Ấn Độ, để có con những người phụ nữ Ấn Độ phải nhận một con rắn hổ mang
làm con nuôi. Còn người Tupi ở Braxin, để một người phụ nữ vô sinh trở thành mắn đẻ
người ta sẽ cầm một con rắn quật vào háng người phụ nữ vô sinh.
Đối với các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á, xuất phát từ tín ngưỡng bản địa cộng
với sự ảnh hưởng của các tôn giáo Ấn Độ, rắn thường được linh thiêng hóa và tôn thờ như
những vị thần. Thần rắn Naga được xem là người bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân.
Vì vậy mà trong kiến trúc Phật giáo nguyên thủy (Therevada) tại Đông Nam Á, rắn Naga
thường được trang trí trên các mái chùa ngụ ý xua đuổi tà ma và bảo vệ các ngôi chùa tránh
khỏi hỏa hoạn. Theo thần thoại, Naga là vị thần mưa nên có thể phun nước dập lửa. Rắn
Naga trong văn hóa của người Khmer là một hình tượng khá phổ biến, hình tượng này hiện
diện trong văn hóa Khmer có lẽ từ trước khi văn hóa Ấn Độ ảnh hưởng đến vùng đất này vì
người Khmer vốn có tín ngưỡng bản địa thờ rắn. Truyền thuyết lập quốc của người Khmer
cũng đã kể lại sự kết hợp giữa đạo Bàlamôn và văn hóa bản địa (tín ngưỡng thờ rắn) như sau:
Một người Bàlamôn tên là Kaudinya đến vùng Đông Nam Á. Ông ta mang theo một
ngọn lao nhận được của một vị Bàla môn cao đạo nhất. Ông ta vung tay ném ngọn lao vào
vùng đất lạ. Ngọn lao ấy bay vút cao và rơi xuống cắm vào một địa điểm. Điểm ấy được
chọn làm kinh đô nước Phù Nam.
Sau đó, ông ta lấy một nàng công chúa bản địa làm vợ. Nàng tên là Soma, là con gái
vua rắn thần Naga.Và hai người tạo lập nên dòng dõi những người làm vua nước Phù Nam
[8,tr.14 -15] .
Người Khmer, người Chăm và hầu hết các tộc người chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ
đều có truyền thuyết lập quốc gần tương tự nhau như vậy. Vào thế kỷ 14, tại Thái Lan vị vua
đầu tiên của triều đại Sukhothai đã hợp thức hóa việc lên ngôi của mình cũng bằng cách tự

Trở về biểu tượng rắn trong văn hóa Việt Nam mà cụ thể là trong văn hóa dân gian.
Có lẽ ấn tượng đầu tiên của người Việt Nam (ngày nay) khi nhắc đến con rắn là sự sợ hãi.
Rắn dường như chỉ được nhìn theo chiều hướng tiêu cực. Tuy nhiên tìm hiểu trong văn hóa
dân gian của dân tộc ta mới thấy rằng “con rắn” không chỉ mang ý nghĩa xấu mà có một thời
gian khá dài, rắn đã được tôn thờ như một vị thần linh và được nâng lên thành biểu tượng
văn hóa trong khát vọng cầu cho mưa thuận, gió hòa, cuộc sống tốt tươi.

Trước hết, chúng tôi xin nói về biểu tượng tiêu cực. Trong lời ăn tiếng nói của người
xưa, hình tượng rắn thường xuyên xuất hiện với ý nghĩa tiêu cực. Dường như cha ông ta đã
tập trung tất cả những cái xấu ở đời để gán cho rắn.
Để chỉ những người “bề ngoài thơn thớt nói cười” mà bên trong nguy hiểm giết người
không dao cha ông ta nói “khẩu phật tâm xà”. Rồi đề nhắc những người hiền lành coi chừng
làm ơn mắc oán, bị kẻ xấu đổ vạ, cha ông ta lại nhắc khéo: “rắn đổ nọc cho lươn” hay “ấp
rắn trong lòng”.
Để chê bai những kẻ hay bày ra những thứ râu ria phức tạp, vô ích, người xưa dè bỉu:
khéo “vẽ rắn thêm chân”. Rồi tới những chỗ nguy hiểm phải tránh xa người ta lai nhắc nhở
nhau “hang hùm miệng rắn”.
Không chỉ nhắc nhau, người xưa còn mượn hình ảnh rắn để mỉa mai tính cách của một
số người như: “thẳng như rắn bò”, “sư hổ mang, vãi rắn rết”. Và có lẽ một câu nói về rắn
làm cho mọi người nhớ nhất đó là: “cõng rắn cắn gà nhà”. Hành động của kẻ hèn hạ đang
tâm “rước voi về giày mả tổ”, “cõng rắn về cắn gà nhà” trong câu nói này đã đưa rắn trở
thành một kẻ xấu mang tầm cỡ quốc tế.
Chúng ta thắc mắc tại sao rắn lại mang nhiều “tội danh” như vậy? Có lẽ bởi rắn có nọc
độc chết người. Ngoài ra, do đặc điểm sinh sống của rắn lúc ẩn lúc hiện nên hình tượng rắn
trong lời ăn tiếng nói của dân gian thường gắn với sự cảnh giác cao độ.
Bên cạnh cách nhận thức ấy, trong nghệ thuật tạo hình, kiến trúc, hội họa, rắn lại là
một đề tài vô cùng hấp dẫn người nghệ sĩ. Vẻ đẹp uốn lượn mềm mại của rắn, sự nhanh
nhẹn, cái lưỡi, đôi mắt, chót đuôi, những hoa văn trên thân thể… tất cả luôn làm dâng trào
cảm hứng sáng tạo của người nghệ sĩ. Có lẽ hình ảnh cổ xưa nhất của rắn mà ngày nay người
ta thường nhắc tới ở Việt Nam đó là hình giao long được thần dân của đời vua Hùng thứ nhất

