Trần Võ Hùng Sơn & Phạm Khánh Nam 352
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU HÀNH
PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ GIẢI TRÍ CỦA CỤM ĐẢO
SAN HÔ HÒN MUN, TỈNH KHÁNH HÒA PHẦN I: GIỚI THIỆU
1. Đặt vấn đề
Khu vực duyên hải đóng vai trò rất quan trọng trong các giai đoạn phát triển kinh tế
của nước ta. Đây là khu vực có tiềm năng tài nguyên to lớn, là nơi tồn tại các hệ sinh
thái khác nhau và duy trì tính đa dạng sinh học. Tuy nhiên theo báo cáo của Bộ Khoa
học, Công nghệ và Môi Trường năm 1994 (Sơn, 1998) về tình hình môi trường biển,
sự suy thoái và ô nhiễm đã bắt đầu xuất hiện tại các vùng biển của Việt Nam; có quá
nhiều hệ sinh thái tài nguyên môi trường bò khai thác quá mức; và do đó tính đa dạng
sinh học môi trường biển bò xuống cấp nhanh chóng. Chính phủ đã cố gắng giải quyết
vấn đề này nhưng gặp phải rất nhiều khó khăn do mâu thuẫn giữa mục tiêu tăng
trưởng kinh tế và mục tiêu bảo vệ môi trường. Một số khu vực sinh thái du lòch biển
như Vònh Hạ Long, bán đảo Sơn Trà tại Đà Nẵng, đảo Hòn Mun ở Nha Trang đóng
góp giá trò rất lớn cho nền kinh tế nhưng hiện tại đang bò suy thoái do quản lý yếu
kém.
Tỉnh Khánh Hòa nằm ở khu vực Nam Trung Bộ có dân số khoảng 1 triệu người.
Thành phố Nha Trang là tỉnh lỵ của Khánh Hòa với dân số khoảng trên 300.000
người. Nha Trang nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 450 km, cách Thủ Đô Hà Nội
1.280 km. Nằm trên tuyến quốc lộ 1 nối liền miền Bắc và miền Nam, có sân bay và
hải cảng, với phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp và nguồn tài nguyên thiên nhiên quý
hiếm như san hô và yến sào, Nha Trang là một trong những điểm du lòch biển quan
trọng nhất của Việt Nam.
1.8 lần và lượng hành khách gấp 3 lần.
Với tình hình quản lý như vậy, trong những năm gần đây môi trường biển Nha Trang
và đặc biệt cụm đảo Hòn Mun bò xuống cấp nghiêm trọng. Các nguồn tài nguyên biển
đã và đang bò khai thác không bền vững. San hô bò ngư dân khai thác, bò neo của tàu
thuyền du lòch phá hủy. Đa dạng sinh vật biển bò suy thoái dần bởi khai thác quá mức
và không đúng cách (đèn, thuốc nổ).
Cảng Nha Trang mở rộng sẽ tiếp nhận lượng tàu bè lớn dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi
trường nước và không khí cho khu vực lân cận mà Hòn Mun là một điển hình. Cần
nhớ rằng cụm đảo Hòn Mun nằm trên con đường vào cảng của tàu bè.
Tất cả những điều đó cho thấy rằng môi trường biển khu vực đảo Hòn Mun đang bò
suy thoái, dẫn đến sự biến mất dần của các nguồn tài nguyên thiên nhiên biển. Điều
này ảnh hưởng trực tiếp lên chức năng cung cấp các dòch vụ du lòch của cụm đảo. Mà
hoạt động du lòch của cụm đảo được cho rằng đóng góp vai trò quan trọng không chỉ
cho cộng đồng cư dân đòa phương mà còn cho cả nền kinh tế nói chung.
Đo lường giá trò giải trí mà cụm đảo mang lại cho nền kinh tế, phân tích các yếu tố tác
động lên nó, so sánh với lợi ích mang lại từ việc ở rộng cảng Nha Trang, nghiên cứu
khả năng thành lập khu bảo tồn biển trở thành một nhu cầu rõ ràng trong giai đoạn
hiện nay vì lợi ích của cộng đồng dân cư đòa phương.
