ĐỀ TÀI: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
Luận văn
ĐỀ TÀI: VỀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐẠO ĐỨC
HỒ THỊ MẠNH – ĐH TCNH 2 1
ĐỀ TÀI: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
Mục lục
A: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
2. Phạm vi nghiên cứu đề tài.
3. Mục đích nghiên cứu đề tài.
4. Cơ sở, phương pháp nghiên cứu đề tài.
5. Ý nghĩa.
6. Cấu trúc của đề tài.
B: NỘI DUNG
I. Nội dung cơ bản của tư tưởng HỒ CHÍ MINH về đạo đức.
1. Quan điểm về vai trò và sức mạnh của đạo đức.
2. Quan điểm về những chuẩn mực đạo đức cách mạng.
3. Quan điểm về những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới.
4. Một số lời dạy của Bác Hồ về đạo đức, lối sống.
II.Sinh viên học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
1. Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
2. Nội dung học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
3. Liên hệ bản thân.
C. KẾT LUẬN
Tài liệu tham khảo
HỒ THỊ MẠNH – ĐH TCNH 2 2
ĐỀ TÀI: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
A: MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lãnh tụ vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam, Anh hùng
- Vận dụng các phương pháp liên ngành: thống kê, tổng hợp, so sánh, phân
tích.
Phạm vi nghiên cứu là toàn bộ những nội dung cơ bản và giá trị của tư tưởng Hồ
Chí Minh về đạo đức.
Ý nghĩa:
Làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về những nội dung cơ bản và
giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tạo sự
chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên,
công chức, viên chức, đoàn viên, thanh niên, học sinh nâng cao đạo đức cách
mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi
Nghị quyết Đại hội X của Đảng.
Cấu trúc:
HỒ THỊ MẠNH – ĐH TCNH 2 4
ĐỀ TÀI: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
B: NỘI DUNG
I. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
1. Quan điểm về vai trò và sức mạnh của đạo đức
a) Đạo đức là gốc của người cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nêu một tấm gương mẫu mực về thực
hành đạo đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Suốt cuộc đời hoạt
động cách mạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện
đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thống kê trong di sản
Hồ Chí Minh để lại có tới gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức. Có thể
nói, đạo đức là một trong những vấn đề quan trọng của Hồ Chí Minh trong sự
nghiệp cách mạng.
Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách
mạng, Người khẳng định đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển của con
Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì
phải giấu Đảng. Ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích riêng phải lo toan. Lúc
Đảng giao cho việc, thì bất kì to nhỏ, đều ra sức làm cẩn thận. Thấy việc phải thì
làm, thấy việc phải thì nói. Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình
người khác cũng luôn luôn đúng đắn.
Trí vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng
suốt. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng. Biết xem người, biết xét việc. Vì
vậy, mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cân
nhắc người tốt, đề phòng người gian.
Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan
sữa chữa. Cực khổ, khó khăn có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh
hoa, phú quý, không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hi sinh cả tính mệnh cho
Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát.
Liêm là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. không
ham người tưng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ
hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ.
Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo
đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích
chung của Đảng, của dân tộc, của loài người.
Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây
phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không
có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân.
HỒ THỊ MẠNH – ĐH TCNH 2 6
ĐỀ TÀI: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Người trăn trở với nguy cơ xa rời cuộc sống,
xa rời quần chúng, rơi vào thoái hóa biến chất của Đảng. Vì vậy, Hồ Chí Minh
yêu cầu Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”. Người thường nhắc lại ý của
V.I.Lênin: Đảng cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân
tộc và thời đại. Trong di chúc Người căn dặn: “mỗi đảng viên và cán bộ phải
thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô
Theo Hồ Chí Minh những chuẩn mực chung nhất của nền đạo đức cách mạng
Việt Nam gồm những điểm sau:
Một là, trung với nước hiếu với dân.
Đây là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất và chi phối các phẩm chất
khác.Trong Nho giáo, khái niệm “trung-hiếu” là trung với vua, hiếu với cha mẹ.
Đây là một nguyên tắc cơ bản trong chế độ phong kiến ở Việt Nam. Thái độ
ứngxử văn hoá trong xã hội phong kiến phải tuân theo cái trục cơ bản đó, nếu
không, sẽ bị vi phạm tư cách, đạo đức làm người. Từ đó Hồ Chí Minh đưa vào
đó một nội dung mới, phản ánh đạo đức ngày nay cao rộng hơn là “Trung với
nước hiếu với dân”. Đó là một cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức.
