Thực trạng và giải pháp hoàn thiện chế độ tai lao động và bệnh nghề nghiệp cho người lao động tham gia BHXH Việt Nam - Pdf 27

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
A- LỜI MỞ ĐẦU
Bảo hiểm xã hội đã xuất hiện cách đây hàng trăm năm trên thế giới, và cho
tới nay, BHXH đã trở thành công cụ hữu hiệu mang tính nhân văn sâu sắc để
giúp con người vượt qua những khó khăn, rủi ro phát sinh trong cuộc sống
cũng như trong qua trình lao động .Vì vậy, BHXH ngày càng trở thành nền
tảng cơ bản cho An sinh xã hội của mỗi quốc gia, của mọi thể chế Nhà nước
và được thực hiện ở hầu hết các nước.
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn coi con người là vốn quý của xã
hội là lực luợng tạo ra của cải vật chất cho xã hội và là nhân tố quan trọng
trong quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước. Việc đảm bảo một
môi trường an toàn cho sản xuất cũng như có được chính sách hỗ trợ người
lao động khi họ gặp tai nạn lao động hay mắc bệnh nghề nghiệp luôn được
chúng ta coi trọng. Chính vì vậy, chế độ trợ cấp về TNLĐ&BNN đã ra đời
như một tất yếu khách quan. Trải qua hơn chục năm hình thành và phát triển,
BHXH nói chung và chế độ trợ cấp TNLĐ&BNN nói riêng đã đạt được nhiều
thành tích đáng khích lệ. Hàng năm, chế độ đã chi trả trợ cấp cho hàng nghìn
người lao động giúp cho cuộc sống của họ và gia đình giảm bớt được phần
nào khó khăn đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho nguời lao động có thể tái
gia nhập vào lực luợng sản xuất xã hội. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh
tế, đất nước ta đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ, chính vì vậy, một
số những quy định trong chế độ trợ cấp TNLĐ&BNN đã tỏ ra không phù hợp
với tình hình mới.
Trước thực tế này, đề tài : “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện chế độ
TNLĐ&BNN cho người lao động tham gia BHXH ở Việt Nam” đã ra đời. Đề
tài đã được em nghiên cứu trong suốt quá trình thực tập của mình. Em hi vọng
rằng với những gì đã được tiếp thu từ ghế nhà trường cũng với những kiến
thức bổ ích trong quá trình thực tập vừa qua, đề tài sẽ phản ánh được phần
nào về thực trạng tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cũng như trình bày
một vài giải pháp để có thể góp phần hoàn thiện hơn nữa chế độ trợ cấp
Nguyễn Phương Thuỷ Bảo hiểm 44A

những hoàn cảnh như vậy như nhu cầu của con người không những không
giảm đi mà trái lại còn pháp sinh thêm nhiều nhu cầu mới như: nhu cầu được
chăm sóc, điều trị ốm đau… trong khi đó thu nhập của họ lại bị giảm sút do
khả năng lao động của họ bị giảm hoặc họ không còn khả năng lao động nữa
và khi ấy, cuộc sống của họ trở lên rất khó khăn. Bởi vậy, muốn tồn tại, con
người trong cuộc sống đã phải tìm nhiều cách để có thể đối phó với những
khó khăn không lường trước được đó như: tự tích luỹ, đi vay mượn… Có thể
thấy rằng các cách này hoàn toàn thụ động và không chắc chắn do không
lường trước được về thời gian, mức độ cũng như số lần gặp phải rủi ro đó.
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, việc thuê mướn lao động trở lên phổ
biến thì mối quan hệ kinh tế giữa người lao động và giới chủ ngày càng nảy
sinh nhiều vấn đề phức tạp. Giới chủ lúc này không những phải cam kết trả đủ
lương cho người lao động mà còn phải cam kết đảm bảo cho người lao động
có được một khoản thu nhập khi họ không may bị ốm đau, tai nạn, thai sản…
Tuy nhiên, việc thực hiện cam kết này nhiều khi lại đem lại những rủi ro về
tài chính không mong đợi cho người sử dụng lao động vì: nhiều khi các sự cố
Nguyễn Phương Thuỷ Bảo hiểm 44A
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nêu trên không xảy ra và người chủ không phải cho trả đồng nào, nhưng cũng
có khi lại xảy ra dồn dập buộc giới chủ phải bỏ ra một khoản tiền khá lớn mà
họ không mong muốn. Chính vì vậy, mâu thuẫn chủ thợ lại bùng phát mạnh
mẽ. Cuộc đấu tranh này ngày càng rộng lớn và tác động đến nhiều mặt của
đời sống kinh tế - xã hội, gây ngừng trệ sản xuất… lúc này buộc nhà nước
phải can thiệp, đứng ra điều hoà mâu thuẫn. Nhà nước buộc giới chủ và giới
thợ đều phải đóng góp một hoản tiền nhất định hàng tháng trên cơ sở tính toán
chặt chẽ xác suất xảy ra đối với người làm thuê, số tiền này được hình thành
một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Quỹ này còn được bổ sung từ
Ngân sách nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động
khi gặp những biến cố bất lợi. Nhờ vậy, người lao động cảm thấy được bảo vệ

