Ngôn Ngữ Lập Trình C#
// biến thành viên lưu giá trị thuộc tính Status
private int status;
}
public class Tester
{
static void Main()
{
// tạo một đối tượng myStruct
myStruct theStruct = new myStruct();
theStruct.Status = -1; // khởi tạo
Console.WriteLine(“theStruct.Status: {0}”, theStruct.Status);
// thay đổi giá trị
theStruct.Status = 2;
Console.WriteLine(“Changed object”);
Console.WriteLine(“theStruct.Status: {0}”, theStruct.Status);
// gán cho giao diện
// boxing ngầm định
IStorable isTemp = (IStorable) theStruct;
// thiết lập giá trị thông qua tham chiếu giao diện
isTemp.Status = 4;
Console.WriteLine(“Changed interface”);
Console.WriteLine(“theStruct.Status: {0}, isTemp: {1}”,
theStruct.Status, isTemp.Status);
// thay đổi giá trị một lần nữa
theStruct.Status = 6;
Console.WriteLine(“Changed object.”);
Console.WriteLine(“theStruct.Status: {0}, isTemp: {1}”,
theStruct.Status, isTemp.Status);
}
}
Console.WriteLine(“theStruct.Status: {0}”, theStruct.Status);
kết quả chỉ ra sự thay đổi:
Changed object
theStruct.Status: 2
Tại điểm này, chúng ta tạo ra một tham chiếu đến giao diện IStorable, một đối tượng giá
trị theStruct được boxing ngầm và gán lại cho tham chiếu giao diện. Sau đó chúng ta dùng
giao diện để thay đổi giá trị của status bằng 4:
// gán cho một giao diện
// boxing ngầm định
IStorable isTemp = (IStorable) theStruct;
// thiết lập giá trị thông qua tham chiếu giao diện
isTemp.Status = 4;
Console.WriteLine(“Changed interface”);
Console.WriteLine(“theStruct.Status: {0}, isTemp: {1}”,
theStruct.Status, isTemp.Status);
như chúng ta đã thấy kết quả thực hiện có một điểm khác biệt:
Changed interface
theStruct.Status: 2, isTemp: 4
Điều xảy ra là: đối tượng được giao diện tham chiếu đến thay đổi giá trị status bằng 4, nhưng
đối tượng giá trị cấu trúc không thay đổi.Thậm chí có nhiều thú vị hơn khi chúng ta truy cập
phương thức thông qua bản thân đối tượng:
Thực Thi Giao Diện
204
.
.
Ngôn Ngữ Lập Trình C#
// than đổi giá trị lần nữa
theStruct.Status = 6;
Console.WriteLine(“Changed object”);
Console.WriteLine(“theStruct.Status: {0}, isTemp: {1}”,
IL_002b: ldc.i4.2
IL_002c: call instance void myStruct::set_status(int32)
Thực Thi Giao Diện
205
.
.
Ngôn Ngữ Lập Trình C#
IL_0031: ldstr “Changed object”
IL_0036: call void [mscorlib]System.Console::WriteLine
(class System.String)
IL_003b: ldstr “theStruct.Status: {0}”
IL_0040: ldloca.s theStruct
IL_0042: call instance int32 myStruct::get_status()
IL_0047: stloc.2
IL_0048: ldloca.s V_2
IL_004a: box [mscorlib]System.Int32
IL_004f: call void [mscorlib]System.Console::WriteLine
(class System.String, class System.Object)
IL_0054: ldloca.s theStruct
IL_0056: box myStruct
IL_005b: stloc.1
IL_005c: ldloc.1
IL_005d: ldc.i4.4
IL_005e: callvirt instance void IStorable::set_status(int32)
IL_0063: ldstr “Changed interface”
IL_0068: call void [mscorlib]System.Console::WriteLine
(class System.String)
IL_006d: ldstr “theStruct.Status: {0}, isTemp: {1}”
IL_0072: ldloca.s theStruct
IL_0074: call instance int32 mySystem::get_status()
IL_00c1: ldloca.s V_2
IL_00c3: box [mscorlib]System.Int32
IL_00c8: call void [mscorlib]System.Console::WriteLine
(class System.String, class System.Object, class System.Object)
IL_00cd: ret
} // end fo method Tester::Main
Trong dòng lệnh IL_00b, giá trị của status được thiết lập thông qua việc gọi đối tượng giá trị.
Tiếp theo chúng ta thấy lệnh gọi thứ hai ở dòng IL_0017. Lưu ý rằng việc gọi WriteLine() dẫn
đến việc boxing một giá trị nguyên để phương thức GetString của lớp object được gọi.
Điều muốn nhấn mạnh là ở dòng lệnh IL_0056 khi một cấu trúc myStruct đã được boxing.
Việc boxing này tạo ra một kiểu dữ lịêu tham chiếu cho tham chiếu giao diện. Và điều quan
trọng là ở dòng IL_005e lúc này IStorable::set_status được gọi chứ không phải là
myStruct::setStatus.
Điều quan trọng muốn trình bày ở đây là khi chúng ta thực thi một giao diện với một kiểu giá
trị, phải chắc chắn rằng truy cập các thành viên của giao diện thông qua đối tượng hơn là
thông qua một tham chiếu giao diện.
Câu hỏi và trả lời
Câu hỏi 1: So sánh giữa lớp và giao diện?
Trả lời 1: Giao diện khác với lớp ở một số điểm sau: giao diện không cung cấp bất cứ sự
thực thi mã nguồn nào cả. Điều này sẽ được thực hiện tại các lớp thực thi giao diện. Một
giao diện đưa ra chỉ để nói rằng có cung cấp một số sự xác nhận hướng dẫn cho những điều
gì đó xảy ra và không đi vào chi tiết. Một điều khác nữa là tất cả các thành viên của giao
diện được giả sử là public ngầm định. Nếu chúng ta cố thay đổi thuộc tính truy cập của
thành viên trong giao diện thì sẽ nhận được lỗi.
Giao diện chỉ chứa những phương thức, thuộc tính, sự kiện, chỉ mục. Và không chứa dữ liệu
thành viên, bộ khởi dựng, và bộ hủy. Chúng cũng không chứa bất cứ thành viên static nào cả.
Thực Thi Giao Diện
207
.