“Trung với nước hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ
quốc vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng
vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Câu nói đó của Người vừa là lời kêu gọi
hànhđộng, vừa là định hướng chính trị-đạo đức cho mỗi người Việt Nam không
phải chỉ trong cuộc đấu tranh cách mạng trước mắt, mà còn lâu dài về sau.
Trong chữ “trung” như vậy, có cả trung với những ông vua anh minh, nhưng
cũng có cả trung với ông vua hèn kém, mà có thể gọi đó là “ngu trung”. Bởi vì,
Nho giáo đưa ra nguyên tắc trong quan hệ quân – thần (tức vua – tôi) rất cứng
nhắc và sai lầm: “Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung” (Nghĩa là vua bắt bề
tôi phải chết thì bề tôi phải chết, nếu không chết thì là không trung với vua).
Hồ Chí Minh cho rằng, người cách mạng phải đặt quyền lợi của Tổ quốc lên
trên hết và trước hết. Trung với nước ở Hồ Chí Minh trở thành lẽ sống tự nhiên
và ông ý thức được trách nhiệm phục vụ nhân dân, kể cả khi đã đứng ở đỉnh
tháp của quyền lực. Hồ Chí Minh không bị quyền lực làm cho mờ mắt. Ông cho
rằng, từ người chủ tịch nước cho đến người cấp dưỡng, quét rác, ai mà làm tròn
nhiệm vụ của mình thì đều là người cao thượng, là người làm tròn chữ “trung”.
HỒ THỊ MẠNH – ĐH TCNH 2 8
ĐỀ TÀI: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
Mỗi một người trong xã hội đều ứng với một công việc cụ thể, một nhiệm vụ cụ
thể; hễ người nào hoàn thành và hoàn thành tốt việc đó, nhiệm vụ đó thì đó là
mọi người hiểu rõ, mọi người đều thực hành.
Đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là một nội dung của cái gốc đạo
đức, cái gốc của sự phát triển trong triết lý hành động của Hồ Chí Minh. Người
mà nói và viết về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư nhiều nhất, người mà
kêu gọi mọi người thực hành và tự mình “xắn tay áo” lên để thực hành cần,
kiệm, liêm, chính, chí công vô tư nhiều nhất chính là Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh phân các mối quan hệ của con người thành ba loại: đối với người,
đối với việc, đối với mình. Tôi nghiệm thấy rằng, mối quan hệ tự mình đối với
bản thân mình là khó xử lý nhất. Tự thấy, tự phê bình, tự xử…vẫn là đòi hỏi bản
thân mình nhìn lại mình. Nhìn lại chính mình khó lắm, đánh giá bản thân mình
khó lắm.
Hồ Chí Minh chính là kẻ sĩ đi làm chính trị có nhân, nếu đối chiếu theo các luận
điểm về kẻ sĩ của Khổng Tử mà Phan Bội Châu đề cập trong tác phẩm Khổng
học đăng của mình. Kẻ sĩ làm người hoạt động chính trị có nhân, theo Khổng
Tử, có năm đức tính:
1. Cung: tự mình đặt ra yêu cầu nghiêm túc đối với bản thân mình về cả ý thức
cũng như hành vi, biết tự mình quản lý lấy bản thân mình;
2. Khoan: khoan dung, độ lượng, có tấm lòng khoan thứ đối với mọi người;
3. Tín: có lòng tự tin, tin ở quần chúng, tin cấp dưới, giữ đúng chữ tín, đã nói thì
phải làm bằng được, không nói một đằng làm một nẻo, không lừa dối nhân dân
để trục lợi;
4. Mẫn: là cần mẫn, siêng năng, làm việc có hiệu quả thực sự;
5. Huệ: biết đưa lại lợi ích cho nhân dân, thực sự thông cảm với dân, không tráo
trở với dân, cùng dân mưu sự nghiệp chứ không dùng sức dân, mưu dân, tiền
thuế của dân để mưu đồ làm giàu cho bản thân mình.
HỒ THỊ MẠNH – ĐH TCNH 2 10
ĐỀ TÀI: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
Cái thuyết “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của Khổng giáo đã có từ
khoảng 2 500 năm trước nói lên tầm quan trọng từ bản ngã, từ chính cá nhân con
người trong quan hệ cộng đồng. Trước hết là tu thân đã. Đó là cá nhân. Cá nhân,
hao thì giờ, tốn năng lượng, mà việc lại mau thành.
