1
KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà nội, ngày tháng năm 2010
HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
(Ban hành kèm theo Quyết định số /2010/QĐ-KTNN
Ngày tháng năm 2010 của Tổng Kiểm toán Nhà nước)
CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
1. Hệ thống chuẩn mực Kiểm toán Nhà nước
1.1. Hệ thống chuẩn mực Kiểm toán Nhà nước gồm tổng thể những quy
định về nguyên tắc hoạt động, điều kiện và yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp,
năng lực đối với Kiểm toán viên nhà nước; quy định về nghiệp vụ kiểm toán và
xử lý các mối quan hệ phát sinh trong hoạt động kiểm toán mà Kiểm toán viên
nhà nước phải tuân thủ khi tiến hành hoạt động kiểm toán; là cơ sở để kiểm tra,
đánh giá chất lượng kiểm toán và đạo đức nghề nghiệp của Kiểm toán viên nhà
nước.
1.2. Cấu trúc Hệ thống chuẩn mực Kiểm toán Nhà nước gồm ba nhóm
chuẩn mực: Nhóm chuẩn mực chung (6 chuẩn mực); Nhóm chuẩn mực thực
hành (13 chuẩn mưc); Nhóm chuẩn mực báo cáo (2 chuẩn mực). Mỗi chuẩn
mực kiểm toán gồm ba bộ phận: Mục đích, Phạm vi áp dụng và Nội dung chuẩn
mực.
2. Nguyên tắc xây dựng và ban hành Hệ thống chuẩn mực Kiểm toán
Nhà nước
2.1. Tuân thủ pháp luật và phù hợp với môi trường hoạt động của Kiểm
toán Nhà nước Việt Nam; phù hợp với trình độ quản lý kinh tế và kiểm toán của
Việt Nam;
2.2. Phù hợp với với hướng dẫn của INTOSAI về Hệ thống chuẩn mực
thức kiểm toán khác của Kiểm toán Nhà nước.
CHƯƠNG II
NỘI DUNG HỆ THỐNG CHUẨN MỰC
NHÓM CHUẨN MỰC CHUNG
Nhóm chuẩn mực chung gồm các quy định về nguyên tắc và những yêu
cầu cơ bản trong hoạt động kiểm toán; điều kiện và yêu cầu về phẩm chất, năng
lực đối với Kiểm toán viên nhà nước trong quá trình thực hiện các hoạt động
kiểm toán nhằm hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của Kiểm toán Nhà nước.
Nhóm chuẩn mực chung gồm 6 chuẩn mực.
1. CHUẨN MỰC 01:
ĐỘC LẬP, KHÁCH QUAN VÀ CHÍNH TRỰC
01.1. Mục đích
Chuẩn mực này quy định về việc duy trì tính độc lập, khách quan và sự
chính trực của Kiểm toán viên nhà nước nhằm đảm bảo các kết luận và kiến
nghị kiểm toán xác thực và hợp lý.
01.2. Phạm vi áp dụng
3
Chuẩn mực này áp dụng trong mọi công việc kiểm toán và các công việc
có liên quan đến hoạt động kiểm toán của Kiểm toán viên nhà nước.
01.3. Nội dung
01.3.1. Độc lập, khách quan
01.3.1.1. Trong hoạt động kiểm toán, Kiểm toán viên nhà nước phải thật
sự độc lập, khách quan, không bị chi phối hoặc bị tác động bởi bất kỳ lợi ích vật
chất hoặc tinh thần làm ảnh hưởng đến sự độc lập trong thực hiện và đưa ra kết
luận, kiến nghị kiểm toán.
01.3.1.2. Các yêu cầu về tính độc lập, khách quan của Kiểm toán viên nhà
các bằng chứng được thu thập, đánh giá và truyền đạt một cách trung thực;
4
d) Kiểm toán viên nhà nước phải thẳng thắn khi đưa ra các kết luận và
kiến nghị về nội dung kiểm toán và phải bảo vệ ý kiến của mình dựa trên các
bằng chứng kiểm toán và những lập luận đúng đắn mà không chịu tác động bởi
sự can thiệp từ bên ngoài.
2. CHUẨN MỰC 02:
TRÌNH ĐỘ, NĂNG LỰC VÀ KỸ NĂNG CHUYÊN MÔN
02.1. Mục đích
Chuẩn mực này quy định về trình độ, năng lực và các kỹ năng chuyên
môn của Kiểm toán viên nhà nước nhằm đảm bảo khả năng hoàn thành nhiệm
vụ kiểm toán được giao.
02.2. Phạm vi áp dụng
Chuẩn mực này áp dụng trong công tác tổ chức cán bộ: công tác tuyển
dụng, đào tạo, bố trí công việc cho Kiểm toán viên nhà nước và trong quá trình
tự đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của Kiểm toán viên nhà nước.
