tư tưởng hồ chí minh với dạo đức nghề nghiệp và đạo đức nghành ngân hàng - Pdf 10

Đề tài:Tư tưởng Hồ Chí Minh với dạo đức nghề nghiệp và đạo đức
nghành Ngân hàng
I-Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức

Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và giáo dục đạo
đức cho cán bộ,đảng viên.Một trong những bài giảng đầu tiên cho tầng lớp
thanh niên trí thức yêu nước đầu tiên cuả Việt Nam từ những năm 20 của thế
kỷ trước là bài giảng về”tư cách người cách mạng”.Đến khi viết di chúc
Người vẫn dành một phần quan trọng để bàn về vấn đề đạo đức,yêu cầu mỗi
đảng viên cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng,Đảng phải
chăm lo đến giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên,đào
tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa hồng vừa
chuyên.
Hồ Chí Minh xem xét tới đạo đức trên cả 2 phương diện lý luận và thực
tiễn.Về mặt lý luận Người để lại cho chúng ta một hệ thống quan điểm sâu
sắc và toàn diện về đạo đức.Về thực tiễn Người coi thực hành đạo đức là
một mặt không thể thiếu của cán bộ đảng viên.Cũng như Lênin Hồ Chí Minh
đào tạo các chiến sĩ cách mạng không chỉ băng chiến lược sách lược mag
còn bằng chính tấm gương đạo đức trong sáng của mình.
Khi đánh giá vai trò của đạo đức cách mạng,Hồ Chí Minh coi đạo đức là
nền tảng của người cách mạng,cũng như gốc của cây ngọn nguồn của sông
suối.Đạo đức là gốc là nền tảng vì liên quan đến đảng cầm quyền.Hồ Chí
Minh trăn trở với nguy cơ của đảng cầm quyền,đó là sự sai lầm về đường lối
và suy thoái về đạo đức cách mạng của người cán bộ đảng viên.Đảng cầm
quyền lãnh đạo toàn xã hội ,lãnh đạo nhà nước,nếu cán bộ ,đảng viên của
đảng không tự tu dưỡng về mặt đạo đức cách mạng thì mặt trái của quyền
lực có thể làm tha hóa con người.Vì thế Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng phải là
đạo đức là văn minh.Người thường nhắc lại ý của Lênin:Đảng Cộng sản phải
tiêu biểu cho trí tuệ danh dự lương tâm của dân tộc và thời đại.Người nói
cán bộ đảng viên muốn cho dân tin dan yêu dân phục thì không phải viết lên
trán chữ cộng sản là được quần chúng yêu mến.Quần chúng chỉ quý mến

đấu tranh cách mạng của các dân tộc,Hồ Chí Minh cho rằng trên đời này có
nhiều người nhiều công việc nhưng có thể chia thành hai hạng người thiện
và ác và hai thứ việc chính và tà.Làm việc chính là người lương thiện làm
việc tà là người ác.Từ đó người kết luận:những người bị áp bức bóc lột
những người làm điều thiện thì dù màu da,tiếng nói,chủng tộc,tôn giáo khác
nhau,vẫn có thể thực hành chữ”bác ái”,vẫn có thể đại đoang kết,đại hòa
hợp,coi nhau như anh em một nhà.
Tình thương yêu con người ở Hồ Chí Minh không chung chung,trừu tượng
kiểu tôn giáo,mà luôn luôn được nhận thức và giải quyết trên lập trường của
giai cấp vô sản,dành cho các dân tộc và con người bị áp bức ,đau khổ.
Hồ Chí Minh thương yêu con người với một tình cảm sâu sắc,vưa bao la
rộng lớn,vừa gần gũi thân thương.Hồ Chí Minh luôn sống giữa cuộc đời và
không có cái gì thuộc về con người đối với Hồ Chí Minh lại là xa lạ.Người
quan tâm đến tư tưởng,công tác,đời sống của từng người,việc ăn,việc
mặc,ở,học hành giải trí của mỗi người dân.Tình thương yêu con người ở Hồ
Chí Minh luôn gắn liền với những hành động cụ thể,phấn đấu vì độc lập của
Tổ quốc,tự do hạnh phúc cho con người.
+)Tinh thần quốc tế trong sáng,thủy chung
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất,hòa quyện giữa chủ nghĩa yêu
nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.
Chủ nghĩa quốc tế là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của đạo
đức cộng sản chủ nghĩa.Nó bắt nguồn từ bản chất quốc tế của giai cấp công
nhân và của xã hội chủ nghĩa.
Nội dung chủ nghĩa quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh rộng lớn và sâu
sắc.Đó là sự tôn trọng và thương yêu tất cả các dân tộc,nhân dân các
nước,chống sự hăng thù bất bình đẳng dân tộc và sự phân biệt chủng
tộc.Ngươig khẳng định:bốn phương vô sản,bốn bề đều là anh em,giúp bạn là
giúp mình,thắng lợi của mình cũng là thắng lợi của nhân dân thế giới.Người
đã góp một phần to lớn,có hiệu quả xây đắp tình đoàn kết quốc tế,tạo ra một
kiểu quan hệ quốc tế mới:đối thoại thay cho đối đầu,kiến tạo một nền hòa