HỒ THỊ MẠNH – ĐH TCNH 2 11
ĐỀ TÀI: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
Trái lại, nếu anh ấy không sắp đặt sẵn sàng trước, khi cần đến cưa mới chạy đi
lấy cưa, khi cần đến đục thì chạy đi tìm đục. Như vậy sẽ mất thì giờ chạy lăng
xăng cả ngày, mà công việc được ít.
Cần không phải là làm xổi. Nếu làm cố chết, cố sống trong một ngày, một tuần,
hay một tháng, đến nổi sinh ốm, phải bỏ việc. Như vậy không phải là cần.
Cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời. Nhưng không làm
quá trớn. Phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc cho
lâu dài.
Trong quan niệm về Cần của Hồ Chí Minh, ngoài những nội dung trên đây, tôi
thấy có hai điểm đặc sắc:
Một, Cần còn là kiên trì, bền bỉ, dẻo dai trong mọi công việc. Đó là đức tính
kiên tâm, quyết tâm làm bằng được những việc mà mình coi là đúng. Hồ Chí
Minh cả những lúc hòa bình, cả những lúc khẩn trương của chiến tranh, thường
có kế hoạch công việc thật tỷ mỷ và ông cố gắng hoàn thành theo đúng kế
hoạch; nếu hôm nay chưa xong thì hôm sau phải làm bù trở lại. Kiên trì sẽ
không làm cho người ta nản lòng, nản chí; dù có 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc
lâu hơn nữa vẫn kiên trì đánh đuổi quân xâm lược Mỹ. Làm việc gì thì quyết
tâm, kiên nhẫn, đời này chưa xong thì đời tiếp làm cho xong. Đây là sự thi gan
của một đức tính dẻo dai.
Hai, Cần còn là tăng năng suất lao động, là làm việc có hiệu quả, có kết quả tốt.
Không phải cứ làm hùng hục là siêng năng, tích cực, là Cần. Làm hùng hục cả
tuần, cả tháng mà không có kết quả, không có hiệu quả, không có năng suất lao
động cao thì không bằng làm chỉ có một ngày mà có kết quả tốt. Cái năng suất
lao động quan trọng lắm đối với thành quả lao động của từng cá nhân và cả xã
hội.
Thật ra, xét theo quan điểm xây dựng chủ nghĩa xã hội của V.I. Lênin thì chủ
nghĩa xã hội chỉ chiến thắng được chủ nghĩa tư bản ở chỗ có năng suất lao động
rất lớn — ông liệu trước và sợ nhiều người không dám chi cho công việc này
đúng mức, ông dặn rằng, “chớ coi đồng tiền to như cái nống” (cái nống là
phương ngữ của miền trung, nghĩa là cái nong).
Tiết kiệm hiểu theo nghĩa của Hồ Chí Minh thật biện chứng. Ngay trong thời kỳ
kháng Pháp, ông đã nêu ra quan điểm về quản lý tài chính, quản lý ngân sách.
Hồ Chí Minh cho rằng: việc gì đáng chi phải chi. Việc gì chưa đáng chi khoan
hẵng chi. Việc gì không đáng chi dứt khoát không chi. Đó là ba đoản luận có
tính nguyên tắc mà những nhà kinh tế, những nhà quản lý tài chính, quản lý
ngân sách, kể cả cá nhân, kể cả các bà nội trợ tay hòm chìa khoá trong từng gia
đình có khi học cả đời chưa thuộc bài.
HỒ THỊ MẠNH – ĐH TCNH 2 13
ĐỀ TÀI: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
Sẽ biết con người ta khôn hay không khôn khi người đó cầm tiền và chi xài như
thế nào. Tiết kiệm, theo Hồ Chí Minh, là còn ở nghĩa như trên đây, chứ không
phải cứ ki bo kẹt xỉ. Cần và kiệm phải gắn chặt với nhau và nó liên quan chặt
chẽ với việc chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Trong đối ngoại, Hồ Chí Minh
cho rằng, nếu chúng ta “thi” với nhiều nước về cái giàu sang qua những việc đãi
khách, qua xe cộ, qua trang phục của những cán bộ tiếp khách thì chúng ta thua.
Chúng ta không nên thi về những cái đó, mà nên thi về tiết kiệm; về khoản thi
này nếu chúng ta làm tốt thì chúng ta vẫn thắng.