02.3. Nội dung
02.3.1. Trình độ, năng lực
02.3.1.1. Kiểm toán viên nhà nước phải có trình độ, năng lực chuyên môn
cần thiết theo quy định để đáp ứng nhiệm vụ kiểm toán được phân công.
02.3.1.2. Yêu cầu về trình độ, năng lực chuyên môn của Kiểm toán viên
nhà nước:
a) Kiểm toán viên nhà nước phải hiểu rõ quy định của pháp luật về quản
lý nhà nước về kinh tế, tài chính công; về quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài
sản nhà nước thuộc lĩnh vực, chuyên ngành được phân công kiểm toán;
b) Kiểm toán viên nhà nước phải hiểu rõ quy định của pháp luật và quy
định của Kiểm toán nhà nước về hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước;
c) Kiểm toán viên nhà nước phải được đào tạo theo các chương trình và
3. CHUẨN MỰC 03:
THẬN TRỌNG NGHỀ NGHIỆP VÀ BẢO MẬT
03.1. Mục đích
Chuẩn mực này quy định về sự thận trọng nghề nghiệp và bảo mật thông
tin trong hoạt động kiểm toán nhằm bảo đảm sự đúng đắn, khách quan của các
kết quả, kết luận, kiến nghị kiểm toán; đảm bảo thực hiện trách nhiệm bảo mật
trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán viên nhà nước.
03.2. Phạm vi áp dụng
Chuẩn mực này được áp dụng trong mọi cuộc kiểm toán, trong tất cả các
giai đoạn của mỗi cuộc kiểm toán và trong toàn bộ hoạt động nghề nghiệp của
Kiểm toán viên nhà nước.
03.3. Nội dung
03.3.1. Thận trọng nghề nghiệp
03.3.1.1. Kiểm toán viên nhà nước phải thực hiện công việc với sự thận
trọng cần thiết trong mọi giai đoạn của quá trình kiểm toán.
03.3.1.2. Yêu cầu về sự thận trọng nghề nghiệp:
a) Kiểm toán viên nhà nước phải sử dụng các phương pháp chuyên môn,
nghiệp vụ phù hợp với mức độ phức tạp của nhiệm vụ kiểm toán được giao;
thực hiện nhiệm vụ với trách nhiệm nghề nghiệp cao; chủ động trước mọi tình
huống, không vội vã đưa ra những đánh giá hoặc phán quyết khi chưa nắm chắc,
6
chưa hiểu biết đầy đủ vấn đề cũng như chưa có bằng chứng kiểm toán đảm bảo
yêu cầu đầy đủ và thích hợp;
b) Kiểm toán viên nhà nước phải có tác phong thận trọng, kỹ lưỡng để
công việc đạt chất lượng cao; trước khi đưa ra ý kiến đánh giá, xác nhận, kết
luận, kiến nghị kiểm toán phải kiểm tra, xem xét lại tính trung thực, hợp lý, hợp
pháp của các tài liệu, giấy tờ làm việc; tính đầy đủ và thích hợp của các bằng
chứng kiểm toán;
Chuẩn mực này chủ yếu áp dụng trong công tác tổ chức cán bộ, gồm:
công tác tuyển dụng, bổ nhiệm, phát triển nghề nghiệp cho Kiểm toán viên nhà
7
nước và trong xây dựng các tiêu chuẩn nghiệp vụ cho từng ngạch Kiểm toán
viên.nhà nước.
04.3. Nội dung
04.3.1. Tuyển dụng và bổ nhiệm
04.3.1.1. Kiểm toán Nhà nước ban hành các quy định và thực hiện các
quy trình và thủ tục để tuyển dụng, bổ nhiệm Kiểm toán viên nhà nước theo quy
định của pháp luật; đảm bảo người được tuyển dụng, bổ nhiệm có trình độ và
năng lực phù hợp với yêu cầu công việc và vị trí được bổ nhiệm.
04.3.1.2. Người được tuyển dụng và bổ nhiệm vào một ngạch hoặc nâng
ngạch Kiểm toán viên nhà nước phải thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển theo
quy định của pháp luật và của Kiểm toán Nhà nước.
04.3.2. Phát triển nghề nghiệp
04.3.2.1. Kiểm toán Nhà nước ban hành các quy định và thực hiện quy
trình, thủ tục để thường xuyên đánh giá trình độ, năng lực và xây dựng kế hoạch
đào tạo, bồi dưỡng để phát triển nghề nghiệp cho của Kiểm toán viên nhà nước.
04.3.2.2. Kiểm toán Nhà nước ban hành quy định về tiêu chuẩn nghiệp vụ
cho các ngạch Kiểm toán viên nhà nước phù hợp với từng lĩnh vực, chuyên
ngành kiểm toán và thường xuyên đánh giá các tiêu chuẩn nhằm đảm bảo đáp
ứng được yêu cầu của hoạt động kiểm toán trong thực tiễn.