mới Việt Nam.Vì vậy phải xác định đây là nhiệm vụ chủ yếu và lâu dài.
Xây là giáo dục những phẩm chất đạo đức mới,đạo đức cách mạng cho
con người Việt Nam trong thời đại mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh.Tất
nhiên giáo dục đạo đức phải phù hợp với ngành nghề,lứa tuổi,thời đại và
trong từng môi trường khác nhau.Xa rời thực tế và khư khư giữ lấy nội dung
cũ khi thực tiễn đã vượt qua đều không phù hợp với quan điểm đạo đức Hồ
Chí Minh
Xây dựng đạo đức có nhiều cách làm.Trước hết mồi người và tổ chức
phải có ý thức tự giác trao đổi đạo đức cách mạng.Bản thân sự tự giác cũng
là đạo đức quý đối với từng người và tổ chức.Điều này càng cần thiết và có
ý nghĩa to lớn đối với Đảng và mỗi cán bộ,đảng viên.
-)Nói đi đôi với làm
Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng tuyệt vời về nói đi đôi với làm.Ngừơi
quan tâm đặc biệt,hàng đầu tới vấn đề đạo đức không phải chỉ để lại những
bài viết,bài nói về đạo đức mà quan trọng hơn là Người thực hiện trước
tiên,nhiều nhất những tư tưởng ấy.Ngay trong quá trình chuẩn bị thành lập
Đảng Cộng sàn,bàn về tư cách của người làm cách mạng,Hồ Chín Minh đã
chỉ rõ nói thì phải làm.Người còn làm nhiều hơn những lời người nói,kể cả
việc người không nói.Mỗi việc làm mỗi hành vi của người đều tiềm ẩn
những tư tưởng đạo đức sáng ngời.Đây là bài học quý giá cho mỗi chúng ta
muốn tìm hiểu những tầm sâu bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nêu gương đạo đức nói đi đôi với làm là một nét đẹp của văn hóa phương
Đông.Hồ Chí Minh chỉ ra rằng:”nói chung các dân tộc phương Đông đều
giàu tình cảm và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm
bài diễn văn tuyên truyền”.Noi theo tấm gương của V.I.Lênin,Hồ Chí Minh
cũng đào tạo các thế hệ cách mạng không chỉ bằng lý luận cách mạng,mà
bắng chính tấm gương đạo đức cao cả.
Theo Hồ Chí Minh hơn bất cứ một lĩnh vực nào khác,trong lĩnh vực đạo
đức đặc biệt phải chú trọng”đạo làm gương”.Làm gương có nhiều cấp
độ,phạm vi và hệ quy chiếu khác nhau.Ở đâu cũng có người tốt việc tốt.Giai

