Tiểu luận HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - Pdf 19


Tiểu luận

HỆ THỐNG
NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM
TIỂU LUẬN


HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI VIỆT NAM
GV Hướng Dẫn : TS. Lại Tiến Dĩnh
HV: Thái Thanh Bình
Lớp : K17 Ngân Hàng 1 ngày 2 năm 2007-2010


gian tài chính, chức năng tạo tiền và chức năng sản xuất:

- Chức năng trung gian tài chính của NHTM: thực hiện chức năng này,
NHTM đóng vai trò trung gian khi thực hiện các nghiệp vụ bao gồm
nghiệp vụ cấp tín dụng, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ kinh doanh ngoại
tệ, kinh doanh chứng khoán và nhiều hoạt động môi giới khác. Từ “trung
gian” ở đây có thể hiểu theo hai ý nghĩa:

+ Trung gian giữa các khách hàng với nhau. Ví dụ: NHTM làm trung
gian giữa người gửi tiền và người vay tiền, hay trung gian giữa người trả
tiền và người nhận tiền, hoặc trung gian giữa người mua và người bán
ngoại tệ….
+ Trung gian giữa ngân hàng Trung ương và công chúng. Ngân hàng
Trung ương ( ở Việt Nam gọi là Ngân hàng Nhà nước) không có giao
dịch trực tiếp với công chúng mà chỉ giao dịch với các NHTM, trong khi
các NHTM vừa giao dịch với ngân hàng Trung ương vừa giao dịch với
công chúng.

- Chức năng tạo tiền, là chức năng tạo ra bút tệ góp phần gia tăng khối tiền
tệ phục vụ cho nhu cầu chu chuyển và phát triển nền kinh tế. Theo Quỹ
tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund) gọi tắt là IMF, khối tiền tệ
của một quốc gia bao gồm: tiền giấy, tiền kim loại, và tiền gửi không kỳ
hạn ở ngân hàng. Còn tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi định kỳ không được
xem là bộ phận của khối tiền tệ mà chỉ được xem là “chuẩn tiền”, vì tính
chất kém thanh khoản của bộ phận này. Nhưng từ thập niên 1980 trở đi
nhiều nhà kinh tế học bắt đầu xem “chuẩn tiền” là một thành phần của khối
tiền tệ. Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng Thế giới (World Bank) gần như
chấp nhận quan điểm này nhưng còn ngần ngại nên phân biệt thành nhiều
dạng khối tiền tệ như M1, M2, M3 và L, trong đó:


 Ngân hàng hội sở
 Ngân hàng chi nhánh (cấp 1, cấp 2)
 Phòng giao dịch

II. Các hoạt động chủ yếu của NHTM:

1. Hoạt động huy động vốn:

NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau:
- Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình
thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác.
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khácđể huy động
vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước.
- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của các
tổ chức tín dụng nước ngoài.
- Vay vốn ngắn hạn của ngân hàng Nhà nước.
- Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của ngân hàng Nhà nước.

2. Hoạt động cấp tín dụng:

NHTM được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức sau:

- Cho vay
- Bảo lãnh
- Chiết khấu
- Cho thuê tài chính
- Bao thanh toán
- Tài trợ nhập khẩu
- Tài trợ xuất khẩu
- Cho vay thấu chi

III. Thực trạng hoạt động của NHTM Việt Nam trong thời gian qua:

Ở Việt Nam hiện nay, số lượng NHTM là quá nhiều, nhất là ngân hàng nhỏ và
do đó cần hạn chế các NHTM nhỏ. Đáng chú ý là việc chính phủ nâng vốn điều
lệ các NHTM phải trên 3.000 tỷ đồng. Mức vốn này có thể là điều kiện không
cao đối với các ngân hàng quốc tế nhưng với các ngân hàng trong nước thì khó
có thể với tới. Ngoài ra, các cổ đông sáng lập phải có vốn tự có là 500 tỷ đồng
trở lên và phải hoạt động ba năm liên tục có lãi. Những quy định như vậy là cực
kỳ khắt khe đối với các NHTM Việt Nam. Thực tế cho thấy, các NHTM Việt
Nam hiện đang hoạt động và các NHTM cổ phần mới được thành lập thì người
ta mới chỉ chú tâm vào việc tăng vốn mà không hề chú ý đến cải thiện quản trị,
quản lý điều hành. Quản trị ngân hàng hầu như không được củng cố theo mô
hình NHTM hiện đại.