04.3.2.3. Kiểm toán Nhà nước thực hiện các chính sách, biện pháp thích
hợp trong từng thời kỳ để quy hoạch, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và thi nâng
ngạch cho Kiểm toán viên nhà nước.
04.3.2.4. Kiểm toán Nhà nước khuyến khích Kiểm toán viên nhà nước trở
thành thành viên và tham gia vào các hoạt động của của các tổ chức nghề nghiệp
liên quan đến công tác chuyên môn kiểm toán để bổ sung thêm các kiến thức, kỹ
năng phục vụ cho hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước.
và theo từng lĩnh vực, chuyên ngành kiểm toán.
05.3.2.2. Chương trình đào tạo, bồi dưỡng để phát triển năng lực nghề
nghiệp cho Kiểm toán viên nhà nước phải đảm bảo toàn diện, bao gồm: về chính
trị, quản lý nhà nước, công nghệ thông tin, ngoại ngữ, về các kiến thức, kỹ năng
chuyên môn kiểm toán và các kiến thức, kỹ năng chuyên môn bổ trợ khác.
Trong đào tạo bồi dưỡng chuyên môn cần chú trọng cả hai mặt: đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao kiến thức và đào tạo, bồi dưỡng bổ sung, cập nhật các kỹ năng
nghiệp vụ cho từng ngạch Kiểm toán viên nhà nước phù hợp với từng lĩnh vực,
chuyên ngành kiểm toán.
05.3.3. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng
05.3.3.1. Việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng chuyên
môn của Kiểm toán Nhà nước cần được thực hiện dưới nhiều hình thức thích
hợp: đào tạo theo từng ngạch kiểm toán viên; bồi dưỡng theo chuyên đề; tổ chức
hội thảo; tổ chức cập nhật kiến thức để đảm bảo hiệu quả của công tác đào
tạo, bồi dưỡng.
05.3.3.2. Kiểm toán Nhà nước khuyến khích kiểm toán viên tham gia các
khóa đào tạo của các tổ chức bên ngoài cơ quan Kiểm toán Nhà nước tổ chức
nhằm bổ sung và nâng cao các kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ bổ trợ cho nghiệp
vụ kiểm toán.
05.3.3.3. Kiểm toán viên nhà nước có trách nhiệm tham gia các chương
trình đào tạo, bồi dưỡng do Kiểm toán Nhà nước tổ chức và thường xuyên tự
nghiên cứu, học tập nhằm nâng cao kiến thức chuyên môn, hoàn thiện kỹ năng
kiểm toán và đạo đức nghề nghiệp.
9
6. CHUẨN MỰC 06:
XÂY DỰNG, SỬ DỤNG CẨM NANG KIỂM TOÁN
VÀ CÁC TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN KIỂM TOÁN
06.1. Mục đích
Chuẩn mực này quy định về việc xây dựng và sử dụng Cẩm nang kiểm
a) Các tài liệu hướng dẫn áp dụng chuẩn mực kiểm toán, quy trình kiểm
toán trong từng lĩnh vực, chuyên ngành và nội dung kiểm toán;
10
b) Các tài liệu hướng dẫn hướng dẫn các phương pháp, thủ tục, kỹ thuật
nghiệp vụ kiểm toán;
c) Các mẫu biểu và hướng dẫn ghi chép giấy tờ làm việc trong hoạt động
kiểm toán.
06.3.3. Tổ chức thực hiện
06.3.3.1. Cẩm nang kiểm toán và các tài liệu hướng dẫn kiểm toán cần
được Kiểm toán Nhà nước xây dựng, cung cấp và hướng dẫn cho Kiểm toán
viên nhà nước thực hiện.
06.3.3.2. Kiểm toán Nhà nước thường xuyên bổ sung, cập nhật Cẩm nang
kiểm toán và tài liệu hướng dẫn kiểm toán để đảm bảo phù hợp với những thay
đổi của pháp luật về Kiểm toán Nhà nước, phù hợp với yêu cầu thực tiễn của
hoạt động kiểm toán và sự phát triển của phương pháp chuyên môn, nghiệp vụ
kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước.
06.3.3.3. Kiểm toán viên nhà nước phải hiểu rõ, tuân thủ và biết vận dụng
một cách thích hợp các quy định trong Cẩm nang kiểm toán và các tài liệu
hướng dẫn kiểm toán để đảm bảo chất lượng hoạt động kiểm toán.
NHÓM CHUẨN MỰC THỰC HÀNH
Nhóm chuẩn mực thực hành kiểm toán gồm các nguyên tắc và những yêu
cầu cơ bản trong thực hành các nghiệp vụ chính của hoạt động kiểm toán, bao
gồm cả các hoạt động quản lý và thực hiện kiểm toán.
