Khảo sát nhu cầu đào tạo của các tổ chức xã hội nhân sự - Pdf 19

Kho sát Nhu cu ào To
ca các T Chc Xã Hi Dân S:

Phát Trin T Chc và Huy ng s Tham gia ca
Cng ng Xây Dng Chính Sách  Vit Nam

D Án “Nâng Cao Nng Lc Cho Các T Chc Xã Hi Dân S
Tham Gia Vào Quá Trình Xây Dng Chính Sách  Vit Nam”
HÀ NI, THÁNG 11 NM 2008 Báo cáo được Quỹ Châu Á hoàn thành với sự đóng góp của TS. Nguyễn Thị Thu, tư vấn
độc lập; TS. Vương Thị Hanh và Ngô Thu Hà, Trung tâm Hỗ trợ Giáo dục và Nâng cao
Năng lực cho Phụ nữ (CEPEW); GS. Lê Thạc Cán và Nguyễn Đức Tùng, Viện Môi trường
và Phát triển Bền vững (VESDI); và Đặng Thanh Thảo và Dương Thị Nga, Viện Nghiên
cứu Xã hội (ISS). i
Mục lục

Tóm tắt báo cáo................................................................................................................................. iv

Phần 1. Giới thiệu................................................................................................................................1



2.1.Thực trạng năng lực của đội ngũ cán bộ các VNGO.......................................................................18

2.2. Công tác đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ các VNGO.........................................20

3. Thực trạng năng lực của các VNGO trong công tác vận động chính sách và huy động cộng đồng
tham gia xây dựng chính sách......................................................................................................................... 22

3.1. VNGOs với việc tham gia vận động chính sách ..............................................................................22

3.2. Ý kiến của các VNGO nhằm nâng cao hiệu quả công tác vận động chính sách ......................28

3.3. Một số khoá tập huấn về phát triển tổ chức và vận động chính sách đã thực hiện..................29

4. Nhu cầu đào tạo của các VNGO............................................................................................................... 30

4.1. Nhu cầu đào tạo - chủ đề đào tạo.......................................................................................................30

4.2. Ý kiến của các VNGO về công tác tổ chức đào tạo........................................................................ 31

5. Đánh giá chung về năng lực và công tác nâng cao năng lực của các VNGO tham gia khảo sát.. 32

5.1. Về năng lực và nâng cao năng lực trong lĩnh vực củng cố và phát triển tổ chức .....................32

5.2. Về năng lực và nâng cao năng lực trong lĩnh vực vận động chính sách................................... 34

5.3. Đề xuất nhằm nâng cao năng lực cho các tổ chức VNGO trong công tác PTTC và VĐCS ... 35

Phụ lục .................................................................................................................................................43


Bảng 7: Sự quan tâm của các VNGO đến công tác vận động chính sách................................23
Bảng 8: Nhu cầu đào tạo của các VNGO trong khuôn khổ nghiên cứu...................................30
Bảng 9: Kế hoạch đào tạo.........................................................................................................41
iii
Các từ viết tắt

CDG Nhóm Hợp tác Phát triển
CIFPEN Nhóm các Tổ chức Xã hội Dân sự vì An ninh Lương thực và Giảm nghèo
GENCOMNET Nhóm Giới và Phát triển Cộng đồng
INGO Tổ chức phi chính phủ quốc tế
LHHVN Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
MFWG Nhóm Công tác Tài chính Vi mô Việt Nam
PTCĐ Phát triển cộng đồng
PTTC Phát triển tổ chức
TOT Đào tạo huấn luyện viên
VĐCS Vận động chính sách
VNGO Tổ chức phi chính phủ Việt Nam
VNGOG Nhóm các tổ chức phi chính phủ Việt Na
m
VNWP Mạng lưới Cộng tác vì Nước của Việt Nam
VRN Mạng lưới về Sông ngòi và Phát triển Bền vững Việt Nam

tổ chức phi chính phủ về kỹ năng huy động cộng đồng tham gia hiệu quả trong quá trình xây
dựng ch
ính sách và ra quyết định; và (iii) Tăng cường sự liên kết giữa các tổ chức phi chính
phủ với Quốc hội.
Báo cáo đánh giá khảo sát này là một trong những hoạt động đầu tiên do Quỹ Châu Á tiến
hành phối hợp với ba tổ chức tại Việt Nam (Viện nghiên cứu xã hội – ISS; Viện Môi trường
và Phát triển bền vững – VESDI; và Trung tâm Hỗ trợ Giáo dục và Nâng cao năng lực cho
phụ nữ – CEPEW) làm tiền đề cho việc xây dựng
chương trình đào tạo trong khuôn khổ dự án
cho các VNGO về lĩnh vực quản trị nội bộ và vận động chính sách. Báo cáo được chia làm
bốn phần. Phần 1 giới thiệu chung. Phần 2 nêu ra bối cảnh bao gồm môi trường chính sách
liên quan đến các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam và nhu cầu hỗ trợ nâng cao năng lực của
các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam. Phần 3 giới thiệu phương pháp khảo sát
với đối tượng
khảo sát được lựa chọn từ hai loại hình tổ chức xã hội dân sự là các tổ chức phi chính phủ của
Việt Nam thành lập theo Nghị định 81 và các tổ chức Hội thành lập theo Nghị định 88.
Phương pháp khảo sát áp dụng là thu thập và nghiên cứu tài liệu có sẵn, sử dụng bảng câu hỏi,
và phỏng vấn trực tiếp. Phần 4 tổng hợp kết quả khảo sát đán
h giá và đưa ra các kiến nghị.
Kết quả đánh giá khẳng định những thông tin đã được dự đoán trước và cũng cung cấp một số
thông tin mới hữu ích cho hoạt động đào tạo tiếp theo của dự án. Dưới đây là một số kết quả
đáng chú ý:
1) Thực trạng tổ chức và trình độ của các VNGO trong việc củng cố và phát triển tổ
chức:
• Hầu hết các VNGO
đang trong tình trạng khó khăn về cơ sở vật chất và trang thiết bị.
Khoảng 80% số tổ chức khảo sát phải đi thuê văn phòng, số tổ chức còn lại dùng nhà
riêng để hoạt động bởi không có kinh phí để thuê nhà.
• Số lượng các VNGO mới thành lập trong vòng 10 năm trở lại đây chiếm 68,2% trong
tổng số tổ chức khảo sát (55/79), phản ánh sự gia tăng mạnh