Ngay tại các NHTM nhà nước, tình trạng tăng vốn tự có từ ngân sách nhà nước
cũng như tốn kém nhiều tiền từ ngân sách cho xử lý nợ tồn đọng nhưng hệ
thống quản trị rủi ro vẫn kém hiệu quả hoặc không hề cải thiện, chi phí hoạt
động cao hơn các NHTM cổ phần. Thực tế cho thấy, việc tăng vốn dường như
không đi đôi với cải thiện quản trị tốt đã làm cho thị giá cố phiếu của NHTM cổ
phần giảm sút nghiêm trọng trong thời gian qua.

Nếu theo định hướng chính sách về thành lập NHTM mới là tăng vốn điều lệ thì
tới đây Việt Nam sẽ toàn những NHTM lớ. Và cũng theo suy luận khi đó Việt
Nam sẽ có hệ thống gồm toàn các “đại gia”. Tuy nhiên, từ cuộc khủng hoảng
tín dụng ở Mỹ hiện nay cho thấy, vấn đề ngân hàng lớn nhiều khi lại đáng quan
ngại hơn ngân hàng nhỏ (chỉ xét khía cạnh về vốn). Theo thống kê về hành vi
tài chính, thông thường người ta cứ cho rằng các ngân hàng to thì khó có thể đổ
vỡ được, đây là điều sai lầm. Ngay quan điểm của một quan chức ngân hàng
Nhà nước Việt Nam cũng cho rằng, điều quan trọng đối với hoạt động ngân
hàng là chất lượng chứ không phải quy mô vốn hay số lượng. Thực tế cho thấy

Nhìn chung, ở Việt Nam hiện nay, thị trường vốn ngắn hạn hay còn gọi là thị
trường tiền tệ chưa phát triển và ngân hàng Nhà nước chưa thật sự đóng vai trò
can thiệp có hiệu quả vào thị trường này. Các loại lãi suất của NHTW: lãi suất
cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở,
lãi suất đấu thầu tín phiếu kho bạc nhà nước có tác động rõ nết đến thị trường.
Các NHTM cạnh tranh với nhau tăng lãi suất huy đông vốn một cách một chiều,
tạo nguy cơ tiềm ẩn rủi ro cho chính các NHTM.

Về thị trường chứng khoán, có thể khẳng định rằng, trong tiến trình phát triển
thị trường chứng khoán Việt Nam, tiềm năng của việc tham gia của các NHTM
là rất lớn. Việc các NHTM cổ phần niêm yết cổ phiếu trên trung tâm giao dịch
chứng khoán, các NHTMNN cổ phần hóa thực hiện phát hành cổ phiếu lần đầu
tiên ra công chúng, cũng như tới đây sẽ có thêm một số Cty kinh doanh chứng
khoán của các NHTM đi vào hoạt đông sẽ tạo đà thúc đậy thị trường chứng
khoán Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn. Song cho đến thời điểm này, mới chỉ
có trên 100 công ty cổ phần niêm yết cổ phiếu trên thị trung tâm giao dịch
chứng khoán TP.HCM là quá ít, tạo ra sự nghèo nàn hàng hóa trên thị trường
chứng khoán. Cổ phiếu của các NHTM chưa được niêm yết và giao dịch cũng
phần nào hạn chế tính sôi động của thị trường. tính thanh khoản của thị trường
chưa cao. Thông tin chưa thật sự minh bạch.