sự xuất hiện trở lại của hình tượng rắn trong văn hóa dân gian. Tại đình Tây Đằng, Hà Tây,
người ta đã tạc tượng một người đàn bà ngồi xổm, hai chân giang rộng, hai tay nắm lấy cổ và
đuôi rắn. Đây là một hình ảnh tượng trưng cho tín ngưỡng phồn thực, trong đó rắn được xem
là mang tính dương. Cuối thế kỷ 17, nhờ sự phát triển của nghệ thuật dân dã mà một lần nữa
người ta lại thấy sự xuất hiện của hình tượng rắn tượng trưng cho tín ngưỡng phồn thực. Ở
đình Phù Lão (Bắc Giang), người đương thời đã chạm hình một phụ nữ khỏa thân, với cái
bụng khá to, quấn quanh lưng là một con rắn lớn. Có lẽ hình ảnh này tượng trưng cho sự cầu
phúc trong tín ngưỡng phồn thực (bụng nở) khi âm (người đàn bà) dương (con rắn) giao hòa.

Có thể thấy rằng, không riêng gì ở Phương Tây mà ở Việt Nam ý nghĩa về giới tính của rắn
cũng được người xưa thể hiện khá mạnh dạn. Đến thế kỷ 18, tuy nghệ thuật dân dã không
còn phát triển nhưng đôi khi hình tượng rắn vẫn được xuất hiện ở những công trình kiến trúc
lớn của người đương thời như: ở Đền Gióng (Phù Đổng − Hà Nội), các nghệ nhân đã chạm
một đôi rắn đang chui ra từ mũi rồng. Sang thế kỷ 19, người ta lại thấy con rắn lại cuộn mình
đẹp đẽ trên chiếc cửu đỉnh thiêng liêng của vương triều Nguyễn tại Huế. Và ngày nay, người
ta vẫn còn thấy vô số hình rắn Naga được chạm khắc rất công phu trong những ngôi chùa cổ
kính của người Khơme Nam bộ.
Không chỉ xuất hiện trong lĩnh vực tạo hình, rắn còn xuất hiện trong đời sống tín
ngưỡng của dân tộc. Là một đất nước với đa phần cư dân lao động trong lĩnh vực nông
nghiệp cho nên khí hậu là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của người dân.
Chính vì điều đó mà rắn − tượng trưng cho nước là vị thần linh thiêng mang lại cuộc sống no
đủ, hạnh phúc cho con người.
Trong những đền thờ Mẫu (mẫu thiên, mẫu địa, mẫu thoải) - một tín ngưỡng gắn với
nông nghiệp, luôn có một đôi rắn gọi là Thanh xà - Bạch xà bằng vải, bò vắt trong cung thờ.
Chính vì tượng trưng cho nước nên hình ảnh rắn luôn xuất hiện trong các lễ hội liên quan
đến việc cầu nước, cầu mưa, của đại đa số các cư dân ở vùng đồng bằng Việt Nam, mà tập
trung nhất vẫn là ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ nước ta. Có thể kể ra một số lễ hội liên quan
tới rắn như: lễ hội rắn ở làng Lệ Mật - Hà Nội, lễ hội rước nước ở đình Nhật Tân - Hà Nội, lễ
hội cầu nước ở Lãnh Giang, Cửa sông - Hà Nam, lễ hội đền Tranh ở Ninh Giang - Hải
Dương, lễ hội rước thần Hang Lạng ở Xuân Sơn − Phú Thọ, lễ hội bơi bè ở Phài Lừa − Lạng

