58
I. TÍNH CHẤT VÀ PHÂN LOẠI BỤI
Do bản chất lý hoá của các vật thể và bụi, nên người ta có thể có nhiều cách phân
loại, thường dựa vào các đặc điểm cơ bản của bụi trong sản xuất.
1.1. Theo nguồn sinh ra bụi (có 3 loại)
Bụi hữu cơ. Bụi có nguồn gốc từ động, thực vật (như: lông gia súc, súc vật và bụi
bông, đay, gỗ, ngũ cốc, giấy ).
. Bụi vô cơ
. Bụi của các kim loại (đồng, chì, kẽm, sắt, mangan ), Bụi các khoáng
chất (như thạch anh, cát, than, amiăng ).
Bụi hỗn hợp: Có thể có ở nhiều nơi, trong đó có thể nhiễm lẫn 30 - 50% bụi
khoáng chất. Loại bụi này dễ gây bệnh hơn bụi đơn thuần, thí dụ có nhiều silic, amiăng
sẽ tác hại nhiều lên cơ thể so với các bụi khác.
1.2. Theo kích thước hạt bụi
Phân loại b
ằng cách này rất quan trọng vì nó gắn liền với khả năng phân tán của
bụi trong môi trường
- Bụi cơ bản (trên 10 µm).
- Bụi dưới dạng mây (0,l - 10 µm).
- Bụi dưới dạng khói (< 0,1 µm).
Hoạt động của các loại bụi trong môi trường cũng như sự tồn tại của nó phụ
thuộc vào kích thước của hạt bụi to hay nhỏ.
Thời gian tồn tại của hạt b
ụi ở dạng khí dung loãng là tuỳ theo tác dụng qua lại
giữa hai lực theo hai chiều khác nhau.
- Trọng lực.
- Trở lực cọ sát giữa hai hạt bụi với lớp không khí xung quanh hạt bụi.
Trọng lực tính theo công thức.
)p(pπ.y
4
Công thức này cho ta biết trong phạm vi đó tốc độ rơi của hạt bụi vẫn tùy theo
kích thước của hạt bụi nhưng không tỷ lệ thuận với lập phương mà tỷ lệ thuận với bình
phương của hạt bụi.
Hạt dạng khói (< 0,1 µm) không vận động theo ảnh hưởng của 2 lực F và R, vì
vậy hạt bụi này hình như bay đi bay lại, hoàn toàn không bị các phân tử không khí
chống lại. Loại bụi này cũng ít lắng xuống phế nang nên khó gây bệnh
Những điểm trên cho ta thấy hạt bụi cơ bản chỉ lơ lửng trong không khí và tồn tại
trong khoảng thời gian rất ngắn. Sự vận động của bụi mây trong không khí nơi làm
việc hoàn toàn quyết định bởi độ phân tán của bụi. Trong thờ
i gian rất lâu chỉ có một
phần nào bụi khói rơi xuống.
Bụi bám vào đường hô hấp tuỳ theo độ phân tán của các loại bụi. Hạt to nhất
(trên 50 µm) hoàn toàn ở lại trong họng, khí quản và phế quản.
Hạt bụi từ 10 đến 50 µm ở lại trong đoạn từ khí quản đến phế quản nhỏ, không
vào phế bào.
Hạt bụi nhỏ từ 0,1 – 5 µm dễ vào phế bào nh
ất, thường chiếm 80 - 90% tổng số
hạt bụi bám ở đó.
Hạt bụi thật nhỏ, loại khói, vì vận động theo định luật Brown nên hoàn toàn
không rơi xuống, cũng không bám vào thành tế bào, mà vận động theo luồng không
khí khi người ta hít vào thở ra. Những hình thái bụi khói không còn nữa khi tụ lại
thành hạt to nếu độ ẩm kết dính chúng lại.
Hạt bụi to có thể ở lại trong máy lọc, nếu lỗ máy lọc nhỏ
hơn hạt bụi, do nguyên
nhân cơ giới, mặt khác do hướng và tốc độ luồng không khí thay đổi, làm hạt bụi rơi
xuống. Mây bụi có thể bám trên mặt máy lọc, những bụi khói thì vận động Brown,
khuếch tán như không khí, cho nên không lắng rơi trong máy lọc thường, mà muốn lọc
thì phải theo kiểu mặt nạ phòng bụi, chế tạo theo nguyên lý làm ẩm.
l.3.Tỷ trọng
) có tác dụng đặc biệt đối với cơ chế phát sinh và phát triển
của bệnh phổi nhiễm bụi.
- Bụi lò thomas có tác dụng đối với bệnh nhân viêm phổi nặng do nghề nghiệp.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU BỤI TRONG MÔI TRƯỜNG LAO ĐỘNG
Trong thực tế người ta có thể tiến hành nhiều phương pháp nghiên cứu song có 2
phương pháp thông dụng được ứng dụng trong y học lao động.
