1
ĐỀ TÀI:
Phân tích môi trường chiến lược của ngành khai thác dầu khí
Giảng viên hướng dẫn : TS. NGUYỄN THANH LIÊM
Lớp : CAO HỌC QTKD 07 – 10
Học viên : ĐỖ THỊ HẰNG
=====================================
1. Các đặc tính nổi trội của ngành khai thác dầu khí
a. Quy mô ngành:
Dầu khí là sản phẩm có tính chiến lược, đóng vai trò quan trọng trong tăng
ngân sách quốc gia. Đồng thời, dầu khí còn là sản phẩm có tính chất điều tiết các
quan hệ chính trị quốc tế. Tầm quan trọng của dầu khí trong mỗi quốc gia là không
thể phủ nhận được.
Ở Việt Nam ngành công nghiệp dầu khí mặc dù còn nhiều mới mẻ nhưng đã
đóng góp đáng kể tăng kim ngạch xuất khẩu hàng năm, tăng ngân sách quốc gia và
tạo tiền đề quan trọng phát triển công nghiệp hóa dầu.
Hiện nay, sản lượng dầu thô khai thác của Việt Nam đã đứng hàng thứ tư ở
Đông Nam Á. Các nhà chuyên môn đã đánh giá cao về tiềm năng dầu khí ở Việt
Nam.
- Bể sông Hồng có tiềm năng dự báo địa chất khoảng 1 tỷ tấn dầu quy đổi. Mỏ
khí Tiền Hải (trữ lượng 1,8 tỷ m
2
) đã đưa vào khai thác từ năm 1981.
- Bể Cửu Long có tiềm năng dự báo địa chất khoảng 2 tỷ tấn dầu quy đổi.
Hiện nay tại bể này khai thác hai mỏ dầu Bạch Hổ và mỏ Rồng. Sản lượng
khai thác tính tới nay trên 50 triệu tấn dầu thô.
- Bể Nam Côn Sơn có tiềm năng dự báo địa chất khoảng 3 tỷ tấn dầu quy đổi.
Hiện ở đây mỏ dầu Đại Hùng đang được khai thác.
- Bể Thổ Chu – Mã Lai có tiềm năng dự báo địa chất khoảng vài trăm triệu
hiện gia tăng thêm trữ lượng trên 70 triệu tấn dầu thô và hàng chục tỷ m3 khí để
tăng sản lượng khai thác trong những năm tiếp theo.
Năm 2006, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam bố trí kế hoạch khai thác 20,86
triệu tấn dầu thô quy đổi (tăng 1,5 triệu tấn so với mức đã thực hiện trong năm
3
2002). Đây là năm đầu tiên nước ta khai thác trên 20 triệu tấn dầu thô quy đổi.
Trong đó có 17,6 triệu tấn dầu thô và 3,7 tỷ m3 khí thiên nhiên.
Trong năm 2008, tổng sản lượng khai thác của Petro Vietnam đạt 22,50 triệu
tấn quy dầu, trong đó gia tăng trữ lượng dầu khí 127 triệu tấn (từ các mỏ trong
nước đạt 30 triệu tấn, từ mỏ nước ngoài đạt 97 triệu tấn).
Trong năm nay, tập đoàn này dự kiến sẽ gia tăng sản lượng khai thác lên 35
- 40 triệu tấn dầu quy đổi với doanh thu dự kiến đạt 212,5 nghìn tỷ đồng, giảm gần
70 nghìn tỷ so với năm 2008.
Dự kiến đến năm 2010, ngành Dầu khí nước ta sẽ khai thác từ trên 45 đến 52
triệu tấn dầu thô quy đổi, nhằm đáp ứng các ngành năng lượng và sản xuất công
nghiệp của cả nước.
b. Phạm vi địa lý
- Hoạt động dầu khí ở một phạm vi rất rộng, diện tích tiến hành thường từ vài
chục đến vài trăm km
2
. Bao gồm hàng loạt các quá trình từ tìm kiếm thăm dò, phát
triển mỏ và khai thác dầu khí tới chế biến và thương mại dầu khí. Ngoài ra, còn
phải tính tới cả các hoạt động phục vụ trực tiếp cho các quá trình này.