Cần với kiệm, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người.
Cần mà không kiệm, “thì làm chừng nào sào chừng ấy”. Cũng như một cái
thùng không có đáy, nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại
hoàn không.
Kiệm mà không cần, thì không tăng thêm, không phát triển. Mà vật gì đã không
tiến tức phải thoái. Cũng như cái thùng chỉ đựng một ít nước, không tiếp tục dổ
thêm vào, lâu ngày chắc nước đó sẽ hao bớt dần, cho đến khi khô kiệt.
LIÊM
Liêm tức là "luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân"; "không xâm
phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân". Phải "trong sạch,
Chính có nghĩa là thẳng thắn, là không tà, là việc gì mà tốt thì dù nhỏ cũng cố
làm, việc gì mà xấu thì dù nhỏ cũng cố tránh. Muốn chính thì, như Hồ Chí Minh
viết: “phải có công tâm, có công đức. Chớ đem của công dùng vào việc tư. Chớ
đem người tư làm việc công. Việc gì cũng phải công bình, chính trực, không nên
vì tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán. Mình có quyền dùng người thì phải dùng
những người có tài năng, làm được việc. Chớ vì bà con bầu bạn, mà kéo vào
chức nọ, chức kia. Chớ vì sự mất địa vị mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình.
Phải trung thành với Chính phủ, với đồng bào. Chớ lên mặt làm quan cách
mệnh”.
Bất kỳ ở từng lớp nào, giữ địa vị nào, làm nghề nghiệp gì, sự hoạt động của một
người trong xã hội có thể chia làm ba mặt:
- Mình đối với mình.
- Mình đối với việc.
- Mình đối với công việc.
ĐỐI VỚI MÌNH:
Chớ tự kiêu, tự đại. Tự kiêu, tự đại là khờ dại. Vì mình hay, còn nhiều người hay
hơn mình. Mình giỏi, còn nhiều người giỏi hơn mình. Tự kiêu, tự đại tức là thoái
bộ. Sông to, biển rộng, tức là bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó
rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ
lượng nó hẹp hòi. Người mà tự kiêu, tự mãn, cũng như cái chén, cái đĩa cạn.
Luôn luôn cầu tiến bộ. Không tiến bộ thì là ngừng lại. Trong khi mình dừng lại
thì người ta cứ tiến bộ. Kết quả là mình thoái bộ, lạc hậu.
HỒ THỊ MẠNH – ĐH TCNH 2 15
ĐỀ TÀI: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
Tiến bộ không giới hạn. Mình cố gắng tiến bộ, thì chắc tiến bộ mãi.
Luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình
đã làm, để phát triển điều hay của mình, sữa đổi khuyết điểm của mình. Đồng
thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình.
Tự mình phải chính trước mới giúp được người khác chính; mình không chính
mà muốn người khác chính là vô lý.
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Hồ Chí Minh cho rằng, có chí công vô tư thì lòng dạ mới trong sáng, đầu óc mới
sáng suốt để chăm làm những việc ích quốc lợi dân. Ông giải tích: lòng mình chỉ
biết vì Tổ quốc, vì đồng bào thì sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư; có chí công vô tư
thì mới có năm đức tính tốt là nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm – là những phẩm chất
đạo đức của người cách mạng.
Nhìn trở lên bên trên, đến đây, chúng ta thấy rõ hơn cái triết lý phát triển trong
hành động của Hồ Chí Minh ở 8 chữ: “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô
tư”.
Ba là, yêu thương con người, sống có tình nghĩa.
Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người rất toàn diện và độc đáo. Hồ Chí
Minh đã xác định tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo
đức cao đẹp nhất. Người dành tình yêu thương rộng lớn cho những người cùng
khổ. Những người lao động bị áp bức bóc lột, Người viết: "Tôi chỉ có một sự
ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập,
dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được
học hành".
Hồ Chí Minh yêu thương đồng bào, đồng chí của Người, không phân biệt họ ở
miền xuôi hay miền ngược, là trẻ hay già, trai hay gái không phân biệt một ai,
không trừ một ai, hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ trong tấm lòng
nhân ái của Người.
Tình yêu thương của Người còn thể hiện đối với những người có sai lầm khuyết
điểm. Với tấm lòng bao dung của một người cha, Người căn dặn, chúng ta: "Mỗi
con người đều có thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết làm cho phần tốt ở trong
mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái
độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, từ hạng người
phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho
cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập
cho tơi bời".