Nhóm chuẩn mực thực hành gồm 13 chuẩn mực.
7. CHUẨN MỰC 07:
LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN
a) Kế hoạch kiểm toán tổng quát được thể hiện dưới hình thức văn bản
theo quy định của Kiểm toán Nhà nước cho từng lĩnh vực, chuyên ngành kiểm
toán;
b) Cấu trúc cơ bản của kế hoạch kiểm toán tổng quát gồm:
- Thông tin cơ bản về khách thể kiểm toán;
- Phân tích những thông tin cơ bản về khách thể kiểm toán;
- Nội dung kế hoạch kiểm toán tổng quát;
- Tổ chức Đoàn kiểm toán;
- Các điều kiện vật chất cho thực hiện cuộc kiểm toán.
07.3.2.4. Trình tự lập kế hoạch kiểm toán tổng quát:
a) Khảo sát, thu thập thông tin về khách thể kiểm toán và các thông tin
liên quan đến cuộc kiểm toán;
b) Phân tích thông tin đã thu thập được để làm cơ sở xây dựng kế hoạch
kiểm toán;
c) Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát.
0 7.3.2.5. Kế hoạch kiểm toán tổng quát do Trưởng Đoàn kiểm toán lập,
Thủ trưởng đơn vị chủ trì kiểm toán thẩm định, Tổng Kiểm toán Nhà nước xét
duyệt. Kế hoạch kiểm toán tổng quát là cơ sở cho việc lập kế hoạch kiểm toán
chi tiết và chỉ đạo, tổ chức thực hiện cuộc kiểm toán.
07.3.3. Lập kế hoạch kiểm toán chi tiết
12
07.3.3.1. Quy định chung: Kế hoạch kiểm toán chi tiết phải được lập và
phê duyệt trước khi thực hiện kiểm toán tại mỗi đơn vị được kiểm toán thuộc
phạm vi cuộc kiểm toán; Kế hoạch kiểm toán chi tiết phải đầy đủ, cụ thể để
hướng dẫn công việc cho Tổ kiểm toán và Kiểm toán viên nhà nước.
07.3.3.2. Nội dung chính của kế hoạch kiểm toán chi tiết:
a) Mục tiêu kiểm toán;
b) Nội dung kiểm toán;
13
đạo thực hiện kiểm toán tại từng đơn vị được kiểm toán thuộc phạm vi cuộc
kiểm toán, đối với từng thành viên của Tổ kiểm toán và là cơ sở soát xét kết quả
kiểm toán.
07.3.4. Điều chỉnh kế hoạch kiểm toán
07.3.4.1. Đoàn kiểm toán và Kiểm toán viên nhà nước phải tổ chức thực
hiện kiểm toán theo đúng kế hoạch đã được phê duyệt; kế hoach kiểm toán chỉ
được điều chỉnh khi có các lý do hợp lý và thật sự cần thiết.
07.3.4.2. Kế hoạch kiểm toán tổng quát sẽ được điều chỉnh khi có những
lý do hợp lý làm ảnh hưởng đáng kể đến mục tiêu, nội dung, phạm vi, thời gian
và nhân sự của cuộc kiểm toán; cụ thể trong các trường hợp sau:
a) Có sự chỉ đạo của Tổng Kiểm toán Nhà nước về việc thay đổi, điều
chỉnh mục tiêu, nội dung, phạm vi của cuộc kiểm toán;
b) Do kế hoạch kiểm toán chi tiết ban đầu tại một hay một vài đơn vị
được kiểm toán được xây dựng chưa hợp lý, phải điều chỉnh làm ảnh hưởng
đáng kể đến Kế hoạch kiểm toán tổng quát;
c) Những lý do khách quan khác (về phía đơn vị được kiểm toán hoặc
thiên tai ) làm ảnh hưởng đáng kể đến việc thực hiện Kế hoạch kiểm toán tổng
quát;
d) Trong trường hợp có những lý do hợp lý, cần thiết phải điều chỉnh các
kế hoạch kiểm toán chi tiết đơn lẻ của cuộc kiểm toán mà không ảnh hưởng
đáng kể đến tổng thể Kế hoạch kiểm toán tổng quát thì Trưởng Đoàn kiểm toán
sẽ quyết định điều chỉnh kế hoạch theo sự phân cấp quản lý của Tổng Kiểm toán
Nhà nước.
07.3.4.3. Kế hoạch kiểm toán chi tiết sẽ được điều chỉnh khi có những lý
do hợp lý làm ảnh hưởng đáng kể đến mục tiêu, nội dung, phạm vi, thời gian và
nhân sự kiểm toán; cụ thể trong các trường hợp sau:
a) Có sự chỉ đạo của Trưởng đoàn kiểm toán về việc thay đổi, điều chỉnh
toán hoạt động; do vậy, việc lập kế hoạch phải lấy mục tiêu, nội dung của kiểm
toán báo cáo tài chính hoặc kiểm toán hoạt động làm định hướng cho kế hoạch
kiểm toán tuân thủ.