nhiều bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu công nhân phải đóng góp để
phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh tật. Đến cuối năm 1880, BHXH đã có sự
thay đổi, lúc này sự tham gia là bắt buộc và không chỉ có nguời lao động tham
gia đóng góp mà giới chủ và nhà nước cũng thực hiện nghĩa vụ của mình.
Tính đoàn kết và chia sẻ thể hiện rõ nét: mọi người không phân biệt già - trẻ,
nam - nữ, lao động phổ thông - lao động kỹ thuật, người khoẻ - người yếu mà
tất cả đều phải tham gia đóng góp. Mô hình ở Đức đã lan sang các nước giành
độc lập ở Châu Á, Châu Phi và vùng Caribê. Năm 1935 ở Mĩ đã ban hành đạo
luật đầu tiên trên thế giới về An sinh xã hội, đạo luật này quy định thực hiện
các chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp. Ngày
4 tháng 6 năm 1952, tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã kí công ước Giơnevơ
– Công ước số 102 - về “Bảo hiểm xã hội cho người lao động” và khuyến
nghị các nước thực hiện BHXH cho người lao động tuỳ thuộc vào khả năng
và điều kiện kinh tế của mỗi nước. Từ đó, các nước vận dụng khuyến nghị
của ILO đề ra các chính sách biện pháp phù hợp với từng điều kiện cụ thể, tạo
ra môi trường cho BHXH phát triển không ngừng và cho tới nay, hầu hết các
nước trên thế giới đều có hệ thống BHXH cho riêng mình.
2.2 Lịch sử phát triển của BHXH Việt Nam:
2.2.1 Giai đoạn 1945-1995:
a) Giai đoạn 1945-1960:
Nguyễn Phương Thuỷ Bảo hiểm 44A
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bảo hiểm xã hội là một trong những nội dung quan trọng của chính sách
xã hội (bên cạnh cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội). Ngay từ khi giành được
chính quyền, mặc dù gặp muôn vàn khó khăn nhưng nhà nước ta luôn quan
tâm đến việc ban hành sửa đổi bổ sung chính sách BHXH và trợ cấp BHXH.
Chính phủ đã ban hành các Sắc lệnh 29/SL ngày 12/03/1950, Sắc lệnh 76/SL
ngày 20/05/1950 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/05/1950 quy định các chế độ trợ
cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, già yếu, chế độ trợ cấp gia đình khi

trên chính sách BHXH còn bộc lộ những hạn chế sau:
Thứ nhất: Phạm vi đối tượng tham gia BHXH chỉ giới hạn cho công nhân
viên chức làm việc trong khu vực nhà nước, còn đại bộ phận (khoảng 88%)
lao động làm việc ở khu vực tập thể và cá nhân chưa được tham gia BHXH.
Chính sách BHXH chưa thể hiện rõ sự công bằng đối với người lao động làm
việc trong và ngoài khu vực nhà nước.
Thứ hai: Nguồn chi BHXH chủ yếu lấy từ Ngân sách nhà nước. Quyền lợi
và trách nhiệm các bên tham gia BHXH chưa được thiết lập đầy đủ, mức trợ
cấp thấp, đời sống người lao động còn nhiều khó khăn
Thứ ba: Việc thực hiện Chính sách BHXH còn gắn với các chính sách
khác như: ưu đãi người có công, chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình,
chính sách tinh giảm biên chế… dẫn tới tình trạng phần lớn những người
hưởng chế độ hưu trí đều nghỉ hưu trước tuổi quy định và chỉ có 1/10 số
người được nghỉ mất sức lao động là thực sự ốm đau, giảm khả năng lao
động.
Thứ tư: Tổ chức BHXH mang tính hành chính. Nhà nước vừa đảm nhận
chức năng quản lí nhà nước vừa tổ chức hoạt động sự nghiệp chi trả (có sự
tham gia của tổ chức Công đoàn) nên đã làm cho hoạt động BHXH trở lên
khó quản lí và hiệu quả thấp.
2.2.2 Giai đoạn từ 1995 tới nay:
Trước sự đổi mới về cơ chế kinh tế, chính sách BHXH trong thời kì trước
đã tỏ ra không đáp ứng được nhu cầu tình hình lúc bấy giờ. Chính vì vậy,
ngày 22/06/1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/CP quy định tạm thời
về các chế độ BHXH áp dụng cho các thành phần kinh tế, đánh dấu bước đổi
Nguyễn Phương Thuỷ Bảo hiểm 44A
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
mới của BHXH Việt Nam. Tuy nhiện BHXH Việt Nam chỉ thực sự có bước
đột phá khi Nghị định 12/CP của Chính phủ ban hành ngày 26/01/1995 về
việc ban hành “Điều lệ BHXH” đối với công chức, công nhân viên chức của