Trần Võ Hùng Sơn & Phạm Khánh Nam 354
Nghiên cứu này cũng nhằm đúc kết phương pháp đánh giá giá trò của hàng hóa và
dòch vụ môi trường không có giá thông qua điển hình thực tiễn tại Việt Nam. Phương
pháp và kết quả nghiên cứu sẽ được dùng làm bài tập tình huống minh họa cho
chương “Các phương pháp đánh giá” (là 1 trong những chương khó nhất và quan trọng
nhất) trong môn học Phân tích lợi ích chi phí và Kinh tế môi trường.
Thu thập số liệu sơ cấp sử dụng phương pháp lấy mẫu hệ thống. Khoảng 400 mẫu
được thu thập.
Trần Võ Hùng Sơn & Phạm Khánh Nam 355
PHẦN II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1. Nền tảng lý thuyết
Trên thò trường, một sản phẩm luôn có xu hướng có thể nhận biết được và có giá thò
trường. Ở khía cạnh khác, có một số loại hàng hóa và dòch vụ lại không có giá cả thò
trường (gọi là hàng hóa và dòch vụ phi-thò trường). Rất nhiều hàng hóa và dòch vụ môi
trường là hàng hóa công cộng, có những đặc tính không thể giao dòch trên thò trường.
Cho nên có thể xem hàng hóa và dòch vụ môi trường như là loại hàng hóa và dòch vụ
phi thò trường. Để đánh giá đo lường giá trò loại hàng hóa và dòch vụ phi-thò trường
này, các nhà nghiên cứu sử dụng thông tin về mối quan hệ giữa hàng hóa thò trường
và hàng hóa phi thò trường. Theo Markandya và Richardson (1993), có thể chia các
phương pháp đánh giá giá trò hàng hóa và dòch vụ môi trường thành 3 nhóm:
(1) Các phương pháp dựa trên thông tin thò trường trực tiếp hoặc gián tiếp, chẳng hạn
như giá trò tài sản, tiền lương, chi tiêu cho những loại hàng hóa liên hệ v.v. Phương
pháp tiêu biểu của nhóm này là phương pháp Chi phí du hành (TCM).
(2) Các phương pháp dựa trên thông tin được phát biểu trực tiếp qua bảng phỏng vấn
khi thò trường không hiện hữu. Phương pháp tiêu biểu của nhóm này là phương
pháp Đánh giá ngẫu nhiên (CVM).
(3) Các phương pháp dựa trên dữ liệu liều lượng đáp ứng giữa sự thay đổi môi trường
và ô nhiễm.
Theo Freeman (1993), từ góc độ kinh tế học, các dòch vụ cung cấp bởi hệ thống môi
trường có 2 đặc điểm quan trọng. Thứ nhất, giá trò kinh tế của các dòch vụ này phụ
thuộc vào đặc tính của chính hệ thống môi trường tự nhiên. Thứ hai, chức năng cung
p
s
: chi phí du lòch đến điểm thay thế
s : đặc điểm kinh tế xã hội của khách du lòch
Hình 1: Đường cầu giải trí
Chi phí
du hành
p
2
p
1
v
2
v
1
Lượng khách
Từ hàm ước lượng trên, đường cầu giải trí được xây dựng như trong hình 1, biểu diễn
mỗi quan hệ giữa cầu giải trí (số lượng khách tham gia) và chi phí để thực hiện hoạt
động giải trí. Đường cầu giải trí chính là đường giá sẵn lòng trả biên tế cho dòch vụ
giải trí. Như vậy giá trò giải trí được đánh giá như tổng giá sẵn lòng trả sẽ được đo
bằng diện tích nằm dưới đường cầu.
Hodgson và Dixon (1988) cũng sử dụng phương pháp thay đổi năng suất để đo lường
tổng doanh thu du lòch từ san hô vùng đảo Palawan ở Philippines. Các tác giả đã sử
dụng số liệu về khả năng tiêp nhận của khách sạn, số khách, tỷ lệ lưu trú hàng ngày
để tính toán. Giá trò du lòch được đưa về hiện tại là 6.280 đô la nếu cho phép khai thác
san hô, và 13.334 đô la nếu cấm khai thác san hô, dựa trên giả đònh là tất cả giá trò
này đều có thể quy cho tình trạng chất lượng san hô.