Nguyên nhân của tình trạng trên là do NHTW chưa thất sự mạnh, năng lực điều
hành chính sách tiền tệ và vận hành nghiệp vụ NHTW còn hạn chế. Hoạt động
dịch vụ của các NHTM chưa phát triển. Tiến trình cơ cấu lại các NHTM chưa
đạt được các kết quả như dự kiến, đặc biệt là xử lý nợ xấu đang có xu hướng gia
tăng trở lại. Việc tăng vốn điều lệ để đảm bảo tỷ lệ an toàn theo thông lệ quốc
tế. Tiến trình cổ phần hóa NHTMNN còn rất chậm, đây cũng là lực cản cho sự
phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam. Bên cạnh đó, việc hội đồng quản
trị các NHTM cổ phấn có tư tưởng chần chừ, chậm đưa cổ phiếu của các
NHTM cổ phần của mình niêm yết trên trung tâm giao dịch chứng khoán cũng

về giá cả và lãi suất, cạnh tranh về chất lượng dịch vụ và công nghệ chưa
phổ biến, thị trường dịch vụ NHBL thiếu ổn định chưa có sự liên kết giữa
các ngân hàng trong việc phát hành các loại thẻ và khai thác dịch vụ mới,
do các ngân hàng chưa tìm được tiếng nói chung để đi đến thỏa thuận kết
nối thống nhất nhằm chia sẻ hạ tầng kỹ thuật, gây lãng phí trong việc đầu
tư mua sắm máy móc và chưa tạo sự thuận lợi cho khách hàng trong việc
sử dụng thẻ.
- Sản phẩm dịch vụ ngân hàng còn mang tính truyền thống, nghèo nàn về
chủng loại, chất lượng dịch vụ thấp, tính tiện ích chưa cao, chưa định
hướng theo nhu cầu khách hàng.
- Chưa có chiến lược tiếp thị cụ thể trong hoạt động NHBL, thiếu đội ngũ
cán bộ chuyên nghiệp về tiếp thị dịch vụ NHBL.
- Kênh phân phối không đa dạng, hiệu quả thấp, phương thức giao dịch và
cung cấp các dịch vụ chủ yếu vẫn là giao dịch trực tiếp tại quầy, các hình
thức giao dịch từ xa dựa trên nền tảng CNTT chưa phổ biến. Dịch vụ ngân
hàng điện tử chưa được triển khai rộng rãi, lượng khách hàng sử dụng còn
ít, nhiều ngân hàng mới chỉ hoạt động ở mức độ thử nghiệm, giao dịch
thanh toán thương mại điện tử còn hạn chế, chưa ứng dụng được hình thức
thanh toán qua điện thoại di động sử dụng tài khoản ngân hàng.
- Hiệu quả của chính sách khách hàng còn thấp, chất lượng dịch vụ chưa
cao, thủ tục giao dịch chưa thật sự thuận tiện, bộ máy tổ chức chưa theo
định hướng khách hàng, thiếu bộ phận nghiên cứu thiết kế sản phẩm và
phát triển dịch vụ ngân hàng cá nhân, mức độ ứng dụng CNTT chưa cao.

Những nguyên nhân chủ yếu sau đã làm hạn chế phát triển dịch vụ NHBL ở
Việt Nam:

- Nét đặc thù của dịch vụ ngân hàng bán lẻ là nhắm tới đối tượng khách
hàng cá nhân, song người dân trong nước chưa biết nhiều về dịch vụ ngân
hàng nói chung và dịch vụ NHBL nói riêng. Do mức thu nhập của phần