2.1. Định lượng hàm lượng bụi
Độ
đậm đặc của bụi trong không khí nơi làm việc được xác định qua định lượng.
2.2. Phân tích tính chất lý hoá
Xác định hình thái của hạt bụi, tính chất hoá học của bụi, đo độ ẩm, tỷ trọng, độ
tan, độ nổ và độ hút nước của bụi.
61
Trong vệ sinh lao động có thể áp dụng 3 phương pháp để phân tích như sau:
- Cân hoặc đo mức chếnh lệch về trọng lượng cụ thể.
- Đếm các hạt bụi.
- Vừa cân vừa đếm.
Cân bụi mang lại kết quả rất tốt. Để cân bụi, cần làm lắng sau đó lọc để tìm ra bụi
trong một thể tích không khí nhất định biểu diễn bằng mg/m
3
không khí.
Đếm bụi được áp dụng bằng cách lấy số hạt bụi trong một thể tích, đơn vị,
thường dùng là 1cm
3
để tính.
Ngoài số lượng và trọng lượng của bụi, cần đề cập thêm đến chất lượng của bụi,
trước hết là xác định hạt bụi to hay nhỏ vì độ phân tán của bụi có tác dụng rất nhiều
đối với cơ thể. Hạt bụi to, dù có rất ít cũng ảnh hưởng đến trọng lượng của bụi lấy
- Hàn điện, hàn hơi, cắt kim loại.
- Sản xuất hoá chất, xếp dỡ, pha trộn, nghiền nguyên vật liệu.
- Trong nông nghiệp: đập lúa, rải phân bón hoá học, thuốc trừ sâu
Lehmann dùng phương pháp cân để quy ra tiêu chuẩn bụi ở các khu vực sản xuất.
Lượng rất ít 1 mg/m
3
không khí
Lượng ít 5 mg/m
3
không khí
Lượng chịu được 10 mg/m
3
không khí
Lượng có hại 20 mg/m
3
không khí
Lượng nhiều 30 mg/m
3
không khí
Lượng rất nhiều 100 mg/m
3
không khí.
Phương pháp này chỉ tính lượng bụi, không đề cập đến sự phân tán và tác dụng.
Trong việc nhận định độ bụi, không thể có một tiêu chuẩn duy nhất, áp dụng chung
cho các loại bụi, mà phải xét đến tác dụng, tỷ trọng độ phân tán và nhận định theo từng
loại bụi và từ đó xét đến kỹ thuật sản xuất và thông gió. Dưới đây là tiêu chuẩn nồng
độ bụi không làm nhiễm độc ở n
ơi sản xuất (tiêu chuẩn tối đa cho phép):
Bụi thạch anh, cát từ 1 - 4 mg/m
3
3
.
- Khá thấp: 200 - 500 hạt/cm
3
- Trung bình: 500 hạt/cm
3
.
- Cao: 500 - 1.000 hạt/cm
3
.
- Rất cao: > 1.000 hạt/cm
3
IV. QUÁ TRÌNH BỤI VÀO CƠ THỂ
Bụi được hít không vào hết trong cơ thể vì những hạt to (>25 µm) bị lông mũi
63
cản lại, còn thì phần lớn ở lại trong mũi nhờ ở niêm mạc mũi thường ướt, đường mũi
quăn queo, vành mũi và lá mía rộng. Hạt bụi nhỏ có thể dễ lọt qua mũi vì ít kích thích
niêm mạc. Nếu bị bệnh viêm mũi sẽ giảm đi rất nhiều.
Theo Lehmann số bụi ở lại trong mũi, tính theo trọng lượng là 8,3 đến 73,7% số
bụi hít vào. Mũi càng cản nhiều b
ụi, thì càng ít mắc bệnh phổi do bụi. Ngoài ra khi
khạc đờm, bụi bám trên thượng bì có lông rung động của đường hô hấp trên, sẽ theo ra
ngoài.
Có một số bụi theo nước bọt vào dạ dày và sẽ bị ruột đẩy ra ngoài hoặc bị niêm
mạc dạ dày hấp thụ nếu là loại tan được. Có loại sau khi tan hoặc bị dịch vị phân giải
có thể gây độc hại như bụi lân và bụi thuốc lá.
Một số
bụi nhỏ (bụi dạng khói) vào trong phổi nhưng không lắng xuống mà lại
2. Gây phản ứng tăng thực đối với phổi, nhưng không rõ rệt: bụi than, bụi oxit
sắt
3. Tác dụng làm cho xơ hoá tăng thực rõ rệt gây bệnh phổi mạn tính nặng: bụi
silic (SiO
2
) bụi amiăng
4. Làm giảm tính chất miễn dịch của tổ chức phổi: bụi xỉ lò thomas; gây ung thư
phế quản và ung thư phổi như crom và các hợp chất hoá học của asen.