phần bảo đảm an toàn xã hội.
3.2 Bản chất của BHXH:
- BHXH là nhu cầu tất yếu khách quan, đa dạng, phức tạp của xã hội, là
sản phẩm tất yếu khách quan của nền kinh tế hàng hoá. Khi nền kinh tế phát
triển tới một mức nhất định thì hệ thống BHXH ra đời. Như vậy, có thể thấy
sự ra đời và phát triển của BHXH chính là sự phản ánh về mức độ phát triển
của nền kinh tế. Một nền kinh tế chậm phát triển thì không thể có một hệ
thống BHXH vững mạnh. Ngược lại, một nền kinh tế phát triển sẽ là cơ sở
cho một hệ thống BHXH đa dạng và phong phú với các chế độ BHXH càng
được mở rộng và quyền lợi của người lao động ngày càng được đảm bảo hơn.
Có thể nói: kinh tế là nền tảng của BHXH hay nói cách khác BHXH không
vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước. Nền kinh tế của một nước như thế
nào sẽ cho ta hình dung được phần nào về hệ thống BHXH của nước đó và
ngược lại, nhìn vào hệ thống BHXH của một nước sẽ cho ta hiểu hơn về tình
hình kinh tế, đời sống xã hội của đất nước đó.
- Quan hệ lao động chính là cơ sở để hình thành nên mối quan hệ bên
trong của BHXH, chính trong quá trình lao động các mối quan hệ về quyền
lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên được hình thành và là nền tảng để hình
thành nên mối quan hệ nội tại của BHXH. Mối quan hệ này diễn ra giữa ba
bên : 1- bên tham gia BHXH gồm: người lao động và người sử dụng lao
động; 2- bên BHXH là: cơ quan chuyên trách do nhà nước lập ra và bảo trợ;
3- bên được BHXH là: người lao động và gia đình họ khi đủ điều kiện ràng
buộc cần thiết theo quy định của pháp luật.
- Những rủi ro được BHXH hỗ trợ bao gồm những rủi ro có thể phát sinh ở
bên trong hoặc bên ngoài quá trình lao động, làm giảm hoặc mất khả năng lao
động dẫn tới việc giảm hoặc mất thu nhập. Những rủi ro này có thể là những
rủi ro mang tính ngẫu nhiên, không thể dự đoán trước và trái với ý muốn chủ
quan của con người như: ốm đau, tai nạn… hoặc đó có thể là những trường
Nguyễn Phương Thuỷ Bảo hiểm 44A
9