8. CHUẨN MỰC 08:
KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN
08.1. Mục đích
Chuẩn mực này quy định về công tác giám sát, kiểm tra, kiểm soát hoạt
động của cuộc kiểm toán nhằm đảm bảo mỗi bước công việc, mỗi nội dung kiểm
toán đều được kiểm soát để đảm bảo chất lượng của cuộc kiểm toán.
08.2. Phạm vi áp dụng
Việc thực hiện kiểm soát chất lượng kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước
được thực hiện bởi 3 hình thức: kiểm soát nội bộ của Đoàn kiểm toán; kiểm tra,
thẩm định của đơn vị chủ trì kiểm toán và các vụ tham mưu; kiểm soát độc lập
của vụ chức năng kiểm soát chất lượng kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước.
Chuẩn mực này được áp dụng đối với việc kiểm soát nội bộ chất lượng
kiểm toán của Đoàn kiểm toán, được thực hiện trong các giai đoạn của cuộc
kiểm toán và đối với mọi cuộc kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước. Chuẩn mực
này chỉ xác định về nguyên tắc của việc kiểm tra, thẩm định, chất lượng kiểm
toán của đơn vị chủ trì kiểm toán, các vụ tham mưu và việc kiểm soát độc lập
của vụ chức năng kiểm soát chất lượng kiểm toán.
08.3. Nội dung
08.3.1. Kiểm soát nội bộ chất lượng kiểm toán của Đoàn kiểm toán
08.3.1.1. Quy định chung: Công việc của Kiểm toán viên nhà nước ở mỗi
cấp và trong từng giai đoạn của cuộc kiểm toán cần phải được giám sát phù hợp.
15
Mọi công việc và kết quả kiểm toán của mỗi thành viên của Đoàn kiểm toán
phải được ghi chép lại trong giấy tờ làm việc phải được Cấp kiểm soát cao hơn
thường xuyên, diễn ra đồng thời với các hoạt động kiểm toán, trong mọi giai
đoạn, các bước công việc, các thủ tục kiểm toán và được thực hiện đối với mọi
thành viên của Đoàn kiểm toán;
c) Việc kiểm tra, soát xét của Cấp kiểm soát cao hơn đối với công việc
của thành viên Đoàn kiểm toán phải được ghi lại trong giấy tờ làm việc đã được
kiểm tra, soát xét: thời điểm kiểm tra, soát xét; ý kiến đánh giá, nhận xét; các
phát hiện về thiếu sót, sai phạm; các vấn đề không bình thường được phát hiện
và yêu cầu sửa chữa, giải quyết; chữ ký của người thực hiện kiểm soát.
16
d) Cấp kiểm soát cao hơn phải yêu cầu thành viên Đoàn kiểm toán để sảy
ra thiếu sót, sai phạm phải sửa chữa, giải quyết ngay, giải trình, làm rõ các vấn
đề bất thương hoặc kiến nghị với Tổ trưởng Tổ kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm
toán chỉ đạo giải quyết;
đ) Kết thúc công việc kiểm toán nếu phát hiện ra những thiếu sót, sai
phạm trong hoạt động kiểm toán thì thành viên Đoàn kiểm toán được phân công
thực hiện kiểm toán phải chịu trách nhiệm về những hậu quả do những thiếu sót,
sai phạm đó gây ra; Kiểm toán viên nhà nước được giao trực tiếp chỉ đạo thành
viên đó, Tổ trưởng Tổ kiểm toán và Trưởng đoàn kiểm toán cũng phải liên đới
chịu trách nhiệm về những hậu quả đó.
08.3.2. Kiểm soát chất lượng kiểm toán của các đơn vị chủ trì kiểm
toán, các vụ tham mưu và của vụ chức năng kiểm soát chất lượng kiểm toán
08.3.2.1. Thủ trưởng đơn vị chủ trì kiểm toán, các vụ tham mưu của
Kiểm toán Nhà nước có quyền và trách nhiệm kiểm tra, thẩm định chất lượng
kiểm toán của Đoàn kiểm toán toán theo quy định của Kiểm toán Nhà nước về
tổ chức, hoạt động của đơn vị và theo sự chỉ đạo của Tổng Kiểm toán Nhà nước.