5. Gây viêm nhiễm, bội nhiễm trên bộ máy hô hấp: tỷ lệ rất cao thường gặp tự
30- 70% ở người tiếp xúc với các loại bụi.
5.2. Các bệnh phổi nhiễm bụi
Trong các tác hại do hít phải bụi, nghiêm trọng nh
ất là bệnh ở phổi. Hạt bụi lắng
trong phổi gây nên các bệnh phổi vì chất xơ tăng sinh.
5.2.1. Những ngành công nghiệp thường mắc bệnh phổi nhiễm bụi
Đối với các bệnh phổi nhiễm bụi, tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào tính chất của bụi,
đặc điểm của sản xuất, tuổi đời, thâm niên trong công tác.
Theo thống kê, các công nhân sau đây thuộc loại mắc nhi
ều nhất:
- Công nhân khai thác các khoáng sản như thạch anh, đá hoa cương 21-31%.
- Thợ phun cát và thợ sửa, gọt đồ đúc ở phân xưởng đúc nhôm là 30%, gang
10%
- Thợ mài, nghiền ở các nhà máy sứ: 28 - 76%.
5.2.2. Tính chất của bụi và bệnh phổi nhiễm bụi
Tuỳ theo tính chất của các loại bụi hít vào sẽ gây những loại bệnh như sau:
- Phổi nhiễm bụi silic (Silicose).
- Phổi nhiễm bụi than (Anthracose).
- Phổi nhiễm bụi s
ắt (Siderose)
- Phổi nhiễm bụi amiăng (Asbestose).
và làm tổn thương đến lưới mao quản của phổi.
5.3.3. Ung thư phổi
Công nhân mỏ lâu năm hay bị ung thư phổi hoặc kết hợp nhiễm bụi rất nặng,
kèm theo ung thư. Khi bị bệnh bụi phổi, hạch lympho phế quản và trong phổi sẹo hoá
có thể là cơ sở đầu tiên cho ung thư. Nói chung, các loại bụi “dicromat, sắt oxit, cát ”
đều có thể ít nhiều gây ung thư phổi, vì nó kích thích phổ
i và phế quản.
Hiện tượng thượng bì hình trụ biến thành thượng bì dẹt và bệnh viêm phế quản
biến hình cũng có thể gây ung thư phổi. Thanh phế quản biến hình do đó hư hỏng, sau
đó hạch lympho tích bụi lại trong phế quản tạo thành sẹo.
5.3.4. Phản ứng dị ứng
Một số bụi có tác dụng gây dị ứng ở một số người và có thể gây bệnh hen suyễn,
viêm mũi, viêm phế quản và nhức nửa đầu. Thường gặp ở các trường hợp dưới đây:
- Công nhân làm việc tiếp xúc với da, lông động vật.
- Công nhân làm khuy trai, bột, bánh mỹ, trồng hoa
- Dược sỹ tiếp xúc với các bụi thuốc.
- Công nhân làm đay, tơ, một vài loại bông, công nhân nông nghiệp (bệnh hen
mùa xuân).
5.3.5. Gây nhiễm khuẩn
66
Bụi có thể mang theo các vi khuẩn gây bệnh lao, bệnh nấm phổi do hít phải bụi
nhiễm khuẩn (bụi trong nhà và bụi nhà nông ).
5.4. Những bệnh khác do bụi
5.4.1. Da
Bụi có thể tác dụng đến các tuyến nhờn da, làm khô da, do đó dễ bị kích thích và
mắc bệnh da (trứng cá, viêm nang lông, viêm mủ da).
- Công nhân ở các ngành dưới đây dễ mắc bệnh da:
- Công nhân đốt lò hơi
- Công nhân sửa chữa luyện kim.
nên khó tiêu và viêm dạ dày.
VI. PHƯƠNG PHÁP PHÒNG CHỐNG BỤI TRONG SẢN XUẤT
6.1. Thay đổi trạng thái của nguyên liệu
Có thể thay đổi trạng thái của nguyên liệu và thành phẩm. Thí dụ: cấm bán chì
trắng (chì cacbonat), chỉ được bán chì trắng trộn với dầu khô. Vôi phải chế thành vôi
nước để khi vận chuyển khỏi phát sinh nhiều bụi, chất paranitro - anilin phải chế thành
vữa để bán, không được làm thành bột vì độc.
6.2. Cải tiến kỹ thuật
Trong nhi
ều xí nghiệp sản xuất hiện đại, có các công việc gây nên bụi như:
nghiền, mài, đánh bóng và dùng các đồ khuôn, nên thay thế bằng cách đúc khuôn, rập
khuôn và các kỹ thuật tiên tiến hơn. Nhiên liệu thể đặc dần dần thay thể lỏng, thể khí
sẽ không có khói và bụi nữa, bằng phương pháp phun nước đào than sẽ triệt tiêu được
nhiều bụi.