Nguyễn Phương Thuỷ Bảo hiểm 44A
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
3.3 Chức năng của BHXH:
Thứ nhất: Chức năng cơ bản nhất quyết định tính chất nhiệm vụ và cơ chế
hoạt động của BHXH đó là chức năng thay thế hoặc bù đắp một phần thu
nhập cho người lao động tham gia bảo hiểm khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập
do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm gây nên. Bởi đã là người lao
động thì ai cũng có nguy cơ bị giảm hoặc mất thu nhập. Điều này có thể do
người lao động gặp những rủi ro như ốm đau, bệnh tật, tai nạn trong quá trình
lao động… hay do tuổi già sức yếu mà khả năng lao động gảim sút hoặc
không còn khả năng lao động. Vì vậy có thể thấy, khi người lao động đã tham
gia BHXH, họ có thể hoàn toàn yên tâm bởi phần thu nhập bị giảm sút của họ
do các yếu tố trên sẽ chắc chắn được BHXH đảm bảo và khi đó cuộc sống của
họ và gia đình sẽ bớt đi phần nào khó khăn.
Thứ hai: Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người
tham gia BHXH trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung
được tồn tích dần bởi sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao
động và sự hỗ trợ của Nhà nước.
Những người sử dụng lao động bắt buộc phải đóng góp vào quỹ BHXH là
để bảo hiểm nhưng không phải là trực tiếp cho mình mà cho những người lao
động mà mình sử dụng nên không có quyền được hưởng trợ cấp. Chỉ có
những người lao động có đóng góp vào quỹ mới có quyền hưởng trợ cấp. Tuy
nhiên, khi những người lao động này nếu như vẫn còn khoẻ mạnh có thu nhập
bình thường thì họ sẽ không được hưởng trợ cấp. Số lượng những người
không được trợ cấp như vậy thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số những
người tham gia đóng góp. Chỉ có những người lao động bị giảm hoặc mất thu
nhập trong những trường hợp xác định và có đủ điều kiện cần thiết mới được
hưởng trợ cấp từ quỹ BHXH. Số lượng những người này thường chiếm tỷ
trọng nhỏ trong tổng số những người tham gia đóng góp. Như vậy BHXH đã

Cuộc sống của con người luôn tiềm ẩn những tai nạn bất ngờ xảy ra ngoài
ý muốn của con người. Đó có thể là do những hành vi thiếu cẩn trọng của cá
nhân gây nên hoặc có thể là những rủi ro mà con người không thể lường trước
được. Trong quá trình lao động sản xuất, con người lại phải đối mặt với
Nguyễn Phương Thuỷ Bảo hiểm 44A
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
những rủi ro rất đặc trưng đó là tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Những
rủi ro này có thể xảy ra với bất kì người lao động nào bởi nó trực tiếp gắn liền
với điều kiện lao động và môi trường lao động. Những nguyên nhân này chủ
yếu là do việc vi phạm các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh lao động như: môi
trường lao động độc hại, thiếu các trang thiết bị bảo hộ cần thiết... Hậu quả
của tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp thường rất nặng nề, nó có thể dẫn
tới việc suy giảm khả năng lao động từ đó kéo theo việc giảm hoặc mất thu
nhập của người lao động và trực tiếp đe doạ tới cuộc sống của người lao động
và gia đình họ. TNLĐ&BNN có thể làm thay đổi mối quan hệ pháp luật lao
động giữa người lao động và chủ sử dụng lao động khi người lao động không
thể phục hồi khả năng lao động để đáp ứng được công việc mà mình đảm
nhận trước đây. Trong nhiều trường hợp, TNLĐ&BNN có thể dẫn tới việc
chấm dứt mối quan hệ lao động khi người lao động bị chết hoặc không đủ khả
năng để thực hiện bất kì công việc nào. Để xảy ra tai nạn lao động hay bệnh
nghề nghiệp, lỗi lớn nhất thuộc về người sử dụng lao động. Bởi môi trường
lao động có an toàn hay không phụ thuộc rất lớn vào sự quan tâm đầu tư của
chủ sử dụng lao động. Khi doanh nghiệp mải chạy theo lợi nhận, năng suất
hay theo đuổi mục tiêu giảm thiểu chi phí thì vấn đề này không được qua tâm
đúng mức. Môi trường sản xuất độc hại nguy hiểm sẽ làm cho khả năng bị
mắc bệnh và bị tai nạn trong quá trình lao động tăng lên. Vì vậy, để đảm bảo
quyền lợi của người lao động, nhiều quốc gia trên thế giới đã quy định: người
sử dụng lao động phải có trách nhiệm đối với người lao động mà mình sử
dụng và gia đình của họ. Điều này là hoàn toàn phù hợp bởi bị tai nạn lao