Phần lớn các nghiên cứu về giá trò giải trí của san hô đều sử dụng phương pháp Chi
phí du hành hoặc phương pháp Đánh giá ngẫu nhiên để ước lượng thặng dư tiêu dùng
của khách du lòch. Hundle (1990) sử dụng phương pháp TCM đánh giá giá trò thặng dư
tiêu dùng một năm của khách du lòch c và khách quốc tế đối với ‘Khu vực san hô’ ở
c tương ứng là 117.500.000 đô la và 26.700.000 đô la. Tác giả tiếp đó phân bổ
105.600.000 đô la (thặng dư tiêu dùng, không phải tổng giá trò) là giá trò giải trí của
san hô trong điều kiện có tính tới tất cả các đặc tính của ‘Khu vực san hô’. Hơn nữa,
tác giả còn sử dụng phương pháp CVM để ước lượng giá trò của san hô và so sánh kết
quả với kết quả của phương pháp TCM.
Dixon và cộng sự (1993) sử dụng phương pháp CVM để ước lượng giá sẵn lòng trả
cho Công viên biển Bonaire. Giá sẵn lòng trả trung bình là 27,4 đô la và tổng thặng
dư tiêu dùng là 325.000 đô la.
Giá trò giải trí dường như chiếm phần quan trọng nhất trong tổng giá trò kinh tế của
san hô. Spurgeon (1992) cho rằng du lòch đem lại nguồn lợi tài chính trực tiếp lớn nhất 1
Giá trò giải trí của Driml chỉ bao gồm giá trò tài chính. Tổng giá trò giải trí dùng trong nghiên cứu này
bao gồm thặng dự người tiêu dùng và chi tiêu của khách du lòch (giá trò tài chính).
Trần Võ Hùng Sơn & Phạm Khánh Nam 358
trong tất cả các khả năng sử dụng của san hô. Theo Costanza và cộng sự (1997, 1998),
trích trong Ruitenbeek (1999), giá trò trung bình của san hô trên toàn thế giới là 6.075
dành cho khách du lòch trong nước.
Bảng 1: Vùng phân chia theo nguồn gốc khách du lòch
Vùng Khoảng cách (km) Tỉnh, thành phố hành chính Dân số
1 5 Nha Trang 410.000
2 33,3 Diên Khánh, Ninh Hòa, 626.800
Cam Ranh, Vạn Ninh
3 110 Phan Rang, Tuy Hòa 338.900
Trần Võ Hùng Sơn & Phạm Khánh Nam 359
4 217 Đà Lạt, Buôn Ma Thuột, 687.500
5 Phan Thiết, Bình Đònh
6 441 Tp Hồ Chí Minh 4.989.700
7 497 Long An, Tây Ninh, 999.600
Vũng Tàu, Đồng Nai
8 516 Đà Nẵng, Huế 1.076.800
Quảng Nam, Quảng Ngãi
9 677 An Giang, Cần Thơ, 1.409.100
Cà Mau, Tiền Giang
10 1.140 Hà Nội, Hải Phòng, Nam 4.887.900
Đònh, Thanh Hóa, Nghệ An
Bảng 2 trình bày sự phân chia khu vực dùng mô hình Chi Phí Du Hành cho Hòn Mun
dành cho khách du lòch nước ngoài.