ra một số truyện tiêu biểu như: Chàng rắn, Chàng tiên rắn, lấy chồng rắn…
Ở đây, chúng tôi chỉ nêu lên nét tương đồng về sự hiện hữu của biểu tượng rắn trong
văn học dân gian và các hình thái nhận thức khác, còn biểu hiện cụ thể chúng tôi sẽ trình bày
ở chương sau.
Nói tóm lại, rắn trong văn hóa dân gian của người Việt là một trong những biểu tượng
khá phong phú về ý nghĩa. Cũng như quan niệm về con rắn trên thế giới, con rắn trong văn
hóa dân gian Việt Nam cũng hàm chứa cả ý nghĩa tốt lẫn ý nghĩa xấu. Mỗi khu vực và mỗi
giai đoạn lịch sử mà nó xuất hiện lại mang đến cho ta những ý nghĩa khác nhau. Nó góp phần
làm phong phú thêm thế giới biểu tượng trong văn hóa của người Việt Nam.
Trên đây, vừa khảo sát sự xuất hiện của biểu tượng rắn trong văn hóa thế giới và văn
hóa dân gian Việt Nam. Qua sự phong phú về ý nghĩa biểu đạt của biểu tượng, chúng ta thấy

rằng rắn là một biểu tượng văn hóa lâu đời và khá bền vững trong hệ thống biểu tượng văn
hóa thế giới. Mỗi quốc gia đều có những ý nghĩa riêng cho biểu tượng rắn. Tuy nhiên một ý
nghĩa tượng trưng lớn nhất bao trùm nhiều quốc gia, dân tộc, đó là rắn tượng trưng cho thủy
thần. Đối với các quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á thì ý nghĩa này lại càng đậm
đặc. Xuất phát từ môi trường tự nhiên có nhiều điểm chung hình thành nên nền văn minh lúa
nước, ở các nước như: Lào, Campuchia, Thái Lan, Inđônêxia, Mianma…nước được xem là
yếu tố vô cùng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Với sự tồn tại của nhiều hội lễ cầu
nước gắn với tín ngưỡng thờ thần nước, rắn – tượng trưng cho thủy thần được xem là vị thần
chi phối phần lớn cuộc sống của các cư dân làm nông nghiệp. Đối với Việt Nam đặt trong
tương quan với thế giới và khu vực thì biểu tượng rắn cũng mang nhiều nét nghĩa tương
đồng. Tuy nhiên, với một nền văn minh lâu đời và đậm đà bản sắc dân tộc, biểu tượng rắn
cũng được thể hiện theo những cách rất Việt Nam. Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi
sẽ làm rõ nét đặc trưng của biểu tượng rắn trong những truyện kể dân gian Việt Nam.
Chương hai
HÌNH TƯỢNG RẮN TRONG TRUYỆN KỂ DÂN GIAN

Bộ và Bắc Trung Bộ.
Trong quá trình khảo sát 21 truyện đã chọn, chúng tôi thấy sự xuất hiện của hình
tượng rắn qua hai xu hướng sau:
+ Rắn được linh thiêng hóa.
+ Rắn tượng trưng cái ác hại người.
2.1. Hình tượng rắn trong nhóm truyền thuyết về thủy thần
Nét nổi bật nhất của các truyện kể về rắn ở khu vực này là thường gắn với sự linh
thiêng hóa rắn trong tín ngưỡng thờ thủy thần. Rắn thường xuất hiện như một vị thần linh
thiêng cai quản vùng sông nước, cai quản cả mùa màng. Vì vậy mà để cuộc sống no đủ, bình
yên, người dân thường lập các đền thờ rắn ở gần những con sông. Như trên đã nói thì đây
chúnh là nét tương đồng phổ biến cho các nước trong khu vực có chung nền văn minh lúa
nước.
Về truyện có nội dung linh thiêng hóa rắn chúng tôi thấy có 14 truyện. Dựa vào nội
dung truyện, chúng tôi chia nhóm 14 truyện này ra thành 2 nhóm nhỏ.
Ở nhóm nhỏ thứ nhất, chúng tôi tạm gọi là nhóm “Ông Cộc ông Dài”. Ở đây chúng tôi
không xét những truyện này như người ta từng xét nó như những dị bản của một truyện mà
chúng tôi sẽ nghiên cứu những truyện này như một kiểu truyện đặc trưng và phổ biến của
khu vực Bắc bộ và Bắc Trung bộ. Nhóm này bao gồm 6 truyện sau: Bà Tăng Má, sự tích
Ghềnh Bợ, sự tích ông Cộc ông Dài ở Thác Huống − Thái Nguyên, sự tích ông Cụt ông Dài
ở Yên Thành - Nghệ An, sự tích ông Cụt ông Dài ở Nam Đàn - Nghệ An, truyền thuyết đình
làng Văn Xá (Hà Nam)
Ở nhóm nhỏ thứ hai, chúng tôi tạm gọi là “anh hùng rắn” gồm 8 truyện sau: Ông Lỗ
ông Minh, Linh Lang đại vương, Hiển công thần, Truyện nàng công chúa đời Trần, truyền
thuyết Phổ Độ Hổ Độ (Phả Lễ - Hải Phòng), Hai anh em thủy thần sinh đôi đánh giặc
Lương, truyền thuyết đền Lảnh Giang, Long thần.
Trước tiên chúng ta đi tìm hiểu nhóm truyện thứ nhất trong nội dung linh thiêng hóa rắn:
2.1.1. Nhóm truyện “Ông Cộc ông Dài”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status