Chức năng và hoạt động của ngân hàng thương mại - Pdf 19



Chức năng và hoạt động của
ngân hàng thương mại

Chương 1. Chức năng và hoạt động của NHTM SVTH : Từ Vương Kim Ngân 1
1. Lý luận chung về ngân hàng thương mại:

1.1 Định nghĩa về ngân hàng thương mại
Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội khóa X thông qua vào ngày 12
tháng 12 năm 1997, định nghĩa:
Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện
toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. Luật này còn định
nghĩa: Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định của
Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ,làm
dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và
cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Luật tổ chức tín dụng không có định nghĩa hoạt động ngân hàng vì khái
niệm này đã được định nghĩa trong Luật Ngân hàng nhà nước, cũng do Quốc hội

Tiền gửi của khách hàng +1000

Cộng +1000 Cộng +1000

Nếu số tiền cho vay Ngân hàng A cho vay được hết, người khách vay sử
dụng tiền đó trả cho khách hàng ở Ngân hàng B, thì :
Ngân hàng B
TS có TS nợ
Dự trữ NN + 160

Cho vay +640
Tiền gửi của khách hàng +800

Cộng +800 Cộng +800

Quá trình này tiếp tục thì từ khối lượng tiền gửi ban đầu là 1000 thì hệ
thống Ngân hàng đã tạo ra thêm 1 lượng bút tệ lớn hơn bằng 1000+, 800+…, với dự
trữ là 20%. Tù đó , Ngân hàng Nhà nước bằng việc vận dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc
đối với các NHTM có thể tăng hay giảm khối tiền tệ nhằm mục tiêu chính sách tiền tệ
của mình.
-Chức năng sản xuất
Trong kinh tế học, sản xuất được định nghĩa như là quá trình sử dụng các
yếu tố nhập lượng bao gồn đất đai, lao động và vốn để tạo ra sản phẩm và dịch vụ.
Chúng ta có thể liên hệ và thấy rằng NHTM cũng sử dụng các yếu tố đất đai, lao
động và vốn để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ như các doanh nghiệp sản xuất khác.
Điều đáng lưu ý là NHTM sử dụng các yếu tố nhập lượng có tính chất rất đặc biệt
Chương 1. Chức năng và hoạt động của NHTM SVTH : Từ Vương Kim Ngân 3

Chương 1. Chức năng và hoạt động của NHTM SVTH : Từ Vương Kim Ngân 4
Dựa vào chiến lược kinh doanh
+ Ngân hàng bán buôn
+ Ngân hàng bán lẻ
+ Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ
Dựa vào quan hệ tổ chức
+ Ngân hàng hội sở
+ Ngân hàng chi nhánh ( cấp 1,2, phòng giao dịch, điểm giao dịch)

1.4 Hoạt động chủ yếu của NHTM
Chương III của Luật các tổ chức tín dụng nêu ra các hoạt động của ngân hàng
thương mại bao gồm:
 Hoạt động huy động vốn;
 Hoạt động cấp tín dụng;
 Hoạt động dịch vụ thanh toán;
 Hoạt động ngân quỹ
 Các hoạt động khác như góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị
trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối, kinh doanh vàng, kinh doanh bất động sản, kinh
doanh dịch vụ và bảo hiểm, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, dịch vụ tư vấn và các dịch vụ
khác liên quan đến hoạt đông ngân hàng.
Các hoạt động của NHTM quy định trong Luật các Tổ chức tín dụng lần lượt
được cụ thể hóa và quy định chi tiết hơn trong các nghị định của Chính phủ và các
quy định khác dưới luật.

2. Hoạt động ngân hàng thương mại hiện nay tại Việt Nam :
Hiện nay theo số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tới tháng
hết tháng 12/2008 thì có :

thương, liên minh thẻ Ngân hàng Đông Á, thành lập được trung tâm thẻ xử lý chung :
Banknet, Paynet,… Nhìn chung, bước vào quá trình hệ thống ngân hàng đã đạt được
các bước tiến khả quan, tự nâng cao chất lượng phục vụ , hình ảnh thương hiệu của
mình và tạo được mối liên hệ giữa các ngân hàng trong nước với nhau.
Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế mà ngân hàng thương mại trong
nước cần phải tích cực thay đổi hơn để đáp ứng nhu cầu cạnh tranh cao hơn nữa khi
Việt Nam phải cho phép các ngân hàng nước ngoài đổ xô vào.
Chương 1. Chức năng và hoạt động của NHTM SVTH : Từ Vương Kim Ngân 6
 Thứ nhất về tiềm lực tài chính của ngân hàng. Vốn điều lệ là thể hiện tiềm
lực tài chính, là điều kiện đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng, là uy tín
để tạo lòng tin với công chúng. Hiện nay vốn điều lệ của Ngân hàng thương mại Việt
Nam kể cả ngân hàng quốc doanh cũng còn nhỏ bé , cao nhất là hai ngân hàng
Sài gòn thương tín
(Sacombank)
0006/NHGP
ngày 05/12/1991
5.116 tỷ
đồng
Ngân hàng Thương mại CP
Ngoại thương Việt Nam
286 /QĐ-NH5
ngày 21/09/1996
4.370 tỷ
đồng
(số liệu ngân hàng Nhà nước Việt Nam tháng 1/2009)
còn lại bình quân vào khoảng từ 2.000 đến 3.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 130 -
150 triệu USD. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài cao nhất đã có được 1/5 tiềm lực tài