Cơ giới hoá và làm thật kín dây chuyền cung cấp các nhiên liệu vào lò: xếp dỡ,
cân đong, đóng gói các chất bột. Khi vận chuyển nhiều chất bột, dùng máy tự động để
xếp, dỡ. Ngoài ra dùng máy nghiền tròn (dùng quả cân bằng gang, bằng sứ để nghiền,
tán) ông quay nhanh và kín để nghiền vật đúc thay cho giũa, mài. Máy giặt tự động,
máy trải ngũ cốc sẽ giảm được nhiều bụi.
Việc áp dụng cát nhân tạo một cách rộng rãi thay cho cát thiên nhiên, giảm nhiều
khả năng sinh ra bệnh ph
ổi nhiễm silic, đá mài xa thạch (memeri) có rất ít SiO
2
tự do
và rất cứng nên có ít bụi. Những phương pháp dưới đây, cũng làm giảm nhiều bụi.
- Buồng máy trải bông trong nhà máy dệt dùng không khí nén để quạt răng lược.
- Làm sạch vật gia công và chế phẩm (như rửa sạch lông súc vật) trước khi làm
sản phẩm chính.
- Sau khi lấy vật đúc ở máy gọt sửa ra, cần rửa xong rồi mới cho vào máy gọt
có thiết bị chống bụi chu đáo (phun nước, lau bằng khăn ẩm, dùng máy hút bụi, hay
quét bụi ) thiết k
ế sàn, tường và trần thích hợp.
Công nhân ở nơi sinh ra nhiều bụi, cần nghiêm chỉnh tuân theo chế độ vệ sinh cá
nhân, được sử dụng các thiết bị tắm, rửa và dụng cụ phòng bụi cá nhân.
6.4. Điều kiện tuyển lựa và bảo vệ sức khoẻ công nhân
Những người mắc bệnh sau đây không được làm việc ở những nơi có nhiều bụi
SiO
2
bụi thạch ma, bụi bã lò thomas.
- Lao phổi tiến triển, khí thũng phổi, hô hấp bằng mũi bị trở ngại, viêm phế quản
mạn tính.
- Bệnh tim mất bù.
Những người mắc bệnh sau đây phải tránh bụi kích thích:
- Viêm đường hô hấp trên mạn tính hay chuyển sang cấp diễn.
- Viêm kết mạc, viêm da, lở loét
Thường xuyên kiểm tra sức khoẻ công nhân để phát hiện các rối loạn bệnh lý
nghề nghiệp, có k
ế hoạch bảo vệ và tăng cường sức khoẻ cho họ cùng với việc tiêu
chuẩn hoá và giám sát thường xuyên môi trường lao động.
69
TIẾNG ỒN VÀ RUNG CHUYỂN
TRONG SẢN XUẤT1. TIẾNG ỒN
1.1. Khái niệm chung
Tiếng ồn là tập hợp tất cả những âm thanh hỗn tạp có trong môi trường, từ mọi
nguồn, mọi phía không theo quy luật nào cả, tác động lên cơ quan thính giác, nên nó
2
/s. Trên cơ sở
này người ta lấy khoảng cách từ 10
-9
đến 10
+4
bao gồm 13 bậc và lấy làm đơn vị thể
hiện cường độ của tiếng ồn, nó sẽ quy định là 13 Bell (theo tên của tác giả Graham
Bell, người phát minh ra điện thoại). Trong thực hành vệ sinh lao động người ta còn
chia nhỏ thành Dexibell (db) để dễ ứng dụng.
ví dụ: - Nói chuyện bình thường khoảng 30 - 40dB
- Nói to 70dB
- Tiếng búa rèn khoảng 100 - 120dB
- Còi ôtô 90dB
- Tiếng búa hơi khoảng 1m 110dB
- Tiếng máy bay phản lực (cách 10m) 130dB
Tác hại của tiếng ồn trong môi tr
ường trên thực tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
70
Không những tác hại phụ thuộc vào bản chất của tiếng ồn và các yếu tố cộng hưởng
mà còn phụ thuộc vào cơ địa của bệnh nhân. Cường độ của tiếng ồn càng cao khả năng
gây hại càng lớn, các sóng cao tần có thể gây hại ngay ở mức 70dB trong khi các sóng
trung tần hoặc tần số thấp phải 80 - 90dB mới gây hại cho cơ thể người tiếp xúc.
Trong công nghiệp, người ta chia tiếng
ồn ra làm hai loại chính đó là: tiếng ồn
liên tục và tiếng ồn ngắt quãng. Tiếng ồn ngắt quãng thường có cường độ cực đại lớn
hơn cực tiểu trên 10dB. Tiếng ồn liên tục không ngắt quãng thường có cường độ cực
đại và cực tiểu chênh lệch dưới 10dB.