có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo và phát huy
bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học công nghệ
hiện đại. Giáo dục phải làm tốt nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho đất
nước”*.
Bác Hồ đã từng căn dặn chúng ta: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì
lợi ích trăm năm trồng người”. Đối với ngành Ngân hàng, cách đây gần 1
thế kỷ, Lênin đã từng đánh giá: “Không có những ngân hàng lớn sẽ
không thể thực hiện được chủ nghĩa xã hội”. Ở nước ta hiện nay, ngành
ngân hàng có vai trò hết sức to lớn trong công việc thu hút mọi nguồn
vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để đầu tư cho phát triển sản xuất kinh
doanh, là trung tâm tiền tệ, thanh toán trong nền kinh tế. Để ngành Ngân
hàng giữ được vai trò mũi nhọn của mình trong nền kinh tế thì việc phát
triển nguồn nhân lực cho Ngành là một vấn đề hết sức quan trọng. Việc
đào tạo, xây dựng và phát triển những con người có trí tuệ, có năng lực
thực hành, vừa phải có nhân cách đạo đức mới tạo ra sự phát triển nhanh
chóng và bền vững của ngành Ngân hàng. Bác Hồ đã từng nhắc nhở cán
bộ tài chính - ngân hàng: “Cán bộ kinh tế tài chính phụ trách nhiều tiền
của mà chưa hoàn toàn thông thạo việc quản lý tiền của. Cho nên chúng
ta cần phải ra sức học tập, quản lý tài sản quốc gia mà ngành mình phụ
trách, đồng thời phải trau dồi đạo đức cách mệnh: Cần, kiệm, liêm, chính,
một lòng, một dạ phục vụ tổ quốc, phụng sự nhân dân, tẩy trừ những thói
tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu để cùng nhau tiến bộ”*.
Thực tế cho thấy, nơi cung cấp phần lớn nguồn nhân lực cho ngành
Ngan hàng là hệ thông các trường trung học, cao đẳng, đại học Ngân
hàng trong cả nước. Trong hơn 40 năm qua, Học viện Ngân hàng đã đào
tạo ra trên 36.000 cán bộ có trình độ sau đại học, cao đẳng và trên 30.000
cán bộ có trình độ trung cấp cho ngành. Nhiều học sinh, sinh viên tốt
nghiệp từ Học viện Ngân hàng đã trở thành nhà quản lý, các nhà khoa
học, các chuyên gia hàng đầu về ngân hàng - tài chính Việt Nam, Lào và
Campuchia.

“Từ thiên tử cho đên thứ dân, ai ai cũng phải tu thân làm gốc”. Tự tu
dưỡng và rèn luyện được ví như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng
luyện càng trong”.
Thứ ba: Giáo dục đạo đức còn có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn
và phát huy bản lĩnh chính trị cho học sinh, sinh viên Ngân hàng.
Trong quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn
khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một sự lựa chọn đúng
đắn, hợp quy luật. Song hiện thực đất nước còn rất nhiều khó khăn. Điều
này đã ảnh hưởng rất lớn đến lý tưởng, niềm tin của một bộ phận quần
chúng nhân dân vào Đảng Cộng sản, vào chủ nghĩa xã hội- đặc biệt là
tầng lớp thanh niên. Hơn nữa trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù
địch đang dùng trăm phương ngàn kế để phá hoại ta về nhiều mặt, bằng
nhiều hình thức. Chúng đẩy mạnh chiến dịch vu cáo xuyên tạc bác bỏ chủ
nghĩa Mác-Lênin và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Do đó việc đẩy
mạnh giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên có một vai trò hết sức
quan trọng trong việc xác định lập trường chính trị tư tưởng nâng cao
phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị cho mỗi học sinh, sinh viên. Nếu
chúng ta buông lơi hay xem nhẹ công tác giáo dục chính trị tư tưởng đạo
đức, lối sống cho học sinh, sinh viên thì đồng nghiã với việc làm tăng ảnh
hưởng của tư tưởng tư sản đối với học sinh, sinh viên. Trong thư của Chủ
tịch Trần Đức Lương gửi các thầy, cô giáo, sinh viên và học sinh cả
nước nhân dịp khai giảng năm học mới có đoạn viết: “Mỗi học sinh, sinh
viên đều phải nỗ lực trong học tấp và rèn luyện để trở thành người có đạo
đức, có học vần, có nghề nghiệp, có sức khoẻ góp phần thực hiện thành
công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Vì vậy, việc
đẩy mnhj giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Ngân hàng không chỉ
xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của chính bản thân họ mà còn xuất phát
từ chính yêu cầu của công cuộc đổi mới của đất nước.
2, Đặc điểm đạo đức dành cho sinh viên Ngân hàng :
Nền kinh tế thị trường chịu sự tác động của một hệ thống các quy luật