Bảng 2: Khu vực phân chia theo nguồn gốc khách du lòch
Khu vực Khu vực Số mẫu Phần trăm (%)
Châu Á – Thái Bình Dương 1 115 54.7
Châu Âu 2 77 36.6
Bắc Mỹ 2 18 8.7
Total
×
×
12 1000
với VR : tỷ lệ viếng thăm (số chuyến/1,000/năm)
Vi : số khách từ vùng i
n : kích thước mẫu
N : tổng số khách trong một tháng
P : dân số vùng i
Ước lượng chi phí du hành
Chi phí đến thăm một đòa điểm bao gồm ba phần (theo OECD, 1994):
1) Chi phí phát sinh trực tiếp từ việc đến và rời đi khỏi đòa điểm, thông thường là
chi phí xe cộ, bao gồm vé xe, xăng dầu và các phí phát sinh khác. Đối với
vùng 1 và 2 là những vùng gần đòa điểm nghiên cứu, chi phí di chuyển chính là
chi phí xăng cho xe máy để đến được đòa điểm và chí phí bảo trì phương tiện di
chuyển. Chi phí đơn vò được ước lượng vào khoảng 200 đồng/km/người. Đối
với vùng 3 và 4, phương tiện di chuyển chính là xe khách nên chi phí đơn vò
bằng 155 đồng/km/người. Với các vùng còn lại, chi phí di chuyển dựa trên vé
tàu hỏa, được ước tính 240 đồng/km/người.
Chi phí di chuyển của khách nước ngoài được tính dựa trên phương tiện di
chuyển là máy bay.
2) Chi phí thời gian di chuyển, bao gồm cả thời gian ở tại đòa điểm. Chi phí thời
gian chính là chi phí cơ hội của khách du lòch. Chi phí cơ hội của thời gian được
tính bằng 1/3 lương theo giờ. Mức lương được ước tính trên cơ sở thu nhập
trung bình của dân cư đô thò trong vùng.
3) Phí vào cửa, phí hướng dẫn và các phụ phí khác tại đòa điểm.
Một trong những vấn đề quan trọng khi tính toán chi phí du hành là việc phân chia chi
MAR
Tình trạng hôn
nhân
Bằng 1 nếu có gia đình, 0 nếu không
có gia đình
x
EDU
Trình độ học vấn Bằng 1 nếu đại học hoặc trên, 0 cho
các trường hợp còn lại
+
‘+’: Dấu mong đợi là dấu dương
‘-’: Dấu mong đợi là dấu dương
‘x’: Dấu mong đợi không dự đoán được
Thành lập đường cầu và đo lường giá trò
Hàm cầu được thành lập sử dụng hồi quy OLS. Hàm chức năng để thành lập đường
cầu có thể ở dạng tuyến tính hoặc bán-logarit.
với i đại diện cho vùng i và V
i
đại diện cho tỷ lệ khách du lòch trên 1000 dân tại mức
vé vào cửa bằng 0.
Dựa trên hàm cầu giải trí được xác đònh, có thể ước lượng thặng dư tiêu dùng. Thặng
dư người tiêu dùng được tính toán dựa vào công thức tính tích phân. Công thức tính
cho từng vùng như sau:
với CS
i
là thặng dư tiêu dùng của vùng i, TC
0
Phần IV: Kết Quả Nghiên Cứu
1. Đặc điểm cụm đảo Hòn Mun
Cụm đảo Hòn Mun được xác đònh là một nhóm các đảo nhỏ, bao gồm Hòn Một, Hòn
Tằm, Hòn Miếu, Hòn Mun và một phần đảo Hòn Tre. Hòn Mun là đảo quan trọng
nhất trong cụm với rặng san hô bao phủ và tổ chim yến trên đảo, nằm tại 12°10'N và
101°15'E phía nam vònh Nha Trang, cách bờ biển Nha Trang 8 km.
Đặc điểm nổi bật nhất của Hòn Mun là " trung tâm đa dạng san hô ở Việt Nam" (Viện
Hải Dương Học, 1998) cùng phong cảnh biển hấp dẫn với nước xanh trong và nhiều
bãi biển đẹp. Những điều kiện này đưa Hòn Mun trở thành một khu nghỉ ngơi giải trí
thu hút khách du lòch.
Bảng 5 trình bày doanh thu và số lượng khách du lòch đến tỉnh Khánh Hòa (đến Nha
Trang) từ năm 1994 đến năm 2000.