có thể bị chấm dứt hoạt động, khi ấy công việc chi trả cho người lao động sẽ
bị trì trệ kéo dài thậm chí không thực hiện được và trong những trường hợp
như vậy, người động đã là người thiệt thòi lại càng thiệt thòi hơn, đã khó khăn
lại càng khó khăn hơn. Và điều này là hoàn toàn có thể xảy ra với bất kì
doanh nghiệp nào trong nền kinh tế thị trường, nhất là ở các doanh nghiệp vừa
và nhỏ, khả năng tài chính thấp, sức cạnh tranh yếu kém, điều kiện lao động
thường không được đảm bảo an toàn, thiếu ổn định trong sản xuất kinh doanh.
Nguyễn Phương Thuỷ Bảo hiểm 44A
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Thêm vào đó chi phí đền bù tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp đối
với một doanh nghiệp là khá cao so với chi phí sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, nhất là khi tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp nghiêm trọng
xảy ra và xảy ra với nhiều người hoặc thậm chí có những lúc xảy ra dồn dập
làm nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn. Lẽ ra với số tiền lớn họ có thể tiếp tục
đầu tư vào sản xuất kinh doanh, hoặc sửa chữa máy móc thiết bị…thì họ lại
phải bỏ tiền ra chi trả cho người lao động mà lỗi gây ra tai nạn chưa hẳn là do
phía người chủ sư dụng lao động vì vậy không ít trường hợp người chủ sử
dụng lao động tìm cách tránh né trách nhiệm … Ngoài những tổn tất hữu
hình, người chủ sử dụng lao động còn phải gánh chịu những tổn thất vô hình
như: uy tín của nhà máy, sự ngừng trệ trong tiêu thụ sản phẩm, thời gian cho
việc giải trình các nguyên nhân gây tai nạn với các cơ quan chức năng, giải
toả tâm lí hoang mang, lo lắng nặng nề của người lao động trong đơn vị …
Để giải quyết được mẫu thuẫn chủ thợ cũng như là đảm bảo quyền lợi
chính đáng của người lao động đồng thời buộc giới chủ phải thực hiện trách
nhiệm và nghĩa vụ của mình đòi hỏi cần có bên thứ ba can thiệp đứng vai trò
làm người chung gian đó chính là nhà nước. Và yêu cầu về một hệ thống đáp
ứng được sự quan tâm của người lao động, chủ sử dụng lao động cũng như
của Nhà nước được đặt ra: Một hệ thống vừa phải đảm bảo được tính công
bằng tin cậy, bảo vệ cho những quyền lợi chính đáng cho người lao động, lại

chế độ cho người lao động thì đổi lại họ sẽ nhận được sự nhiệt tình và sự cống
hiến hết sức mình của những người lao động trong doanh nghiệp, đơn vị.
- Đối với nhà nước: Việc thực hiện chính sách BHXH mà cụ thể là việc
thực hiện chế độ TNLĐ&BNN sẽ góp phàn to lớn vào việc ổn định tình hình
xã hội đồng thời tạo ra môi trường thuận lợi để sản xuất phát triển. Vừa có thể
đảm bảo lợi ích hài hoà cho cả hai bên lại vừa có được nguồn tài chính đề đầu
tư phát triển sản xuất…
Trước những vai trò to lớn trên thì việc thực hiện chính sách BHXH nói
chung và việc thực hiện chế độ BHXH về TNLĐ&BNN nói riêng là việc tất
yếu.
Nguyễn Phương Thuỷ Bảo hiểm 44A
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2. Khái niệm và phân loại:
2.1 Các khái niệm có liên quan:
Từ những đặc trưng trên cùng với sự đa dạng hoá môi trường, điều kiện
việc làm cũng như xu hướng tiến bộ xã hội mà định nghĩa về tai nạn lao động
- bệnh nghề nghiệp buộc phải mở rộng. Ngoài tai nạn lao động tại nơi làm
việc nhiều nước cũng coi tai nạn trên đường đi và về từ nơi làm việc đến nơi ở
của người lao động cũng coi là tai nạn lao động, thậm chí một số quốc gia còn
coi các tai nạn trong hoạt động cứu hộ, chữa cháy, hoạt động công đoàn, hoạt
động hội chữ thập đỏ…những hoạt động ít hoặc không liên quan đến hoạt
động của đơn vị sử dụng lao động cũng là tai nạn lao động. Còn đối với bệnh
nghề nghiệp cho tới năm 1980 Hội nghị Lao động quốc tế đã quy định 29
bệnh được xếp vào danh mục bệnh nghề nghiệp. Tuy nhiên, chưa thể nói
được rằng danh mục trên đã đầy đủ bởi vì sản xuất càng phát triển, môi
trường làm việc ngày càng thay đổi thì càng ngày lại càng xuất hiện thêm
nhiều bệnh mới. Chính vì vậy, định nghĩa về tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp có tính tương đối. Cùng với sự phát triển của sản xuất, định nghĩa về
tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ngày càng cần được mở rộng và mang

việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động, gây tổn thương cho bất kì bộ
phận chức năng nào của cơ thể người lao động gây tàn tật hoặc tử vong.
- Bệnh nghề nghiệp: là bệnh phát sinh do điều kiện lao động, môi trường
lao động tác động một cách từ từ liên tục, gây tàn tật hoặc mắc bệnh đối với
người lao động.
Từ những định nghĩa trên ta có thể thấy rằng tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp và tàn tật nói chúng đều dẫn tới việc giảm hoặc mất khả năng lao
động song tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp được giới hạn cụ thể trong
môi trường làm việc gắn với những điều kiện về vệ sinh an toàn lao động cho
nên phạm vi của chúng được bó hẹp hơn và cũng đòi hỏi sự xác định cụ thể rõ
ràng hơn.
Nguyễn Phương Thuỷ Bảo hiểm 44A
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2.2 Phân loại tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp:
Tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu ta có nhiều cách thức phân loại khác
nhau.
a) Phân loại tai nạn lao động
- Theo nguyên nhân:
+ Nguyên nhân chủ quan: do trang thiết bị máy móc, phương tiện làm
việc, việc bảo hộ lao động không được chu đáo hay do sự cố ý vi phạm quy
trình kỹ thuật an toàn lao động của người lao động và chủ sử dụng lao động.
+ Nguyên nhân khách quan: đó là các yếu tố tự nhiên xảy ra không lường
trước được như do mưa bão, động đất, lốc…
Việc phân loại này giúp ta tìm hiểu được nguyên nhân gây ra tai nạn lao
động từ đó có được cách phòng ngừa tai nạn hiệu quả, giảm thiểu những tổn
thất khi tai nạn xảy ra.
- Theo ngành nghề sản xuất:
Những ngành nghề khác nhau có môi trường lao động khác nhau và cũng
có những yêu cầu kỹ năng, thao tác khác nhau do đó mỗi ngành nghề lại có

động trẻ tuổi thường có nguy cơ để xảy ra tai nạn lao động cao hơn so với
những lao động có thâm niên do những hạn chế về trình độ và thiếu kinh
nghiệp thực tế.
b) Phân loại bệnh nghề nghiệp:
Bệnh nghề nghiệp có nguyên nhân từ những tác động thường xuyên, liên
tục và kéo dài của các yếu tố có hại, phát sinh trong quá trình sản xuất lên cơ
thể con người dẫn tới sự suy yếu dần sức khoẻ, gây bệnh cho người lao động.
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần chú ý rằng: những trường hợp nhiễm độc cấp
tính, bán cấp tính do hơi độc hoá chất gây nên tại nơi làm việc thì được coi là
tai nạn lao động không phải là bệnh nghề nghiệp. Các loại bệnh nghề nghiệp
bao gồm:
- Bệnh do bụi xâm nhập vào phổi: như bệnh bụi phổi silic, amiăng…
- Bệnh do yếu tố vật lí như tiếng ồn, độ rung, chấn động, tia X…
- Bệnh do môi trường lao động như: lao, vi trùng, vi khuẩn…
Nguyễn Phương Thuỷ Bảo hiểm 44A
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Bệnh do điều kiện lao động như: ngoài trời, trên cao, không thông
thoáng….
- Bệnh do hoá chất: nhiếm độc khí, hợp chất hoá học thuỷ ngân, chì,
cacbon oxit, cacbon đioxit…
3 Cơ sở hình thành chế độ Tai nạn lao động và Bệnh nghề nghiệp:
Cũng giống như các chế độ khác trong hệ thống BHXH chế độ tai nạn lao
động và bệnh nghề nghiệp được xây dựng dựa trên các nguyên tắc chung của
BHXH như sau:
+ Quyền lợi và nghĩa vụ phải đi đôi với nhau, điều này có nghĩa là trên cơ
sở có tham gia BHXH thì mới được hưởng chế độ;
+ Thể hiện tính cộng đồng xã hội, tính nhân đạo của xã hội và có sự đoàn
kết chia sẻ rủi ro;
+ Tài chính và quỹ BHXH phải tập trung thống nhất dảm bảo sự chia sẻ