Một số yếu tố rung chuyển, hoá chất độc hại cũng làm tăng khả năng tác động
thần kinh trung
ương dẫn đến hiện tượng mất cân bằng trong điều chỉnh hệ thần kinh
thực vật gây suy nhược cấp tính hệ thần kinh thực vật của cơ thể. Quá trình suy nhược
71
kéo dài sẽ chuyển sang giai đoạn mạn tính bởi lẽ tác động của tiếng ồn thường xuyên,
sự kích thích liên tục, quá trình ức chế xuất hiện do ngưỡng đáp ứng của hệ thần kinh
tăng lên, xuất hiện ức chế bảo vệ, hệ thần kinh ngoại biên có thể bị viêm và khả năng
điều hoà của hệ thần kinh có thể bị rối loạn. Hậu quả c
ủa rối loạn này là trạng thái suy
nhược mạn tính, ăn không ngon ngủ không yên, tính tình thay đổi hay cáu gắt, thiếu
kiên nhẫn ở nơi làm việc cũng như ở nhà, thiếu máu bạch cầu có đoạn giảm. Jansen
(1967) thấy trên 699 công nhân luyện thép tiếp xúc với tiếng ồn thường hay cãi cọ
nhau, xung đột lẫn nhau cả ở nhà và nơi làm việc.
Đối với hệ thần kinh trung ương tiếng ồn sẽ gây ức chế, trừ
tiếng ồn trắng gây
kích thích lên cơ thể xảy ra nhiều dấu hiệu bệnh lý thần kinh. Trên thực nghiệm cho
thấy có biến đổi nội tiết ở tuyến yên, tuyến giáp và thượng thận trên súc vật thực
nghiệm.
Tiếp xúc nhiều với tiếng ồn còn thấy sự thay đổi bài tiết amilaza, gây rối loạn
tiêu hoá, ăn không ngon, đầy bụng, khó tiêu.
Tiếng ồn có tác động đặc biệt và trực tiếp lên c
ơ quan thính giác của người tiếp
xúc qua một quá trình, thường là lâu dài, qua 3 giai đoạn. Lúc đầu là hiện tượng thích
nghi sau đó đến mệt mỏi thính giác rồi cuối cùng là điếc nghề nghiệp. Giai đoạn thích
nghi là thời gian mới tiếp xúc với tiếng ồn quá tiêu chuẩn cho phép, ngưỡng nghe tạm
thời tăng lên khoảng 10 đến 15dB so với bình thường (10dB) như vậy lúc này ngưỡng
nghe khoảng 20 - 25dB, tuy nhiên nếu tách ra khỏi môi trường có tiếng ồn cao thì
ng
ưỡng nghe trở lại bình thường (hồi phục). Giai đoạn mệt mỏi thính giác: Do thính
dẫn đến mệt mỏi không hồi phục, không chuyển sang giai đoạ
n bệnh lý mạn tính. Thời
gian lao động đủ gây mệt mỏi hoặc chưa mệt mỏi đã được nghỉ sẽ mau hồi phục chức
năng của các cơ quan trong cơ thể trong đó có cơ quan thính giác.
Về vấn đề y tế và an toàn lao động cần lưu ý là việc tiêu chuẩn hoá môi trường
lao động có tiếp xúc với tiếng ồn và chăm sóc sức khoẻ cho người lao động. Môi
trường lao động phả
i có tiếng ồn dưới tiêu chuẩn cho phép.
- Tiếng ồn chung: Dưới 85dB
- Sóng cao tần 800 Hz trở lên: Dưới 75dB
- Sóng trung tần 300 - 800 Hz: Dưới 85dB
- Sóng hạ tần dưới 300 Hz Dưới 95dB
Trong khám, tuyển người lao động ở môi trường có tiếng ồn cao cần loại trừ
người có các bệnh về tai và thần kinh. Đối với người lao động làm việc tiếp xúc với
tiếng ồn vượt tiêu chuẩn cho phép cần được khám sức khoẻ thường xuyên để
kịp thời
phát hiện những tình trạng bệnh lý ban đầu do tiếng ồn hoặc bệnh ở giai đoạn mới, giai
đoạn tiềm tàng có thể chữa khỏi được và nếu bị bệnh ở giai đoạn biến chứng thì giải
quyết chế độ cho họ theo chế độ hiện hành.