Bảng 5: Doanh thu và số lượng khách du lòch từ 1994 đến 2000
Đơn vò 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Doanh thu Tỷ đồng 60.661 85.110 115.000 115.200 147.700 150.500 197.200
Số lượng khách Người 260.000 317.000 390.000 315.500 331.400 370.000 397.000
Trong đó khách
ngoại quốc
Người 73.500 91.500 109.000 105.000 99.600 130.000 118.700
Nguồn: Sở Du Lòch Khánh Hòa (1998, 1999, 2000)
Số liệu thống kê số lượng khách du lòch đến cụm đảo cho đến nay vẫn không có cơ
quan nào thực hiện. Số lượng khách du lòch sử dụng trong nghiên cứu này được xem
như bằng 70 phần trăm số khách du lòch đến Khánh Hòa.
n hải sản
77 51 74 54
Thăm làng chài
29 19 68 49
Nguồn: số liệu điều tra
2. Các yếu tố tác động đến cầu giải trí của Hòn Mun
Kỹ thuật hồi quy bội được thực hiện để kiểm tra giả thiết rằng cầu giải trí của Hòn
Mun phụ thuộc vào chi phí du hành, chi phí đến điểm thay thế, thu nhập và các đặc
điểm kinh tế xã hội. Phân tích này không thực hiện đối với khách ngoại quốc bởi vì
biến đo lường cầu giải trí Hòn Mun của họ không biến đổi (hầu hết đều chỉ thực hiện
1 lần du lòch đến Hòn Mun).
Bảng 7: Hai dạng thức của hàm hồi quy cầu giải trí
Biến Tuyến tính
(chỉ số t)
Bán-Logarit
(chỉ số t)
Biến phụ thuộc Số lần Logarit của số lần
Hằng số
2,645732
(4,51)
0,907665
(3,64)
Chi phí du hành
-0,003350 ***
(-3,08)
-0,001635 ***
(-3,54)
Chỉ số F
2.91 4.13
Nguồn: Tính từ số liệu điều tra
*** có ý nghóa thống kê ở mức 1%
** có ý nghóa thống kê ở mức 5%
* có ý nghóa thống kê ở mức 10%
Trong hai mô hình này, hầu hết các hệ số của biến giải thích đều có dấu đúng như
mong đợi, ngoại trừ hệ số của biến tuổi. Quan trọng nhất, hệ số của biến chi phí du
lòch cho dấu âm và có ý nghóa thống kê. Tác động của thu nhập lên số lần đến thăm
Hòn Mun là dương và có ý nghóa thống kê. Ở hàm bán-logarit, hệ số xác đònh R
2
chỉ
ra rằng kết quả hồi quy chỉ giải thích 12 phần trăm sự biến động trong số lần đến
thăm Hòn Mun (cầu du lòch đến Hòn Mun). Mức độ giải thích sự biến động cầu du
lòch của hàm hồi quy là thấp bởi vì bản thân độ dao động của biến phụ thuộc thấp (số
lần đến thăm, hầu hết giá trò của biến này là 1 và 2).
Chi phí du hành
Hệ số ước lượng và chỉ số thống kê t trong bảng 7 chỉ ra rằng chi phí du hành rõ ràng
tác động nghòch lên số lần du lòch đến Hòn Mun, hay nói cách khác lên cầu du lòch
đến Hòn Mun. Điều này có nghóa nếu khách du lòch phải trả chi phí du lòch càng cao
họ sẽ giảm số lần đến thăm Hòn Mun. Như vậy nghiên cứu thực tiễn đã chứng minh
cho giả thiết. Điều này là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng đường cầu du lòch cho
Hòn Mun.
Thu nhập
Biến thu nhập có ý nghóa thống kê và mang dấu được mong đợi - dấu dương. Kết quả
Một cách ngạc nhiên, số năm học của khách du lòch lại có tác động âm lên số lần du
lòch đến Hòn Mun. Tuy nhiên hệ số này không có ý nghóa thống kê.
Giới tính
Biến 'nam giới' có dấu như dự đoán, dấu dương, và có ý nghóa thông kê ở mức 5 phần
trăm ở hàm bán-logarit. Như vậy nam giới đi du lòch đến Hòn Mun nhiều lần hơn phụ
nữ. Nếu giải thích điều này bằng đặc điểm của Hòn Mun thì không đúng. Một cách
đơn giản đây là vấn đề của sự không bình đẳng trong giới tính. Ở Việt Nam, phụ nữ ít
có cơ hội đi du lòch hơn nam giới. Số liệu điều tra cho thấy 70 phần trăm khách du lòch
người Việt Nam là nam giới, trong khi con số này đối với khách ngoại quốc là 55
phần trăm.