là tất cả những người lao động hoặc quy định những đối tượng tham gia bắt
buộc và những đối tượng tham gia tự nguyện. Mỗi nước có thể tự lựa chọn
cho mình đối tượng tham gia phù hợp nhất với điều kinh tế - xã hội - chính trị
và khả năng quản lí của mình. Tuy nhiên, phạm vi tối thiểu những người được
bảo vệ phải bao gồm:
- Những người làm công ăn lương được quy định, tổng số ít nhất phải
chiếm 50% toàn bộ những người làm công ăn lương và đối với trợ cấp tiền
tuất thì bao gồm cả vợ và con của người làm công ăn luơng của những người
lao động đó.
- Đối với những nước mà nền kinh tế và các phương tiện y tế chưa phát
triển đủ mức có thể thì đối tượng tham gia phải bao gồm những lao động làm
công ăn lương được quy định, tổng số ít nhất chiếm 50% toàn bộ những người
làm công ăn luơng làm việc trong các cơ sở công nghiệp sử dụng 20 người trở
lên và đối với trợ cấp tiền tuất thì bao gồm cả vợ và con của người làm công
ăn lương của những người đó.
Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi kinh tế cho nên việc
thực hiện BHXH nói chung và thực hiện chế độ BHXH TNLĐ&BNN nói
riêng vẫn còn nhiều khó khăn và chúng ta mới chỉ dừng ở việc thực hiện cho
Nguyễn Phương Thuỷ Bảo hiểm 44A
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
những đối tượng phải tham gia bắt buộc. Theo điều lệ BHXH ban hành kèm
theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính Phủ, đối tượng bắt buộc
tham gia BHXH bao gồm: Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp
Nhà nước, trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên; người lao động Việt Nam làm việc
trong các doanh nghiệp, có vốn đầu tư nước ngoài, các khu chế xuất, khu
công nghiệp, trong các cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại
Việt Nam; người lao động làm việc trong các tổ chức kinh doanh, dịch vụ
thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể; người lao động

không phải tham gia đóng góp vào quỹ. Lý do được đưa ra là: những rủi ro về
TNLĐ&BNN là những rủi ro xảy ra nằm ngoài mong muốn của người lao
động và chủ sử dụng lao động luôn là người có lỗi lớn nhất trong việc không
đảm bảo an toàn sản xuất cho người lao động. Theo quy định chung, người sử
dụng lao động phải có trách nhiệm tham gia đóng góp đầy đủ vào quỹ chế độ
TNLĐ&BNN cho người lao động và Nhà nước sẽ đóng vai trò là người hỗ trợ
cho quỹ. Hiện nay trên thế giới, các nước đang áp dụng hai hình thức đóng
góp của chủ sử dụng lao động đó là: hình thức tham gia đóng góp theo một tỷ
lệ % nhất định trên tổng quỹ lương của người lao động và hình thức đóng góp
theo tỷ lệ % phụ thuộc vào ngành nghề sản xuất kinh doanh và xác suất để
xảy ra TNLĐ&BNN ở các ngành nghề đó. Ở Việt Nam, chúng ta sử dụng
hình thức đóng góp theo một tỷ lệ nhất định trên cơ sở tổng quỹ tiền lương
cho người lao động. Tuy nhiên, mức đóng góp này cho tới nay vẫn được tính
chung cho cả các chế độ trợ cấp BHXH ngắn hạn khác mà chưa có quy định
đóng góp riêng cho chế độ TNLĐ&BNN, mức đóng góp này là 5% trên tổng
quỹ lương của người lao động và do chủ sử dụng lao động đóng.
4.3 Đối tượng được hưởng trợ cấp:
Theo quy định chung đối tượng được hưởng trợ cấp bao gồm những
người lao động có tham gia BHXH và trong quá trình lao động của mình, họ
gặp tai nạn lao động hoặc không may mắc phải các bệnh nghề nghiệp. Ngoài
ra, đối tượng được hưởng trợ cấp chế độ này còn bao gồm những người sống
Nguyễn Phương Thuỷ Bảo hiểm 44A
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phụ thuộc vào nguồn thu nhập chính do những người lao động này mang về
như vợ, con nhỏ, bố mẹ già yếu…
Ở Việt Nam, chúng ta cũng thực hiện theo đúng nội dung trên và có quy
định chi tiết cho những trường hợp nào được coi là tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp
Người lao động trong các trường hợp sau được hưởng trợ cấp tai nạn lao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status