II. RUNG CHUYỂN
2.1. Khái niệm chung
Rung chuyển xảy ra rất phổ biến trong sản xuất. Ngày nay máy móc
được sử
dụng nhiều nên số người tiếp xúc với rung cũng ngày một tăng. Các máy móc gây
rung với các tần số khác nhau, biên độ khác nhau, gia tốc khác nhau sẽ gây hại cho cơ
thể một cách toàn thân hay cục bộ. Rung tần số thấp là rung sóc gây tác động toàn thân
(đôi khi có các tần số cao). Thực tế ở nước ta trong sản xuất công nghiệp phần lớn là
rung chuyển tần số cao (trên 20 Hz), rung chuyển cục bộ, truyền theo đường tay, gặp
ở
cho phép. Ngược lại, rung tần số nào cũng nguy hiểm nếu biên độ, vận tốc hoặc gia tốc
tương ứng vượt quá giới hạn cho phép. Cũng vì vậy, khi nói đến giới hạn tối đa cho
phép về rung, không phải là giới hạn về tần s
ố mà là giới hạn về biên độ, vận tốc hoặc
gia tốc tương ứng với tần số rung.
Tiêu chuẩn rung chuyển căn cứ vào biên độ, hoặc vận tốc, gia tốc, ở các tần số
khác nhau. Ví dụ: Tiêu chuẩn đối với các dụng cụ cầm tay như sau: 74
Giới hạn tần số rung (Hz)
Giới hạn cho phép vận tốc
rung (m/giây)
Số trung bình
nhân của tần
số rung
Thấp Cao
Giá trị thực
(m/giây)
Mức độ rung
(dB)
8 5,6 11,2 5,00.10
-2
120
16 11,2 22,4 5,00.10
-2
120
32 22,4 45 3,50. 10
-2
117
khoảng 10% hành khách máy bay và 8% thuỷ thủ có biểu hiện này. Tình trạng bệnh
giảm nhẹ theo tuổi và sự rèn luyện. Say tàu xe biểu hiện ra theo mức độ: nôn nao, nôn
oẹ, xanh tái, vã mồ hôi; nôn oẹ kéo dài và suy yếu nặng. Các triệu chứng nôn oẹ làm ta
tưởng là rối loạn tiêu hoá. Th
ực ra đó chỉ là rối loạn hệ thần kinh giao cảm do tiền đình
bị tác động.
2.2.2.Rung chuyển tần số thấp 2 - 20Hz
Đây thường là rung xóc xe cộ, ảnh hưởng đến toàn cơ thể. Rung xóc này gập ở
phần lớn xe cộ, loại xe tải chở hàng, máy kéo công nghiệp, máy bay trực thăng, các
loại máy công trường, xe ủi đất Biểu hiện lâm sàng thường là đau quanh vùng cột
sống, do tư thế
lao động bắt buộc, phối hợp với tác động đặc biệt của rung chuyển.
Nhiều tác giả cho rằng rung xóc làm nặng thêm các tổn thương cột sống có trước, chứ
ít gây tổn thương trực tiếp.
75
Người ta còn gặp hội chứng thắt lưng - toạ, rối loạn tiêu hoá, tiết niệu. Rung xóc
ảnh hưởng đến phủ tạng khác như tim (đau vùng ngực), gan (đau bụng dữ dội). Ngoài
ra, còn thấy rối loạn thần kinh, mất phản xạ gối, mất thăng bằng, thị lực có thể giảm
sút. Nhu động ruột cũng biến đổi, do các cơ trơn luôn luôn ở tình trạng căng thẳng.
2.2.3. Rung chuyển tần số cao từ 20 Hz tới 1000 Hz
Các tác giả Liên Xô (cũ) E.A. Drogicina và I.K. Rasumov, năm 1974, đã chia
rung chuyển tần số cao ra ba loại:
- Tần số dưới 40 Hz, biên độ lớn hàng centimet, gây tổn thương xương và khớp.
- Tần số từ 40 đến 300Hz, biên độ ở hàng milimet, gây rối loạn vận mạch, đặc
biệt gặp ở bàn tay. Đó là hiện tượng Raynaud.
- Tần số trên 300Hz, biên độ khoảng 0,01mm, gây tổn thương cân, cơ, thầ
n kinh
gặp ở bàn tay, cánh tay và vai.
Chính các loại rung chuyển tần số cao, truyền Vào cơ thể theo đường tay (rung
hơi trong không khí nguy hiểm hơn cả.
Chất độc là những chất với một liều lượng nhất định khi xâm nhập vào cơ thể
gây nên các biến đổi sinh lý, sinh hoá, phá vỡ thế cân bằng sinh h
ọc, gây nên rối loạn
chức năng sống bình thường dẫn tới trạng thái bệnh lý của các cơ quan và toàn bộ cơ
thể.
Chất độc nghề nghiệp là chất có trong môi trường lao động và liên quai đến một
nghề nào đó từ quy trình sản xuất đến thành phẩm.
Nhiễm độc nghề nghiệp là những bệnh do chất độc nghề nghiệp gây ra.
Giới hạn giữa chất độc và chấ
t không độc chủ yếu là dựa vào liều lượng. Có chất
với liều nhỏ là thuốc sử dụng chữa bệnh, nhưng liều cao lại là chất độc. Thường liều
phân biệt là 100mg/kg; nếu chất nào đó với liều dưới 100mg/kg đ có khả năng gây
nhiễm độc tố thì được coi là chất độc.