Tình trạng hôn nhân
Do hiện tượng đa cộng tuyến (multicollinearity) giữa biến tình trạng hôn nhân và các
biến tuổi và thu nhập nên biến này đã bò loại khỏi hàm hồi quy.
Trần Võ Hùng Sơn & Phạm Khánh Nam 366
3. Ước lượng giá trò giải trí
Bảng 8 tổng hợp các thành phần chi phí du hành của khách trong nước đến từ 10 vùng
và khách nước ngoài. Kết quả cho thấy chi phí di chuyển chiếm phần lớn trong tổng
chi phí, nhất là với đối tượng khách nước ngoài.
Bảng 8: Chi phí du hành đến Hòn Mun (Đơn vò: ngàn đồng)
Khách trong nước Khách nước ngoài
Tổng cộng Trên đầu
người
Nguồn: Tính từ số liệu điều tra
* Các số thành phần là số đã làm tròn
Trần Võ Hùng Sơn & Phạm Khánh Nam 367
Từ kết quả tính toán được về chi phí và tỷ lệ viếng thăm ở các bảng trên, sử dụng mô
hình Chi phí Du hành theo vùng đã được khảo sát ở phần III, kết quả hồi quy xây
dựng hàm cầu giải trí được trình bày ở bảng 10.
Bảng 10: Kết quả hồi quy cầu giải trí tại Hòn Mun của khách trong nước
LN(SOKHACH) = 4,163 - 0,007 CHIPHI (1)
(8,54) (-3,55)
Hệ số xác đònh R
2
= 0,61
LN(SOKHACH) = 3,408 – 0,01 CHIPHI + 0,001 THUNHAP + 0,002 CHIPHITHAYTHE (2)
(3,94) (-3,34) (0,99) (0,45)
Hệ số xác đònh R
2
= 0,69
Chú ý: Chỉ số t trong ngoặc đơn. Số quan sát (vùng) là10.
Do kích thước mẫu nhỏ, hiện tượng đa cộng tuyến và sai dấu, phương trình (2) bò loại.
Như vậy phương trình (1) được chọn để xây dựng đường cầu và tính toán giá trò giải
trí. Hình 2 trình bày đường cầu giải trí cho Hòn Mun trong năm 2000 của khách trong
nước.
0
50
100
150
200
Thặng dư Chi tiêu Giá trò giải trí
Tất cả du
khách
Trên mỗi
du khách
Tất cả du
khách
Trên mỗi
du khách
Tất cả du
khách
Trên mỗi
du khách
Khách du lòch
trong nước
21.654 0,131 35.728 0,215 57.382 0,346
Khách du lòch
nước ngoài
23.810 0,250 178.657 1,880 202.467 2,130
Tổng cộng
45.464 214.385 259.849 Giá trò giải trí dưới dạng tiền tệ của Hòn Mun trong năm 2000 vào khoảng 260 tỷ
đồng (tương đương 17,9 triệu đô la). Đây chính là giá trò mà Hòn Mun sản sinh ra cho
nền kinh tế trong một năm (cụ thể là năm 2000), chứ không phải doanh thu của Hòn
Mun. Giá trò này được phân phối cho, đầu tiên, khách du lòch đến Hòn Mun, những
người đạt được lợi ích bằng cách thực hiện các hoạt động vui chơi giải trí (dưới hình
thức thặng dư người tiêu dùng) và cho các công ty chuyên chở hành khách và những
đặc điểm xã hội của khách du lòch như tuổi, trình độ học vấn, giới tính không có mối
liên hệ rõ rệt đến cầu giải trí tại Hòn Mun.