HỒ THỊ MẠNH – ĐH TCNH 2 17
Đoàn kết quốc tế là nhằm thực hiện những mục tiêu lớn của thời đại và hòa
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, là hợp tác và hữu nghị theo tinh
thần: bốn phương vô sản, bốn bể đều là anh em. Trong suốt cuộc đời hoạt động
cách mạng, Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân
HỒ THỊ MẠNH – ĐH TCNH 2 18
ĐỀ TÀI: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
dân Việt Nam và nhân dân thế giới, đã tạo ra một kiểu quan hệ quốc tế mới: đối
thoại thay cho đối đầu, nhằm kiến tạo một nền văn hóa hòa bình cho nhân loại.
3. Quan điểm về những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới
a) Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức.
Nói đi đôi với làm, Hồ Chủ tịch coi đây là nguyên tắc quan trọng bậc
nhât trong xây dựng một nền đạo đức mới. Điều này được Hồ Chí Minh khẳng
định tuef giữa những năm 20 của thế kỷ XX trong tác phẩm đường cách mệnh.
Bản thân Hồ Chí Minh là tấm gương trong sáng tuyệt vời về lời nói đi đôi với
việc làm. Nói đi đôi với làm là đặc trưng bản chất của tư tưởng đạo đức Hồ Chí
Minh – đạo đức cách mạng. Nói đi đôi với làm đối lập hoàn toàn với thói đạo
đức giả của giai cấp bóc lột, nói một đằng làm một nẻo, Thậm chí nói mà không
làm. Ngay sau thắng lợi của cách mạng tháng tám, Hồ Chí Minh đã chỉ ra những
biểu hiện của thói đạo đức giả ở một số cán bộ, “ vác mặt làm quan cách mạng”,
nói mà không làm. sau này Người đã nhiều lần bàn đến việc tẩy sạch căn bệnh
quan liêu, coi thường quần chúng của một số cán bộ, đảng viên “miệng thì nói
dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “ quan” chủ. “ Miệng thì nói “ sự quần
chúng”, nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng, trái ngược với
phương châm, chính sách của đảng và Chính phủ, làm tổn hại uy tín của đảng và
chính phủ trước nhân dân.
Nêu gương về đạo đức là một nét đẹp của truyền thống văn hóa phương Đông.
Nói đi đôi với làm phải gắn liền với nêu gương về đạo đức. Hồ Chí Minh đã có
lần chỉ rõ: “nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối
với họ một tấm gương sống còn có gí trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên
truyền”. Với ý nghĩa đó, Hồ Chí Minh đã đào tạo các thế hệ cán bộ cách mạng
cho phần tốt ở trong lòng mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu
bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”. Bản thân người tự giác cũng
có một phẩm chất đạo đức cao quý đối với mỗi người, mỗi tổ chức, trước hết là
Đảng.
Xây phải đi đôi với chống, với việc loại bỏ cái sai, cai xấu, cái vô đạo đức trong
đời sống hằng ngày. Hồ Chí Minh cho rằng, trên con đường đi tới tiến bộ và
cách mạng, đạo đức mới chỉ có thể được xây dựng thành công trên cơ sở kiên trì
chống mục tiêu chủ nghĩa đế quốc, chống những thói quen, tập quán lạc hậu và
loại trừ chủ nghĩa cá nhân. Đây thực sự là “ một cuộc chiến đấu khổng lồ’ giữa
tiến bộ và lạc hậu, giữa cách mạng và phản cách mạng. Để giành được thắng lợi
trong cuộc chiến đấu này, điều quan trọng là phải phát hiện sớm, phải tuyên
truyền, vận động
HỒ THỊ MẠNH – ĐH TCNH 2 20
ĐỀ TÀI: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
Hình thành phong trào quần chúng rộng rãi đấu tranh cho sự lành mạnh, trong
sạch về đạo đức.
c) Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời.
Đạo đức cách mạng là đạo đức dấn thân, đạo đức trong hành động vì độc lập tự
do của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân. Chỉ có trong hành động, đạo đức cách
mạng mới bộc lộ rõ những giá trị của mình. Do vậy, đạo đức cách mạng đòi hỏi
mỗi người phải tự giác rèn luyện thông qua hoạt động thực tiễn, trong công việc,
trong các mối quan hệ của mình, phải nhìn thẳng vào mình, không tự lừa dối,
huyễn hoặc; phải thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện của mình để phát huy và thấy
rõ cái dở, cái xấu, cái ác của mình để khắc phục; phải kiên trì rèn luyện, tu
dưỡng suốt đời như công việc rửa mặt hằng ngày.