- Thiệt hại rủi ro trong hoạt động dầu khí thường rất lớn. Canada bỏ ra gần 40
năm thăm dò dầu khí mới phát hiện ra dầu khí thương mại. Ở Việt Nam việc tìm
kiếm thăm dò dầu khí ở vùng trũng sông Hồng và thềm lục địa phía Bắc từ những
thập niên bảy mươi thế kỷ 20 nhưng kết quả cũng cho thấy: chưa phát hiện ra dầu
khí thương mại ở đây.
c. Nhu cầu vốn
ước tính sẽ chiếm khoảng 1 tỉ Đôla. Nguồn vốn này sẽ được đầu tư vào việc nâng
công suất khai thác mỏ khí Lan Tây & Lan Đỏ (lô 6.1), phát triển thêm mỏ khí Hải
Thạch & Mộc Tinh (lô 5.2 và 5.3) và xây dựng một nhà máy điện tiêu thụ khí tại
Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
Hiện tại BP đang là nhà thầu điều hành dự án khí Nam Côn Sơn, có tổng vốn
đầu tư 1,3 tỉ Đôla, và nắm 35% cổ phần khai thác tại lô 6.1 của dự án này. Lô 6.1
hiện có công suất khai thác là 3 tỉ mét khối khí/năm. Ông Mingé cho biết BP đang
có kế hoạch đầu tư mở rộng giàn khoan khai thác để nâng công suất khai thác của
lô 6.1 thêm 50% so với công suất thiết kế ban đầu vào giữa năm sau, nhằm tăng
5
sản lượng cung cấp khí thiên nhiên cho các nhà máy điện vào năm 2010. Các đối
tác đầu tư của BP tại lô 6.1 là ONGC (Ấn Độ) với 45% cổ phần và PetroVietnam
với 20% cổ phần.
Ngoài ra, công ty cũng đang trong quá trình thảo luận để sớm triển khai dự
án phát triển lô 5.2 và 5.3, nằm kế bên lô 6.1 với mục tiêu đưa khí vào bờ vào cuối
thập kỷ này (2010). Mặc dù chưa xác định được số tiền đầu tư vào mỏ khí này
nhưng ông Mingé cho biết BP đã đạt được sự nhất trí với các bên liên quan về lộ
trình thực hiện cũng như những thỏa thuận cần được ký kết để có thể triển khai dự
án.
Đầu năm nay, BP, PetroVietnam, Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN)
và Bộ Công nghiệp (MOI) đã ký một biên bản hợp tác để phát triển một trung tâm
điện lực tại Nhơn Trạch sử dụng khí khai thác từ lô 5.2 và 5.3. Trung tâm điện lực
Nhơn Trạch dự kiến sẽ tiêu thụ 2,5 tỉ mét khối khí/năm và có công suất là 2.640
MW.
Tại đây, BP cũng có kế hoạch xây dựng một nhà máy điện với công suất gần
tương đương với nhà máy điện Phú Mỹ 3 tại Bà Rịa - Vũng Tàu, để tạo thị trường
tiêu thụ khí cho lô 5.2 và 5.3. "Nhơn Trạch là một phần của kế hoạch phát triển thị
trường khí nên chúng tôi coi đây là một cơ hội tốt", ông Mingé nói.
Bên cạnh việc khai thác các mỏ khí và xây dựng nhà máy điện, BP cho biết
3. Vị trí nhóm chiến lược
Ngành khai thác dầu khí Việt Nam đẩy mạnh việc tìm kiếm, thăm dò, gia
tăng trữ lượng xác minh ở mức 70-80 triệu tấn quy dầu, khai thác và sử dụng hợp
lý, hiệu quả, tiết kiệm nguồn tài nguyên dầu khí trong nước, thúc đẩy các hoạt
động khai thác dầu khí ở nước ngoài và sớm đưa các phát hiện dầu khí mới vào
khai thác. Phấn đấu năm 2009-2010 tổng sản lượng khai thác dầu khí đạt 48,36
triệu tấn quy dầu, trong đó khai thác dầu thô (cả trong và ngoài nước) là 32,36 triệu
tấn, khai thác khí 16 tỷ m 3 .