Giá trò giải trí của Hòn Mun được ước tính vào khoảng 260 tỷ đồng vào năm 2000,
trong đó thặng dư người tiêu dùng là 45,4 tỷ đồng. Giá trò ước lượng này là khá lớn
nếu so với giá trò của công viên quốc gia Cúc Phương (xem Hai và Phương, 1997). Bất
kể sự quản lý yếu và không hiệu quả, giá trò tính được cho thấy tiềm năng du lòch to
lớn của Hòn Mun. Điều này cho thấy nếu Hòn Mun được quản lý tốt, số lượng khách
du lòch đến cụm đảo sẽ tăng lên, kéo theo sự gia tăng của giá trò du lòch. Mặc dù giá
trò giải trí chỉ là một phần trong tổng giá trò của công viên biển trong tương lai nhưng
kết quả tính toán cho thấy giá trò này sẽ là một nguồn lợi chính cho khu bảo tồn biển
tại Hòn Mun, nếu nó thực sự được thiết lập.
2. Đề xuất chính sách
• Mặc dù giá trò giải trí được ước lượng chỉ là một phần trong tổng giá trò của cụm đảo
Hòn Mun, những kết quả thu được cho thấy du lòch sẽ mang lại nguồn lợi đáng kể khi
công viên biển quốc gia được thành lập tại khu vực này.
• San hô là đặc điểm mang tính đặc thù và quan trọng nhất của Hòn Mun nếu so với
các khu vui chơi giải trí khác nhưng lại không được sử dụng đúng mức để hấp dẫn
khách du lòch. Trong năm 2000 chỉ có khoảng 4000 khách du lòch tham gia hoạt động
lặn biển xem san hô bằng bình dưỡng khí. So với tổng lượng khách đến là 290.000
người thì số này quá ít. Tình hình này có thể do một số nguyên nhân. Thứ nhất, san hô
trong khu vực đảo bò hủy hoại quá mức. Người tiêu dùng thì luôn luôn chọn loại hàng
hóa có chất lượng tốt nên khi chất lượng san hô bò xuống cấp thì số người sử dụng sẽ
Trần Võ Hùng Sơn & Phạm Khánh Nam 370
bò thu hẹp. Giá cả cũng có thể là một vấn đề khi giá 1 giờ lặn biển là 600.000 đồng
trong khi giá một tour du lòch các đảo trong 1 ngày (bao gồm cả đưa đón tại khách sạn
và ăn trưa) chỉ là 100.000 đồng. Nguyên nhân thứ ba là vấn đề quảng cáo. Rất nhiều
chắn sẽ anh hưởng rất lớn đến hệ sinh thái biển cũng như rặng san hô Hòn Mun, từ đó
ảnh hưởng đến lợi ích từ hoạt động giải trí cho xã hội. Giả sử cảng Nha Trang mở
rộng làm giảm 20% lợi ích giải trí mà xã hội nhận được từ Hòn Mun, tức là giảm 51.9
tỷ đồng (259.8 tỷ đồngx20%) cho thấy lợi ích giải trí bò giảm lớn hơn doanh thu của
cảng mới. Tất nhiên so sánh như vậy có thể không tuyệt đối chính xác nhưng nó cũng
cho thấy những vấn đề tiềm tàng có thể xảy ra. Trần Võ Hùng Sơn & Phạm Khánh Nam 371
3. Đề xuất nghiên cứu mở rộng
• Sử dụng phương pháp Chi Phí Du Hành Cá Nhân (ITCM) và phương pháp Đánh Giá
Ngẫu Nhiên (CVM) để đònh giá giá trò giải trí của Hòn Mun rồi so sánh kết quả với
phương pháp Chi Phí Du Hành Theo Vùng.
• Đánh giá giá trò của việc thay đổi chất lượng đảo Hòn Mun. Nếu có một sự nâng cấp
trong chất lượng, ví dụ rặng san hô được phục hồi, rõ ràng nhà quản lý cần biết lợi ích
quy ra tiền của việc thay đổi này là bao nhiêu.