Yếu tố quyết định đến tác hại của chất độc là:
- Tính chấ
t hoá học.
- Tính chất lý học.
- Nồng độ và thời gian tiếp xúc.
- Yếu tố cá thể như cơ địa từng người.
- Các yếu tố môi trường như nhiệt độ cao, độ ẩm cao.
Các chất độc trong sản xuất được phân loại theo nhiều nguyên tắc khác nhau
như: theo trạng thái vật lý, theo cấu trúc hoá học hoặc theo cách tác dụng lên cơ thể.
Năm 1969 các chuyên gia của WHO/ ILO đề nghị nhân theo tác động sinh học, chia ra
làm 4 lo
ại:
77
Loại A: Tiếp xúc không nguy hiểm, không ảnh hưởng tới sức khoẻ.
Loại B: Có thể gây tác hại song hồi phục được.
C2)kA(C1
v
−
=
Nói chung, các chất hữu cơ tan trong lipid, không ion hoá, có thể dễ dàng đi qua
các màng. Các chất hữu cơ không bị ion hoá được vận chuyển tuỳ theo khả năng hoà
tan trong lipid của chúng.
78
III. CÁC ĐƯỜNG XÂM NHẬP
3.1. Đường tiêu hoá
Qua miệng: Các chất hấp thu qua miệng không bị ảnh hưởng của dịch dạ dày và
không cần phải qua gan trước khi vào tuần hoàn chung.
Qua dạ dày: Nhiều chất hoá học có tính axít yếu được hấp thụ nhanh chóng qua
dạ dày, vì với pH dạ đày chúng thường có chủ yếu dưới dạng không ion hoá. Các axít
mạnh và kiềm ion hóa sẽ không được hấp thụ trong dạ dày.
Ruột non: Tốc độ hấp th
ụ các chất khuếch tán qua thành ruột cũng được quyết
định bởi hằng số phân ly và tính tan được trong lipid của chúng.
Một số chất hoá học (ví dụ: 5 - nuorouracile Và 5 - bromouraclie) về mặt cấu trúc
rất giống với hợp chất thiên nhiên, sẽ được chuyển vào cơ thể như thức ăn.
Người ta cũng chứng minh được rằng các đại phân tử (protein, các hạt polime) có
thể đi qua biểu mô ruột non nhờ thực bào.
H
ấp thụ ở ruột già (tương tự như ở ruột non).
3.2 Đường phổi
Phổi là đường vào chính của các chất độc công nghiệp, nhiều chất độc công
nghiệp: khí kích thích, silic, amiăng gây tác động trực tiếp lên các đường hô hấp.
Tuy vậy, một phần các chất độc hít phải có thể đi vào tuần hoàn chung. Diện tích các
phế nang được ước lượng là 80m
ện bằng hai đường chính: Đường qua
biểu bì và đường qua nang lông tuyến bã (các nang lông, tuyến bã, tuyến mồ hôi). Vận
chuyển qua biểu bì không nhanh bằng qua đường nang lông tuyến bã, nhưng vì diện
tích biểu bì lớn hơn từ 1.000 đến 100.000 lần so với diện tích của các phần phụ của da
nên sự hấp thu chủ yếu diễn ra qua đường biểu bì. Tuy nhiên, đối với một số phân tử
lởn khuếch tán rất chậm, sự xâm nhập b
ằng con đường nang lông tuyến bã có thể đóng
vai trò quan trọng hơn.
Sự vận chuyển qua biểu bì thực hiện chủ yếu bằng khuếch tán thụ động và hàng
rào chính đối với khuếch tán là lớp sừng.
Các tế bào biểu bì nằm kề bên dưới lớp bì và các vách mao mạch đều tương đối
dễ thấm và một khi đã qua được lớp sừng, sự xâm nhập vào lớp bì và hệ thống tuần
hoàn đ
ã gần như được bảo đảm.
3.4. Đường mắt
Tiếp xúc đường mắt chủ yếu gây ra tác dụng tại chỗ, nhưng các chất ưa lipit và
rất độc (ví dụ một số thuốc trừ sâu lân hữu cơ) vẫn có thể được hấp thu với số lượng
đủ gây tác dụng toàn thân.
3.5. Sự hấp thu của chất độc vào máu
Chất độc hấp thu vào máu với tốc độ và số
lượng khác nhau phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như: Tính chất vật lý và hoá học của chất độc (độ hoà tan trong nước hay trong
lipit, khả năng liên kết với các cấu trúc đặc hiệu và không đặc hiệu ), tình trạng cơ thể
(tuổi, giới, thể tạng, màng tế bào, thành mạch, tuần hoàn tại chỗ ), các yếu tố bên
ngoài như: sự có mặt của các chất làm tăng hấp thu, các chất hoà tan, điều ki
ện tại
chỗ
IV. SỰ PHÂN BỐ VÀ CHUYỂN HOÁ CỦA CHẤT ĐỘC TRONG CƠ THỂ
4.1. Phân bố
a một chất độc đối với cơ thể được quyết định bởi sự kết hợp với cấu
trúc nhất định. Nghiên cứu cơ chế tác dụng của một chất độc là xác định thành phần
nào trong cơ thể là vị trí tấn công đặc hiệu.