giáo dục đạo đức nghề nghiệp đang là vấn đề thu hút sự quan tâm không
phải chỉ bản thân các doanh nghiệp mà cả từ phía các nhà quản lý. Ngay
cả nhà tỷ phú Mỹ chuyên kinh doanh như Sores, bằng những thủ đoạn
của mình từng làm lũng đoạn nền kinh tế của nhiều quốc gia, cũng phải
nói đến đạo đức trong kinh doanh. Nhật Bản với một nền kinh tế thị
trường phát triển vào bậc nhất thế giới, song họ vẫn đề cao triết lý: “Cuộc
sống hạn phúc không phải gì khác hơn là sáng tạo tối đa, sáng tạo ra ba
loại giá trị: Giá trị của cái đẹp, giá trị của cái lợi, giá trị của cái thiện”.
Những giá trị đó được thể hiện trong các sản phẩn hoàn hảo của họ,
chúng vừa có ý nghĩa về đạo đức, về chất lượng. về sự đổi mới, đồng thời
chứa đựng cả chữ tín, tôn trọng khách hàng và niềm tự hào của kinh
doanh.
Như vậy chứng tỏ rằng, đạo đức trong kinh doanh không phải chỉ có
chúng ta quan tâm đến. Chỉ tính riêng năm 2000, ở Mỹ đã có 52 công
trình nghiên cứu hàn lâm được xuất bản viết về ảnh hưởng của đạo đức
kinh doanh tới thu nhập tài chính của các công ty. Đại bộ phận các nhà
nghiên cứu đều cho rằng, công ty có đạo đức sẽ làm ăn phát đạt hơn.
Kinh doanh không thể không có đạo đức, nhất là kinh doanh trong thời
kỳ hiện đại. Khi những giá trị chân chính đó được tôn trọng, được giữ gìn
thì chúng sẽ trở thành nhân tố cơ bản thúc đẩy sự phát triển của doanh
nghiệp.
Trong cơ chế mới, “Tri thức về sản xuất, về thị trường cùng với đạo
đức, tâm, tín phải trở thành bản lĩnh, cốt cách văn hoá của nhà kinh
doanh”, vì thế rất cần đến cái tâm của nhà doanh nghiệp. Nó được coi là
cái “phanh” bên trong của mỗi con người, giúp người ta không làm
những gì có hại đến người khác, nhất là đối với khác hàng của mình.
Khổng Tử - một triết gia cổ đại Trung Quốc, đã từng đòi hỏi về sự giàu
sang phải hợp với đạo nghĩa. Ông không phản đói việc làm giàu nhưng
làm giàu như thế nào mới là điều đáng nói. Nếu làm giàu mà không đúng
đạo, không hợp đạo, làm giàu bằng sự bất lương, bất nghĩa thì không nên