• Đánh giá tổng giá trò kinh tế của cụm đảo Hòn Mun. Giá trò giải trí không phải là
giá trò duy nhất của Hòn Mun. Cụm đảo chứa đựng nguồn tài nguyên rất giàu có đã
được đònh giá như thuỷ sản, yến sào và chưa được đònh giá như các tác động lên sức
khỏe của người dân sống trong khu vực đảo, chức năng phòng chống bão và các giá
trò phi-sử dụng khác. Các nghiên cứu trong tương lai nên tập trung đònh giá các giá trò
này bằng cách sử dụng phương pháp Đánh Giá Ngẫu Nhiên. Từ các giá trò tính được
có thể thiết lập một mô hình quản lý tổng hợp nhằm bảo vệ và nâng cao nguồn lợi
thủy sản, du lòch và môi trường cho khu vực.
Tài liệu tham khảo
11. Sở Du lòch Khánh Hòa (1998) ‘Báo cáo tình hình thực hiện tháng 12/1998’. Tài
liệu không xuất bản.
12. Spurgeon, J. 1992. The Economic Valuation of Coral Reefs. Marine
Pollution Bulletine 24(11):529-536
13. y ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa (1994) Khánh Hòa tự giới thiệu. Hà nội:
Nhà xuất bản Sự thật.
14. y ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa (1998) Quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội
tỉnh Khánh Hòa thời kỳ 1998 – 2010. Nha Trang.
15. World Bank (1995) ‘Vietnam Environmental Program and Policy Priorities for
a Socialist Economy in Transition’. Report No 13200-VN, February,
Washington D.C.
Trần Võ Hùng Sơn & Phạm Khánh Nam 373
Phụ lục 1: Bản đồ thành phố Nha Trang
và cụm đảo Hòn Mun
6. Bạn đã đi du lòch đảo này mấy lần rồi (tính cả lần này) ? ____ lần.
7. Xin cho biết các hoạt động của bạn tại khu vực đảo (đánh dấu vào các ô)
Tắm nắng Lặn bằng mặt nạ
Bơi Lặn bằng bình dưỡng khí
Ăn hải sản Chơi mô tô nước / Chèo thuyền
Ngắm phong cảnh Thăm cư dân trên đảo
8. Xin bạn cho biết tổng số tiền chi tiêu tại các đảo :
Vé tour trọn gói đồng/người
Thức ăn và nước uống đồng/người
Quà lưu niệm đồng/người
Trần Võ Hùng Sơn & Phạm Khánh Nam 375
Thuê dòch vụ lặn, canô đồng/người
Thuê ghế ngồi, tắm nước ngọt đồng/người
Chi phí khác đồng/người
9. Nếu không đi Nha Trang chuyến này, bạn sẽ đi du lòch ở đâu (tại Việt Nam) ?
Xin kể ra nơi có khả năng đi nhất : ______
10. Bạn sẽ dùng phương tiện gì để đến chỗ đó (ở câu 8)?
Máy bay Tàu hỏa
Xe đò Xe thuê
Xe riêng Loại khác
11. Xin bạn vui lòng xếp hạng cho sự hài lòng của mình trong thời gian du lòch tại
Nha Trang :
Đòa điểm Xếp hạng 1: hài lòng nhất
Du lòch đảo 2: hài lòng nhì
Bờ biển Nha Trang
Hòn Chồng
Hồ cá Trí Nguyên
Tháp bà Pônaga
Dốc Lết
Đại Lãnh
Những người nào làm ô nhiễm sẽ phải trả
Không có đủ thông tin
Để nghiên cứu được thực hiện tốt, xin bạn vui lòng cho biết một số thông tin về
cá nhân như sau :
15. Bạn là : Nam Nữ
16. Bạn bao nhiêu tuổi : _________
17 . Bạn có gia đình chưa ?
Độc thân Có gia đình
18. Bậc học cao nhất của bạn :
Tiểu học Trung học
Cao đẳng/Đại học Trên đại học
19. Xin bạn vui lòng cho biết tổng thu nhập hàng tháng của bạn xấp xỉ là bao nhiêu ?
0 - 400.000 đồng
400.000 - 600.000 đồng
600.000 - 800.000 đồng
800.000 - 1.000.000 đồng
1.000.000 - 1.200.000 đồng
1.200.000 - 1.500.000 đồng
1.500.000 - 2.000.000 đồng
2.000.000 - 3.000.000đồng
Trên 3.000.000 đồng
Xin chân thành cám ơn !