08.3.3.2. Vụ chức năng kiểm soát chất lượng kiểm toán thực hiện kiểm
soát chất lượng kiểm toán độc lập theo Quy chế kiểm soát chất lượng kiểm toán
của Kiểm toán Nhà nước và theo sự chỉ đạo của Tổng Kiểm toán Nhà nước
động chủ yếu) của đơn vị;
09.3.2.3. Phân tích mối quan hệ giữa các chỉ tiêu kinh tế, tài chính chủ
yếu của đơn vị hoặc các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu tác động đến những chỉ tiêu
quan trọng của báo cáo tài chính hoặc tác động đến tính kinh tế, tính hiệu quả,
tính hiệu lực trong quản lý, sử dụng các nguồn lực kinh tế của đơn vị.
09.3.3. Phân tích tổng quát báo cáo tài chính
09.3.3.1. Nội dung phân tích tổng quát báo cáo tài chính:
a) Sự tuân thủ các quy định của pháp luật về kế toán, Chuẩn mực kế toán
và các qui định khác có liên quan đến trình tự lập, nội dung và hình thức báo cáo
tài chính;
b) Phân tích các chỉ tiêu tài chính cơ bản phản ánh thực trạng tình hình tài
chính trong kỳ kiểm toán của đơn vị.
09.3.3.2. Trình tự thực hiện phân tích tổng quát báo cáo tài chính:
a) Xác định các các chỉ tiêu cần phân tích của báo cáo tài chính phù hợp
với mục tiêu, nội dung, phạm vi của kiểm toán báo cáo tài chính tại đơn vị;
b) Lựa chọn và vận dụng thích hợp các phương pháp, thủ tục để phân tích
tổng quát báo cáo tài chính của đơn vị;
c) Kết luận tổng quát ban đầu về báo cáo tài chính của đơn vị:
- Đánh giá về sự tuân thủ pháp luật trong việc trình bày về hình thức và
nội dung của báo cáo tài chính của đơn vị;
- Đánh giá tổng quát về tính hợp lý của các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính
và thực trạng tài chính của đơn vị;
- Nhận diện được các xu hướng, những sai lệch trọng yếu, những biến
động bất thường của các chỉ tiêu của báo cáo tài chính của đơn vị.
09.3.4. Phân tích tổng quát hoạt động kinh tế của đơn vị
09.3.4.1. Nội dung phân tích tổng quát hoạt động kinh tế của đơn vị:
a) Phân tích tổng quát về tính tiết kiệm trong cung ứng các nguồn lực kinh
tế cho hoạt động chủ yếu của đơn vị;
b) Phân tích tổng quát tính hiệu quả trong quản lý và sử dụng các nguồn
lực kinh tế đối với các hoạt động chủ yếu của đơn vị;
liên quan đến những bất thường trong hoạt động của đơn vị để định hướng cho
những nhận định ban đầu về những nguyên nhân tác động đến những bất thường
đã được phát hiện.
09.3.6. Những nội dung chủ yếu về phân tích tình hình kinh tế - tài
chính trong thực hiện kiểm toán gồm:
09.3.6.1. Phân tích nguyên nhân và mức độ tác động của các nguyên nhân
đến những phát hiện kiểm toán;
09.3.6.2. Phân tích hậu quả của các phát hiện kiểm toán đến các chỉ tiêu
trên báo cáo tài chính hoặc đến tính kinh tế, tính hiệu quả, tính hiệu lực trong
quản lý và sử dụng các nguồn lực kinh tế của đơn vị.
09.3.7. Những nội dung chủ yếu về phân tích tình hình kinh tế - tài
chính trong lập báo cáo kết quả kiểm toán, gồm:
19
09.3.7.1. Phân tích các nguyên nhân và hậu quả của các phát hiện kiểm
toán đến báo cáo tài chính của đơn vị;
09.3.7.2. Phân tích các nguyên nhân và hậu quả của các phát hiện kiểm
toán đến tính kinh tế, tính hiệu quả, tính hiệu lực trong quản lý và sử dụng các
nguồn lực kinh tế của đơn vị.
09.3.8. Các quy định khác
09.3.8.1. Khi thực hiện các phương pháp, thủ tục phân tích tình hình kinh
tế - tài chính của đơn vị, Kiểm toán viên nhà nước phải tuân thủ quy trình thực
hiện phương pháp và thủ tục phân tích đã lựa chọn.
09.3.8.2. Kiểm toán viên nhà nước phát hiện ra những sai sót trọng yếu
trên báo cáo tài chính, những xu hướng, biến động bất thường, những bất hợp lý
trong các chỉ tiêu phản ánh hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị thì phải ghi
chép, tổng hợp lại và định hướng cụ thể cho những nội dung kiểm toán để làm
rõ những vấn đề đã được phát hiện.
hiệu quả, hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị;
10.3.2.3. Phân tích, đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu trong hệ thống
kiểm soát nội bộ của đơn vị để xác định những bộ phận, những nội dung trọng
yếu cần kiểm toán và xác định rủi ro kiểm soát.