7
Chú trọng vận hành an toàn các hoạt động sản xuất công nghiệp khí, điện,
xúc tiến đầu tư các dự án điện mới phù hợp với Quy hoạch điện VI, phấn đấu đến
hết năm 2010 đạt tổng công suất lắp đặt là 2.500 MW điện, chiếm 10% và đến
2015 chiếm 30% tổng sản lượng điện toàn quốc. Về công nghiệp chế biến dầu khí,
triển khai đúng tiến độ các dự án đầu tư nhà máy lọc dầu và hóa dầu trong nước
như Lọc dầu Dung Quất (công suất 6,5 triệu tấn/năm, vận hành từ tháng 2/2009),
Lọc hóa dầu Nghi Sơn, Lọc dầu Long Sơn (hoàn thành giai đoạn đầu vào năm
2013),…
Như vậy, trong cả giai đoạn 2006-2010, một số chỉ tiêu cơ bản phát triển của
PVN được điều chỉnh tăng lên, như tổng doanh thu đạt từ 1.130.015-1.244.803 tỷ
đồng (kế hoạch cũ là 669.300 tỷ đồng), sản lượng điện sản xuất đạt 26,91 tỷ Kwh
(kế hoạch cũ 15 tỷ KWh); tốc độ phát triển dịch vụ dầu khí trung bình đạt
20%/năm; bổ sung một số dự án đầu tư trọng điểm như Dự án khai thác dầu khí ở
Venezuela, liên doanh tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí với Zarubernhep và
Gasprom ở Liên bang Nga, Tổ hợp hóa dầu miền Nam. Các chỉ tiêu điều chỉnh
giảm là sản lượng khai thác dầu khí và sản lượng urê sản xuất, tiến độ vận hành
một số dự án khí và đạm,…
PVN cho biết, trong 3 năm đầu 2006-2008, một số chỉ tiêu phát triển chính
của Tập đoàn đã đạt mức của toàn giai đoạn, về đích trước 2 năm. Ước đến hết
năm 2008, doanh thu đạt 689.000 tỷ đồng, bằng 103% kế hoạch 5 năm 2006 -2010,
năm 2008, tăng 41,7% so với năm 2007. Kim ngạch xuất khẩu đạt 11,15 tỷ USD,
bằng 146,7% kế hoạch năm 2008, tăng 26,7% so với năm 2007 (lần đầu tiên đạt
mức trên 10 tỷ USD), chiếm 18% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Việt Nam
được ghi nhận là nước đứng thứ 3 Đông Nam Á về khai thác dầu thô.
Tại thời điểm khó khăn kinh tế như hiện nay, dầu khí được xem như yếu tố
trọng yếu góp phần giữ vững an ninh năng lượng để giữ ổn định kinh tế-xã hội đất
nước. Sự xuất hiện, duy trì hoạt động trên biển, đảo của các cán bộ, công nhân
ngành dầu khí cũng góp phần bảo vệ an ninh chủ quyền lãnh thổ quốc gia.
Tháng 2-2009 tới đây, một mốc son sẽ được ghi vào hành trình phát triển của
Tập đoàn, ngành dầu khí cũng như đối với đất nước Việt Nam ta. Đó là sự kiện
Nhà máy lọc dầu Dung Quất sẽ cho sản phẩm đầu tiên, và cũng theo kế hoạch, nhà
9
máy này sẽ được khánh thành vào quý III-2009. Nhờ sự ra đời của nhà máy, ngay
trong năm 2009 này, Việt Nam sẽ tự sản xuất khoảng 3 đến 3,5 triệu tấn xăng dầu,
đáp ứng khoảng 20% nhu cầu nội địa. Trong chiến lược phát triển của Tập đoàn,
đến năm 2013, khi tiếp tục có nhà máy lọc dầu Nghi Sơn được đưa vào sử dụng thì
sẽ sản xuất được 26 triệu tấn xăng dầu/năm, đáp ứng được phần lớn nhu cầu nội
địa.
Bên cạnh việc mở rộng hoạt động thăm dò, khai thác ở trong nước nhằm gia
tăng trữ lượng dầu khí, ngọn lửa hồng của PetroVietnam đang lan xa và bừng cháy
ở những miền đất mới. Ngoài những “trái ngọt” tại In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, I-
rắc, Mông Cổ , Tập đoàn đang tích cực xúc tiến các cơ hội đầu tư tại châu Phi,
Nam Mỹ, Trung Đông, Đông Nam Á và các nước thuộc Liên Xô cũ.
Thời gian qua, khi nền kinh tế đất nước gặp khó khăn từ việc thiếu điện, phân
bón thì các công trình của Tập đoàn như Nhà máy Đạm Phú Mỹ, Nhà máy Điện Cà
Mau 1 và 2; Nhà máy Điện Nhơn Trạch đã đi vào hoạt động là minh chứng hùng
hồn cho nỗ lực của Tập đoàn trong việc sản xuất những mặt hàng chiến lược cho
đất nước. Ngay trong những tháng mùa khô tới đây, các nhà máy điện của
PetroVietnam tại Cà Mau và Đồng Nai có thể cung cấp cho nền kinh tế hơn 10 tỷ
ngoài hoạt động trên thềm lục địa VN” (nguồn: Petro Vietnam).
Giai đoạn tiếp theo lạc quan hơn: “Sau 13 năm thực hiện Luật đầu tư nước ngoài
năm 1987 và bảy năm thực hiện Luật dầu khí (sửa đổi vào năm 2000), VN đã thu
hút được 3 tỉ USD đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp dầu khí (chủ yếu cho
công tác tìm kiếm thăm dò) ” (nguồn đã dẫn).