Khái niệm vị trí tấn công đặc hiệu còn được gọi là tế bào đích hoặc thụ thể
(recepter). Có thể có một s
ố lượng lớn xâm nhập vào cơ thể nhưng chỉ những phân tử
chất độc nào kết hợp với tế bào đích mới gây ra tác dụng độc. Quá trình kết hợp này
tuân theo quy luật “khoá - chìa khoá”, nghĩa là giữa chất độc và vị trí tấn công phải
phù hợp về mặt cấu trúc. Lực kết hợp càng chặt, số lượng thụ thể bị chiếm chỗ càng
nhiều thì tác dụng của chấ
t độc càng mạnh. Do đó, cường độ tác dụng của một chất
độc phụ thuộc vào những yếu tố sau:
- Ái lực hoá học giữa chất độc và thụ thể.
- Nồng độ chất độc tại chỗ.
- Sự phù hợp về mặt cấu trúc của hai thành phần tham gia có bị các yếu tố khác
làm thay đổi không (có mặt các chất có khả năng kết hợp với chất độc ho
ặc thụ thể)
- Một số điều kiện tại chỗ: pH, nồng độ các chất điện giải
Nghiên cứu quá trình tương tác giữa chất độc và vị trí tấn công đặc hiệu được gọi
81
là độc lực học (Toxicodynamic). Từ đó làm cơ sở để tìm ra các thuốc chống độc đặc
hiệu.
4.3. Biến đổi của chất độc trong cơ thể
Giống như các chất đưa từ môi trường bên ngoài vào bên trong cơ thể, chất độc
chịu sự tác động của các yếu tố trong cơ quan, tổ chức và bị biến đổi, chuyển hoá.
Cũng có những chất độc vẫ
n giữ nguyên trạng thái ban đầu cho đến khi thải ra ngoài.
Nhưng phần lớn các chất đều bị thay đổi về mặt cấu trúc hoá học cũng như tính chất
ban đầu. Có một số chất độc thông qua quá trình biến đổi sinh hoá chuyển thành sản
Có hai cơ chế vận chuyển chủ động khu trú trong ống thận gần cho việc bài xuất
các anion (ví dụ: acide - aminohippurique, chlorothiazide, penicilline G, probénécid)
và các chuồn (ví dụ: hexamethinium). Như vậy, các hợp chất bài xuất bởi vận chuyển
chủ động là những chất ion hoá không ưa lipit, có thể được vận chuyển ngượ
c chiều
82
với gradient nồng độ. Các chất bài xuất bởi cùng một cơ chế chủ động cạnh tranh với
nhau và tốc độ bài xuất một chất hoá học có thể bị giảm khi cho vào thêm một chất
khác (ví dụ: penicilline G, probénécid). Nói chung, các chất hữu cơ có cực và không
ưa lipit sẽ được tái hấp thu dễ hơn bằng khuếch tán đơn giản và dễ bài tiết hơn các cơ
chế vận chuyển chủ động so vớ
i các chất hoá học không cực và ưa lipit.
5.2. Bài tiết mật
Gan là cơ quan chính trong việc biến đổi các chất độc. Các sản phẩm biến đổi
(các chất chuyển hoá hoặc liên hợp), sau đó vận chuyển trong tuần hoàn máu (về phía
các xoang gan, tĩnh mạch gan và tĩnh mạch chủ trên) hoặc trong mật. Một số chất có
nồng độ trong máu và mật đều như nhau, những chất có tính phân cực cao thì được ưu
tiên bài tiết trong mật do quá trình v
ận chuyển chủ động.
Bài tiết mật chỉ trở nên quan trọng cho những chất có trọng lượng phân tử lớn
(Abdel Aziz và CS).
Tuy nhiên, có sự khác nhau trong trọng lượng phân tử tới hạn và bài tiết mật trở
nên quan trọng tuỳ theo đó là một chất một - chuồn, hai - chuồn hoặc anion tuỳ theo
loài (Hughes và cs, 1973 a và b). Bromosulphtaléine (BSP) là ví dụ điển hình về một
chất được ưu tiên bài tiết qua đường mật trong dạng tự do ho
ặc liên hợp (trong gan)
với glutation.
Các chất bài tiết trong mật dưới dạng liên hợp (ví dụ: như với acide
glucuronique) có thể sau đó bị thuỷ phân bởi các men có trong mật, trong các chất tiết