10.3.3. Nghiên cứu và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ trong kiểm
toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động
10.3.3.1. Trong kiểm toán báo cáo tài chính, việc thực hiện nghiên cứu và
đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ cần tập trung vào các kiểm soát bảo vệ tài
sản và nguồn lực tài chính, bảo đảm tính xác thực và hợp lý của số liệu trên sổ
kế toán và báo cáo tài chính.
10.3.3.2. Trong kiểm toán tuân thủ, việc thực hiện nghiên cứu và đánh giá
hệ thống kiểm soát nội bộ cần tập trung vào các kiểm soát sự tuân thủ pháp luật
và các quy định trong các hoạt động của đơn vị.
10.3.3.3. Trong kiểm toán hoạt động, việc thực hiện nghiên cứu và đánh
giá hệ thống kiểm soát nội bộ cần tập trung vào kiểm soát các quy trình, thủ tục
quản lý, sử dụng các nguồn lực kinh tế của đơn vị.
10.3.4. Thực hiện nghiên cứu và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ
trong các giai đoạn kiểm toán
10.3.4.1. Trong lập kế hoạch kiểm toán tổng quát:
a) Kiểm toán viên nhà nước cần nghiên cứu, lựa chọn các tiêu chí để đánh
giá tổng quát về hệ thống kiểm soát nội bộ của từng đơn vị được kiểm toán
thuộc phạm vi cuộc kiểm toán, từ đó đánh giá rủi ro kiểm soát tổng quát đối với
từng đơn vị của cuộc kiểm toán;
b) Dựa trên kết quả đánh giá rủi ro kiểm soát và đánh giá rủi ro tiềm tàng,
kết hợp với đánh giá các yếu tố khác tác động để phân nhóm, chọn mẫu đơn vị
được kiểm toán của cuộc kiểm toán;
c) Dựa trên kết quả đánh giá rủi ro kiểm soát và đánh giá rủi ro tiềm tàng,
kết hợp với sự chỉ đạo của Tổng Kiểm toán Nhà nước để xác định những trọng
tâm, trọng điểm kiểm toán; xác định những hướng chính cho cuộc kiểm toán.
10.3.4.2. Trong lập kế hoạch kiểm toán chi tiết:
kinh tế của đơn vị;
b) Khi lập Báo cáo kiểm toán của Đoàn kiểm toán, Trưởng Đoàn kiểm
toán cần tổng hợp, đánh giá một cách có hệ thống về việc thiết kế hệ thống kiểm
soát nội bộ của các đơn vị được kiểm toán thuộc phạm vi cuộc kiểm toán để làm
cơ sở đề xuất kiến nghị hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của các đơn vị
thuộc phạm vi cuộc kiểm toán.
10.3.4.5. Việc nghiên cứu, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn
vị được kiểm toán trong các giai đoạn của cuộc kiểm toán phải được ghi chép lại
theo quy định của Kiểm toán Nhà nước trong giấy tờ làm việc của Kiểm toán
viên nhà nước.
11. CHUẨN MỰC 11:
THU THẬP VÀ ĐÁNH GIÁ BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN
11.1. Mục đích
Chuẩn mực này quy định về việc thu thập và đánh giá các bằng chứng
kiểm toán nhằm giúp Kiểm toán viên nhà nước có được các bằng chứng kiểm
toán đảm bảo yêu cầu đầy đủ và thích hợp để đưa ra các kết luận và kiến nghị
kiểm toán xác thực và hợp lý.
22
11.2. Phạm vi áp dụng
Chuẩn mực này áp dụng đối với các giai đoạn của cuộc kiểm toán và đối
với mọi cuộc kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước.
11.3. Nội dung
11.3.1. Quy định chung
Khi tiến hành kiểm toán, Kiểm toán viên nhà nước phải sử dụng các
phương pháp thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán để đảm bảo yêu cầu
đầy đủ và thích hợp của bằng chứng kiểm toán; các bằng chứng kiểm toán được
ghi chép và quản lý đúng quy định để đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý của các kết
11.3.3.2. Thích hợp: thể hiện chất lượng bằng chứng kiểm toán; bằng
chứng kiểm toán phù hợp với mục tiêu kiểm toán, đảm bảo tính khách quan,
đáng tin cậy để đảm bảo sự xác thực của các phát hiện, kết luận và kiến nghị
kiểm toán.
11.3.4. Thu thập bằng chứng kiểm toán
11.3.4.1. Căn cứ vào nội dung, mục tiêu, đối tượng, phạm vi kiểm toán
Kiểm toán viên nhà nước lựa chọn cơ sở dữ liệu, các phương pháp, thủ tục thu
thập bằng chứng kiểm toán thích hợp với từng nội dung kiểm toán.