Kết quả là: “Năm 2002, các mỏ Cá Ngừ Vàng (Golden Tuna) và Voi Trắng (White
Elephant) được loan báo, trong đó riêng Cá Ngừ Vàng có trữ lượng 250 triệu
thùng. Tháng 4-2003, Petro Vietnam phát hiện tại mỏ Đại Hùng một khả năng sản
xuất khoảng 6.300 thùng/ngày. Đầu năm 2004, một phát hiện khác tại lô số 15-1
mỏ Sư Tử Trắng (White Lion) với khoảng 8.682 thùng/ngày, có thể đưa vào sản
xuất năm 2008. Tháng 7-2004, VSP phát hiện thêm dầu tại mỏ Rồng.
Ba tháng sau, một liên doanh gồm American Technologies, Petronas, Singapore
Petroleum và Petro Vietnam loan báo phát hiện một mỏ dầu có trữ lượng 100 triệu
thùng tại bờ biển phía Bắc. Cũng tháng 10-2004, các hãng dầu Nhật Bản Nippon
Oil Exploration, Idemitsu Kosan và Teikoku Oil (30 percent) loan báo kế hoạch
góp vốn vào các lô 05.1b và 05.1c tại bồn trũng Nam Côn Sơn.
Hai tháng sau, Hãng dầu Korean National Oil Corporation (KNOC) của Hàn Quốc
cùng các công ty dầu khác cũng của Hàn Quốc quyết định đầu tư 300 triệu USD
cho việc triển khai tại lô 11-2. Tháng 10-2005, Hãng dầu ONGC của Ấn Độ được
11
cấp giấy phép tại lô 127 ở bồn trũng Phú Khánh cùng lúc với Hãng dầu
ChevronTexaco của Mỹ tại lô 122 ở đây (nguồn: EIA/DOE).
Các nỗ lực thăm dò trên cho thấy có nhiều triển vọng tăng trữ lượng dầu, do những
nỗ lực “đa phương hóa” trong lĩnh vực kinh tế quan trọng này. Nếu so với trước
(chỉ một liên doanh dầu khí) tình hình sau khi có Luật dầu khí sửa đổi đã “đa diện”
hơn với phần lớn là các hợp đồng chia sản phẩm (PSC), bên cạnh một số ít hợp
đồng điều hành chung (JOC) và hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC).
UNDP và WB (ESMAP) thông qua “Chương trình hỗ trợ quản lý lĩnh vực năng
lượng” đã khuyến cáo: hình thức hợp đồng thường được sử dụng nhất với các nhà
giao, trở thành tập đoàn kinh tế lớn nhất hiện nay cả về vốn chủ sở hữu, doanh thu
và lợi nhuận. Riêng trong lĩnh vực nộp ngân sách của ngành dầu khí đã chiếm tới
31% tổng thu ngân sách nhà nước và kim ngạch xuất khẩu chiếm 18% tổng kim
ngạch xuất khẩu cả nước với hơn 11 tỷ USD. 2008 cũng là năm Tập đoàn phát
triển mạnh cả trong và ngoài nước, nhất là trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò, góp
phần gia tăng trữ lượng dầu khí; khả năng khai thác, chế biến và dịch vụ ngày càng
phát triển; các dự án trọng điểm đưa vào vận hành an toàn.
Tuy nhiên, vẫn còn những mặt còn hạn chế của Tập đoàn dầu khí Quốc gia
Việt Nam cần tập trung khắc phục như xây dựng kế hoạch khai thác phải sát hơn;
quyết liệt kiểm soát tiến độ, chất lượng các công trình trọng điểm; rà soát và kiểm
soát từng lĩnh vực và tất cả các dự án đầu tư kinh doanh đảm bảo hiệu quả, đồng
thời tăng cường quản lý và kiểm soát chặt các công ty thành viên.
Quy hoạch phát triển ngành dầu khí đến năm 2015 và định hướng đến năm
2025 với tinh thần quyết tâm phát triển đồng bộ ngành dầu khí từ thăm dò, khai
thác, chế biến, vận chuyển, tàng trữ, phân phối gắn với khả năng dịch vụ dầu khí
để khai thác hiệu quả nguồn dầu khí trong nước, đồng thời mở rộng thăm dò, khai
thác ra bên ngoài, góp phần quan trọng đảm bảo cân đối năng lượng cho đất nước.
Muốn như vậy, phải xây dựng Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam trở thành tập
đoàn mạnh, đa ngành, trong đó quan trọng nhất là dầu khí.