Hồ Chí Minh khẳng định đạo đức không phải là thứ có sẵn trong mỗi người mà
đạo đức là do con người tiếp thu được qua giáo dục và tạo thành nhờ bản thân
tích cực tu dưỡng bền bỉ rèn luyện trong môi trường sống và trong cuộc đấu
tranh cách mạng. Người đưa ra lời khuyên rất dễ hiểu: "Đạo đức cách mạng
không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà
(Bài nói chuyện với bộ đội, công an và cán bộ trước khi vào tiếp quản Thủ đô.Ngày 5
tháng 9 nǎm 1954.T.7, Tr.346)
- “Trong giáo dục không những phải có tri thức phổ thông mà phải có đạo
đức cách mạng. Có tài phải có đức. Có tài không có đức, tham ô hủ hoá
HỒ THỊ MẠNH – ĐH TCNH 2 22
ĐỀ TÀI: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
có hại cho nước. Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không
giúp ích gì được ai”.
(Bài nói chuyện tại lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp I.Ngày 12 tháng 6 nǎm
1956. T.8, Tr.184.)
- “Công trạng của cá nhân chủ yếu là nhờ tập thể mà có. Vì vậy người có
công trạng không nên tự kiêu mà cần khiêm tốn. Khiêm tốn và rộng
lượng, đó là hai đức tính mà người cách mạng nào cũng phải có”.
(Nói chuyện tại lớp chỉnh huấn trung, cao cấpcủa Bộ Quốc phòng và các lớp trung cấp
của các tổng cục.Tháng 5 nǎm 1957. T.8, Tr.391)
- “…Cần, Kiệm, Liêm, Chính” là nền tảng của Đời sống mới, nền tảng của
Thi đua ái quốc.
- Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
Thiếu một mùa, thì không thành trời.
Thiếu một phương, thì không thành đất
Thiếu một đức, thì không thành người.
…
- Cần với Kiệm, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người.
Cần mà không Kiệm, “thì làm chừng nào xào chừng ấy”. Cũng như một
cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy,
không lại hoàn không.
Kiệm mà không Cần, thì không tǎng thêm, không phát triển được. Mà vật
gì đã không tiến tức phải thoái. Cũng như cái thùng chỉ đựng một ít nước,
- “Luôn luôn cầu tiến bộ. Không tiến bộ thì là ngừng lại. Trong khi mình
ngừng lại thì người ta cứ tiến bộ. Kết quả là mình thoái bộ, lạc hậu.
Tiến bộ không giới hạn. Mình cố gắng tiến bộ, thì chắc tiến bộ mãi.
Luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình những lời mình đã nói, những việc
mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của
mình.
Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình”
(Cần kiệm liêm chính. Tháng 6 nǎm 1949. T.5, Tr. 644)
- “Thang thuốc chữa bệnh quan liêu:
+ Phải đặt lợi ích dân chúng lên trên hết, trước hết.
+ Phải gần gũi dân, hiểu biết dân, học hỏi dân.
+ Phải thật thà thực hành phê bình và tự phê bình.
+ Phải làm kiểu mẫu: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư”.
(Phải tẩy sạch bệnh quan liêu. Báo Sự thật, số 140,ngày 2tháng 9 nǎm 1950. T.6,
Tr.90)
- “Dao có mài, mới sắc.
Vàng có thui, mới trong.
Nước có lọc, mới sạch.
Người có tự phê bình, mới tiến bộ”.
(Tự phê bình. Báo Nhân dân, số 9,ngày 20 tháng 5 nǎm 1951. T.6. Tr.209)
HỒ THỊ MẠNH – ĐH TCNH 2 24
ĐỀ TÀI: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
- “Phải thật sự mở rộng dân chủ trong cơ quan. Phải luôn luôn dùng cách
thật thà tự phê bình và thẳng thắn phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên.
Phải kiên quyết chống cái thói “cả vú lấp miệng em”, ngǎn cản quần
chúng phê bình”.
(Nhiệm vụ của chi bộ ở các cơ quan.Báo Nhân dân, số 176, từ ngày 6 đến 10-4-1954.
T.7, Tr.269)
II. SINH VIÊN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ
CHI MINH