thu hút tiền về qua việc phát hành trên 20.000 tỷ đồng tín phiếu, quy định thắt chặt
hạn mức tin dụng, không cho vượt trần giá mua ngoại tệ qua việc chuyển đổi loại
ngoại tệ, … Các ngân hàng không đủ khả năng về vốn để đáp ứng tỷ lệ dữ trữ bắt
buộc tăng, chính là các ngân hàng “khơi màu” cho cuộc đua tranh lãi suất của các
ngân hàng. Cuộc đua tranh này có thể làm tăng lượng khách hàng, nhưng thực chất là
lượng khách hàng dịch chuyển từ ngân hàng này sang ngân hàng khác. Điều này ẩn
chứa nguy cơ tài chính cho hệ thống ngân hàng Việt Nam khi đẩy các ngân hàng nhỏ
vào thế cạnh tranh với các ngân hàng lớn, có tiềm lực tài chính mạnh mẽ hơn. Ngoài
ra, lãi suất đầu vào của NHTM, tức lãi suất huy động vốn tăng cao, cộng với chi phí
cao do tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng mạnh, chi phí bù lỗ cho việc mua tín phiếu NHNN,
nhưng lãi suất cho vay tăng chậm, khoảng cách chênh lệch giữa lãi suất cho vay và
lãi suất đầu vào thu hẹp, cũng như việc Nhà nước lại hạn chế tốc độ tăng trưởng tín
dụng làm cho lợi nhuận của NHTM ngày càng thấp, làm ảnh hưởng đến năng lực tài
chính và khả năng cạnh tranh, uy tín của NHTM.
 Thứ hai về nghiệp vụ thanh toán ngân hàng và liên ngân hàng. Với các
ngân hàng nước ngoài, phần trăm lợi nhuận từ việc thanh toán dịch vụ là chiếm
ngang bằng hoặc cao hơn so với lợi nhuận từ vay nợ. Còn trong hệ thống ngân hàng
Việt Nam thì ngược lại, phần trăm lợi nhuận từ tín dụng luôn chiếm cao hơn rất
nhiều, mặc dù vay nợ là hình thức rủi ro cao hơn. Năm 2008 là năm xảy ra rất nhiều
cuộc khủng hoảng tín dụng về thị trường nhà đất, thị trường chứng khoán cũng như
sự sụp đổ của nhiều ngân hàng ở Mỹ như : IndyMac Bank, ở Pasedena (California),
First Heritage Bank (California), và First National Bank tại Nevada. Đây là bài học
cho hệ thống ngân hàng tại Việt Nam trong hoạt động tín dụng.
Chương 1. Chức năng và hoạt động của NHTM SVTH : Từ Vương Kim Ngân 8
Hiện nay việc thanh toán không sử dụng tiền mặt giúp đẩy nhanh tốc độ thanh
toán không dùng tiền mặt, tăng tốc độ chu chuyển vốn trong nền kinh tế, giảm thời
gian vốn đọng trong thanh toán, an toàn, tiết kiệm thời gian, chi phí vận hành cho cả

đã được áp dụng từ lâu ở các nước trên thế giới thì gần đây mới có mặt ở một số ngân
hàng ở Việt Nam. Công nghệ và máy móc trang bị của các NHTM trong nước đã,
đang và sẽ ngày càng lạc hậu so với các nước trên thế giới. Điều này gây ra một thách
thức vô cùng lớn buộc các NHTM VN phải học hỏi, đầu tư để theo kịp các ngân hàng
khác trong khu vực và trên thế giới.
 Cuối cùng là về trình độ quản lý ngân hàng. Vẫn còn nhiều cán bộ ngân
hàng (nhất là ngân hàng quốc doanh) không có trình độ ngoại ngữ hay khả năng sử
dụng công nghệ thông tin. Như thế, họ sẽ không thể nghiên cứu, hiểu biết tường tận
về hoạt động ngân hàng, tình hình các ngân hàng trên thế giới, cũng như không biết
cách điều hành, quản lý. Hệ thống ngân hàng nói chung vẫn không thể nào trang bị
được việc kết nối Internet cho nhân viên lên thu thập thông tin về những dịch vụ ngân
hàng tiên tiến trên thế giới do không có khả năng giám sát mạng và khả năng chi trả
tài chính. Tiềm ẩn rủi ro tín dụng cao là một minh chứng cho sự chưa thành thạo
nghiệp vụ tín dụng. Các kiện tụng chi trả, thanh toán giữa một số ngân hàng và khách
hàng là minh chứng cho việc không hiểu biết tường tận luật thanh toán và ngân hàng
quốc tế , các quy định chung của tổ chức thế giới. Trình độ quản lý nói chung còn
yếu, như việc Ngân hàng thương mại để xảy ra tình trạng nhân viên ngân hàng đánh
cắp tiền từ tài khoản của khách hàng.
Sự yếu kém trong quản lý còn thể hiện trong việc các ngân hàng chưa có một
chiến lược phát triển ổn định trong dài hạn, chưa có các chương trình quảng bá hình
ảnh, xây dựng thương hiệu thống nhất của ngân hàng mình và các sản phẩm mới,
khác biệt của ngân hàng ra đại chúng. Các chiến lược kinh doanh chưa thích nghi với
thực tế làm cho kết quả hoạt động kinh doanh khác biệt lớn so với dự kiến kế hoạch
đề ra. Việc chia cổ tức cho cổ đông cũng chưa thông báo rộng rãi để tạo hấp dẫn cho
cổ phiếu của ngân hàng, cũng chính là giá trị của ngân hàng. Điều này thể hiện rõ ở
các ngân hàng quốc doanh và các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ lẻ.
Chương 1. Chức năng và hoạt động của NHTM SVTH : Từ Vương Kim Ngân 10