11.3.4.2. Kiêm toán viên nhà nước thực hiện thu thập các thông tin, tài
liệu phù hợp với từng nội dung, mục tiêu kiểm toán, hình thành các bằng chứng
kiểm toán. Các bằng chứng kiểm toán có nguồn gốc và tính chất khác nhau nên
có độ tin cậy khác nhau; do vậy, trong hầu hết các trường hợp, Kiểm toán viên
nhà nước phải thu thập các bằng chứng kiểm toán từ nhiều nguồn gốc khác nhau
để đảm bảo độ tin cậy cao.
11.3.4.3. Dựa trên các bằng chứng kiểm toán đã thu thập, Kiểm toán viên
nhà nước tiến hành tổng hợp bằng chứng kiểm toán theo từng mục tiêu, nội dung
kiểm toán cụ thể, so sánh với các tiêu chuẩn kiểm toán để đưa ra các phát hiện
kiểm toán.
11.3.4.4. Khi có sự thay đổi về kế hoạch kiểm toán, đòi hỏi phải điều
chỉnh mục tiêu, phạm vi, nội dung, thời gian kiểm toán thì Kiểm toán viên nhà
nước cũng cần điều chỉnh phạm vi, bổ sung phương pháp, số lượng bằng chứng
kiểm toán cần thu thập.
11.3.5. Phân tích, đánh giá bằng chứng kiểm toán
11.3.5.1. Kiểm toán viên nhà nước cần tiến hành kiểm tra, phân tích bằng
chứng kiểm toán đã thu thập được để đảm bảo có độ tin cậy cao, đảm bảo các
phát hiện kiểm toán đưa ra là xác đáng.
11.3.5.2. Mọi phát hiện kiểm toán, kết luận kiểm toán phải căn cứ vào các
bằng chứng kiểm toán đảm bảo yêu cầu đầy đủ và thích hợp.
11.3.5.3. Khi Kiểm toán viên nhà nước nhận định: các bằng chứng kiểm
phải thực hiện đúng việc ghi chép, quản lý giấy tờ làm việc và trong việc lập và
lưu trữ hồ sơ kiểm toán theo các quy định của Kiểm toán Nhà nước.
12.3. Nội dung
12.3.1. Quy định chung
Thành viên Đoàn kiểm toán phải thu thập, ghi chép mọi thông tin, tài liệu
cần thiết liên quan đến cuộc kiểm toán để làm cơ sở cho các phát hiện, kết luận
và kiến nghị kiểm toán và chứng minh cho sự tuân thủ pháp luật và các quy định
của Kiểm toán Nhà nước trong hoạt động của cuộc kiểm toán. Hồ sơ kiểm toán
phải được lập và lưu trữ theo đúng các quy định của pháp luật và của Kiểm toán
Nhà nước.
12.3.2. Yêu cầu trong ghi chép, quản lý giấy tờ làm việc và lập, lưu trữ
hồ sơ kiểm toán
12.3.2.1. Hoàn chỉnh và chính xác: giấy tờ làm việc phải ghi chép đầy đủ,
chi tiết mọi hoạt động và kết quả kiểm toán. Tài liệu đưa vào lưu trữ phải được
chọn lọc để phản ánh đúng, đủ công việc kiểm toán và là cơ sở chứng minh cho
các phát hiện và kết luận kiểm toán.
12.3.2.2. Rõ ràng và súc tích: giấy tờ làm việc phải thể hiện rõ mục đích,
tính chất, phạm vi công việc kiểm toán đã thực hiện và các phát hiện, kết luận
kiểm toán; việc ghi chép phải ngắn gọn, chặt chẽ, dễ đọc và rành mạch để phục
vụ tốt cho việc lập báo cáo và kiểm tra, soát xét công việc kiểm toán.
12.3.2.3. Thống nhất: Kiểm toán viên nhà nước phải ghi chép giấy tờ làm
việc theo quy định về mẫu biểu giấy tờ làm việc của Kiểm toán Nhà nước; đồng
25
thời, được phép sử dụng các mẫu biểu, giấy tờ làm việc, các bảng phân tích khác
mà Kiểm toán Nhà nước không quy định nhưng phải bảo đảm các giấy tờ làm
việc được ghi chép một cách đúng đắn, rõ ràng và súc tích.
12.3.2.4. Thích hợp: thông tin trong giấy tờ làm việc phải được trình bày
trong giới hạn các vấn đề trọng yếu, đi thẳng vào vấn đề và có ích cho thực hiện
12.3.4.3. Việc lưu trữ, quản lý hồ sơ kiểm toán phải đảm bảo yêu cầu về
an toàn, bảo mật, thuận lợi cho việc khai thác, sử dụng. Việc khai thác và sử
dụng hồ sơ kiểm toán phải tuân thủ các quy định của Kiểm toán Nhà nước.
12.3.4.4. Kiểm toán Nhà nước tuân thủ đúng các quy định của pháp luật
về thời hạn lưu trữ và tiêu hủy hồ sơ kiểm toán.