trên thị trường chứng khoán.
- Ngân hàng nhà nước và Bộ tài chính, trực tiếp là Ủy ban chứng khoán Nhà
nước phải phối hợp chặt chẽ để đưa cổ phiếu của NHTM cổ phần niêm yết
trên trung tâm giao dịch chứng khoán. Phối hợp chặt chẽ, trên cơ sở tài trợ
quốc tế, tổ chức các cuộc hội thảo, khóa đào tạo, tập huấn ngắn ngày về
nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán và niêm yết cổ phiếu của NHTM trên
thị trường chứng khoán. Bộ tài chính cũng nên cùng NHNN tập trung tháo
gỡ vướng mắt trong việc định giá NHTM và một số giải pháp khác để đẩy
nhanh tiến độ cổ phần hóa NHTMNN.
- Ngân hàng Nhà nước và Bộ tài chính phối hợp tăng khối lượng tín phiếu
Kho bạc nhà nước đấu thầu hàng quý, hàng năm. Có thể tăng tần suất các
phiên đấu thầu từ 1phiên/1tuần hiện nay lên 2phiên/tuần. Linh hoạt hơn
nữa lãi suất đấu thầu qua các phiên theo sát diễn biến trên thị trường. Thời
hạn tín phiếu cũng có thể đa dạng hơn như kỳ hạn 60 ngày, 90 ngày….thay
cho chỉ có loại 360 ngày như hiện nay. Cần có cơ chế để các NHTM cổ
phần và các ngân hàng khác có quy mô nhỏ hơn có thể trúng thầu tín phiếu
trên thị trường này.
- NHNN nâng cấp thị trường nội tệ liên ngân hàng, thể hiện rõ vai trò can
thiệp cuối cùng của NHNN trên thị trường này. Tiến tới công bố được lãi
suất thị trường nội tệ liên ngân hàng ở Việt Nam do là lãi suất chủ đạo của
Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
- Các NHTM phải mạnh dạn đầu tư hơn nữa cho các nghiêp vụ kinh doanh
chứng khoán và thu hút tiền gửi không kỳ hạn, dịch vụ thanh toán cho
khách hàng. Đây cũng chính là các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường
chứng khoán trong thời gian tới, cũng như là khách hàng tiềm năng của
nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán mà NHTM cần nhắm tới thu hút.
- Phải hoàn thiện các quy định pháp lý về nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng.
Các quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động ngân hàng do nhiều cấp và
nhiều cơ quan ban hành, điều này đòi hỏi phải hoàn thiện môi trường pháp
lý một cánh đầy đủ, đồng bộ và thống nhất về các loại hình dịch vụ theo

ngân hàng cá nhân, hình thành bộ phận nghiên cứu chuyên trách phát
triển sản phẩm. Trong đó, tập trung vào những sản phẩm có hàm lượng
công nghệ cao, có đặc điểm nổi trội trên trên thị trường nhằm tạo sự khác
biệt trong cạnh tranh, tận dụng các kênh phân phối mới để đa dạng hóa
sản phẩm, mở rộng và phát triển tín dụng tiêu dùng.
+ Phát triển và mở rộng các sản phẩm dịch vụ thanh toán không dùng tiền
mặt nhằm phát huy hiệu quả và tính năng kỹ thuật của công nghệ mới,
góp phần hạn chế giao dịch tiền mặt bất hợp pháp, nhanh chóng nâng cao
tính thanh khoản của VNĐ và hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế.
Đẩy mạnh các dịch vụ tài khoản tiền gửi với thủ tục đơn giản, an toàn
nhằm thu hút nguồn vốn của cá nhân trong thanh toán và phát triển dịch
vụ thanh toán thẻ, sec thanh toán cá nhân, đẩy mạnh huy động vốn qua
tài khoản tiết kiệm. Các NHTM cũng cần tăng cường hợp tác với các tổ
chức và doanh nghiệp có các khoản thanh toán dịch vụ thường xuyên, ổn
định số lượng khách hàng và trả lương qua tài khoản. NHNN cần sớm
ban hành và hoàn thiện các văn bản pháp quy về thanh toán với cơ chế
khuyến khích hơn là ngăn cấm như cho phép thu phí giao dịch tiền mặt
cao hơn giao dịch chuyển khoản, hiện đại hóa hệ thống thanh toán điện tử
liên ngân hàng nhằm hình thành hệ thống thanh toán thống nhất và an
toàn.
+ Phát triển các sản phẩm, dịch vụ khác như tăng cường thu hút nguồn
kiều hối trên cơ sở phối hợp với các công ty xuất khẩu lao động, các công
ty dịch vụ kiều hối, tổ chức chuyển tiền ở nước ngoài, các ngân hàng đại
lý nước ngoài. Tăng cường bán chéo sản phẩm dịch vụ giữa ngân hàng và
các công ty bảo hiểm.

- Phải tăng cường hoạt động tiếp thị và chăm sóc khách hàng. Do phần lớn
đối tượng phục vụ của dịch vụ NHBL là các cá nhân, việc quảng bá, tiếp
thị các sản phẩm dịch vụ đóng vai trò cực kỳ quan trọng, có lợi cho cả
ngân hàng và khách hàng. Tăng cường chuyển tải thông tin tới công chúng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status