SVTH : Từ Vương Kim Ngân 11
Đối với các ngân hàng thương mại lớn như : Ngân hàng Á Châu, Đông Á, Sài
gòn thương tín, … việc công khai minh bạch các báo cáo tài chính hàng tháng, hàng
năm và việc chi trả cổ tức cho cổ đông là yêu cầu quan trọng để nâng cao hình ảnh
thương hiệu của mình, nâng cao giá trị cổ phiếu, và tạo lòng tin cho cổ đông.
Đối với các ngân hàng thương mại nhỏ lẻ khác, việc nâng cao nguồn lực tài
chính sẽ gặp nhiều khó khăn hơn, và liệu một giải pháp sát nhập các ngân hàng quy
mô nhỏ với nhau để tăng khả năng cạnh tranh với ngân hàng nước ngoài là có khả thi
không? Thật ra, việc sát nhập là xu thế chung trên thế giới , nhưng tại Việt Nam điều
này vẫn chưa phổ biến, ngay cả trong các doanh nghiệp bình thường chứ nói chi đến
trong hệ thống ngân hàng. Đây là tâm lý chung của người Châu Á, và giải quyết vấn
đề này là rất khó. Chính vì vậy, trên thực tế, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần
có biện pháp hạn chế việc thành lập ngân hàng nhỏ lẻ tràn lan như tình hình vừa qua,
bằng cách nâng cao yêu cầu trong vốn điều lệ thành lập ngân hàng , kèm theo là các
yêu cầu về trình độ công nghệ kỹ thuật, cán bộ quản lý điều hành, mục đích hoạt
động kinh doanh.
Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước là cứu cánh sau cùng về vốn cho các ngân
hàng thương mại, giờ đây các ngân hàng nên tự liên kết tạo thêm một nguồn vốn hỗ
trợ lẫn nhau thông qua Hiệp hội Ngân hàng trước khi chờ Ngân hàng Nhà nước vào
cuộc. Như vậy khả năng tài chính các ngân hàng sẽ nâng cao, và các ngân hàng có thể
hỗ trợ lẫn nhau trong giai đoạn cạnh tranh sắp tới.
Thứ hai, cần nâng cao nghiệp vụ thanh toán ngân hàng và liên ngân hàng. Hiện
nay chưa có một sự liên kết nào rõ rệt giữa các ngân hàng thương mại với nhau. Các
ngân hàng cần thống nhất các liên minh lại, như hợp nhất giữa liên minh thẻ của
Ngân hàng Ngoại thương và Ngân hàng Đông Á để đem lại sự tiện lợi hơn cho khách
hàng. Cần phải phát huy vai trò của Hiệp hội Ngân hàng để liên kết các ngân hàng lại
với nhau, trong hoạt động thanh toán tiền tệ, thanh toán thẻ ATM , Visa – Mater
Card, hoạt động tín dụng, thanh toán xuất nhập khẩu, và các hoạt động khác nhằm
nâng cao giá trị của hệ thống ngân hàng trong nước, đáp ứng nhu cầu cạnh tranh sắp
Chương 1. Chức năng và hoạt động của NHTM

Chương 1. Chức năng và hoạt động của NHTM SVTH : Từ Vương Kim Ngân 13
điều hành , Giám đốc tài chính có trình độ và năng lực cao là phổ biến, đây là điều hệ
thống ngân hàng Việt Nam nên học hỏi.
Môi trường làm việc cũng như chính sách tiền lương, chính sách động lực,
khen thưởng về vật chất và tinh thần cho mọi người, đặc biệt đối với những cá nhân
có thành tích nổi bật trong công tác tạo ra động lực cho toàn bộ CBCNV trong ngân
hàng, tạo cơ hội thăng tiến cho nhân viên dựa trên tài năng và phẩm chất thực sự chứ
không phải dựa vào mối quan hệ và thâm niên công tác là điều hết sức quan trọng để
không xảy ra tình trạng “chảy máu chất xám ” trong hệ thống ngân hàng trong nước
ra ngân hàng nước ngoài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status