chuyên gia lành nghề trong lĩnh vực ngân hàng hoặc các ngành kinh tế
khác. Do đó, cần phải gáio dục đạo đức nghề nghiệp cho họ.
Giáo dục đạo đức nghề nghiệp chính là “chế định và giáo dục những
nguyên tắc, những chuẩn mực đạo đức điều chỉnh hoạt động, quản lý và
kinh doanh ngân hàng, nhằm giải quyết một cách hợp lý quan hệ lợi ích
giữa cá nhân - chủ thể quản lý, kinh doanh với lọi ích tập thể - đó là lọi
ích của các chủ thể khác”.
Từ thực tiễn thành công cũng như thất bại của các ngân hàng trong
những năm qua có thể rút ra một số những giá trị đạo đức nghề nghiệp
cần được giáo dục cho học sinh, sinh viên ngân hàng như sau:
Tính trung thực
Tính trung thực là tiêu chuẩn hàng đầu về đạo đức của các nhà kinh tế
nói chung và của cán bộ ngân hàng nói riêng. Hoạt động ngân hàng là
hoạt động luôn gắn liền với đồng tiền – “một vật có ma lực quyến rũ ghê
gớm”. Nếu thiếu đi tính trung thực, người cán bộ sẽ dễ bị cám dỗ, bị lôi
kéo trở thành kẻ dối trá, lừa lọc, đạo đức giả. Một trong những phẩn chất
quan trọng nhất của cán bộ ngân hàng đó là tính trung thực. Cán bộ ngân
hàng cần đề cao tính trung thực, không để đồng tiền chi phối hành vi của
mình. Tính trung thực của cán bộ ngân hàng trước hết ở chỗ: Tuân thủ
luật pháp của Nhà nước, không có những hành vi giả mạo giấy tờ, ký
khống, tham ô, móc ngoặc, biển thủ vì mục đích tư lợi. Ngoài ra, không
sử dụng sự kém hiểu biết của khách hàng để sách nhiễu, bắt bí, mang lại
lợi ích cho mình, không lấy tiền thừa của khách, bí mật tuyệt đối số dư
tiền gửi của khách.
Trong những năm qua, một số các vụ việc tiêu cực lớn đã làm thất
thoát hàng chục ngàn tỷ đông của Nhà nước đều có sự tiếp tay trực tiếp
hoặc gián tiếp của những càn bộ ngân hàng ở những mức độ khác nhau.
Bởi vậy, những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp với tư cách là sự cụ thể
hoá các yêu cầu đạo đức xã hội, sẽ tạo ra một hành lang an toàn giúp con
người ứng xử trong hoạt động nghề nghiệp, vừa đảm bảo hiệu quả hoạt

khách hàng đầu ra). Trong giao dịch luôn giữ thái độ nhẹ nhàng, hoà nhã,
lấy chữ “tín” làm đầu, chữ “nhân” làm gốc, làm cho khách hàng luôn có
cảm giác dễ chịu, yên tâm thoải mái khi đến với ngân hàng. Khi những
giá trị ấy được tôn trọng, giữ gìn thì không những chỉ thúc đẩy sự phát
triển của ngân hàng mà còn thúc đẩy cả sự phát triển của xã hội. Cho nên,
ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, phải giáo dục cho họ thái độ
biết tôn trọng đối với mọi người, xây dựng mối quan hệ bạn bè, thày trò
trong sáng, lành mạnh, đoàn kết gắn bó trong từng tổ chức cộng đồng.
Những giá trị ấy tạo nên nguồn sức mạnh giúp học sinh, sinh viên ngân
hàng vượt qua được những khó khăn trong học tập và rèn luyện, là nền
móng cho những thành công của học sinh, sinh viên ngân hàng sau này
trong bước đường công tác của mình.
Tính nguyên tắc cho học sinh, sinh viên
Học sinh, sinh viên được đào tạo ra chủ yếu là để phục vụ cho công
tác quản lý kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ - tín dụng cua ngân hàng.
Trong các ngân hàng thương mại của Nhà nước, họ là những người được
Nhà nước giao cho nhiệm vụ quản lý và sử dụng một khối lượng của cải
dưới hình thức tiền tệ hết sức lớn. Do đó giáo dục tính nguyên tắc cho
học sinh, sinh viên ngân hàng cũng là một nội dung hết sức quan trọng
trong giáo dục đạo đức nghề nghiệp.
Giáo dục tính nguyền tắc là giáo dục ý thức trách nhiệm của mình
trước tập thể, trước xã hội. Nó đòi hỏi người học sinh trong suy nghĩ và
hành động phải dựa vào pháp luật, dựa vào những nội quy, quy chế của
nhà trường, những chính sách của Đảng và Nhà nước
Tính nguyên tắc đối lập với hành vi vô nguyên tắc, bảo thủ, gàn
bướng và cơ hội. Tính nguyên tắc đòi hỏi phải biét đặt lọi ích của tập thể,
của xã hội lên trên lợi ích cá nhân, giáo dục tinh thần phê và tự phê, giáo
dục nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách… nhằm phát huy trí
tuệ của tập thể và trách nhiệm của cá nhân trong quá trình học tập và rèn
luyện.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status