quan trọng nhưng cũng rất thách thức đối với đại đa số các VNGO hiện nay, bằng
chứng
là 50% lãnh đạo được phỏng vấn cho rằng họ mới hoàn thành nhiệm vụ này ở
mức độ 3 (tức là hoàn thành hơn một nửa nhiệm vụ), và chỉ khoảng 30% đánh giá ở
mức độ 4 (có thể hoàn thành toàn bộ nhiệm vụ nhưng mất nhiều thời gian) và mức độ
5 – mức độ cao nhất chỉ chiếm 20% (có thể hoàn thành nhiệm vụ theo yêu cầu đặt ra).
• Trong khi đó, thách thức đối với các
cán bộ dự án lại nằm ở nhiệm vụ viết đề xuất dự
án với khoảng 40% cán bộ được hỏi cho rằng mình chỉ hoàn thành nhiệm vụ này ở
mức độ 1 hoặc 2 (tức là không thể hoàn thành bất kỳ một phần nào của công việc hoặc
chỉ hoàn thành một nửa nhiệm vụ).
• Mặc dù nhận thức rất rõ tầm quan trọng của công tác đào
tạo nâng cao năng lực cho
cán bộ, các VNGO vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc cử cán bộ đi tham dự các khóa
tập huấn, phần vì nguồn tài chính hạn chế, phần vì công việc nhiều, địa bàn hoạt động
ở nơi vùng sâu vùng xa. Trên 30% số tổ chức được khảo sát trả lời rằng chưa được
tham gia bất kỳ khoá học nào, tập trung ở các VNGO mới thành lập và ở các VNGO
khảo sát tại TP.Huế và
TP.Hồ Chí Minh. Trong số các tổ chức đã từng được tham gia
các khoá học, trên 70% số tổ chức trả lời chưa được tham gia các khoá học về lĩnh vực
phát triển tổ chức và vận động chính sách.
3) Thực trạng năng lực của các VNGO trong công tác vận động chính sách và huy động
cộng đồng tham gia xây dựng chính sách
• Vận động chính sách tuy nhìn từ góc độ lý luận còn là một khái niệm khá mới mẻ
song trên thực tế đã tồn tại từ kh
á lâu như một biểu hiện tất yếu của xã hội. 68,3% số
tổ chức được hỏi trả lời có quan tâm đến công tác vận động chính sách, và trên thực tế,
đã có những VNGO chính thức tham gia vào việc xây dựng các luật, quy định quan
ngày/đợt là tối đa, vì lãnh đạo bận nhiều việc không thể tham gia lâu hơn, trong khi
đối với cán bộ, thời gian học tối đa là 4 ngày/đợt; về phương pháp đào tạo, nên dành
nhiều thời gian cho thực hành, thông qua làm bài tập và thảo luận nhóm, với các mô
hình nghiên cứu điển hình gần gũi với người học, cộng thêm
hỗ trợ kinh phí sau tập
huấn cho hoạt động tiếp theo để áp dụng kiến thức vào thực tế; mỗi lớp học không nên
quá 30 học viên.
Căn cứ vào kết quả của hoạt động đánh giá nhu cầu đào tạo, nhóm nghiên cứu đưa ra một số
đề xuất nhằm nâng cao năng lực cho các tổ chức VNGO trong công tác phát triển tổ chức và
vận động chính sách như sau: tạo ra môi trường chính sách thuận lợi để tăng cường tổ chức
V
NGO và nâng cao năng lực cho các VNGO thông qua đào tạo. Nhóm nghiên cứu cũng đề
xuất một chương trình đào tạo về lĩnh vực phát triển tổ chức và vận động chính sách trong
khuôn khổ của dự án cho giai đoạn tiếp theo. 1
Phần 1. Giới thiệu
Nhiều thập kỷ qua, nhà nước phổ biến thông tin, chính sách, cung cấp các dịch vụ kinh tế xã
hội cơ bản, cũng như tham vấn ý kiến công chúng qua hệ thống các tổ chức chính trị xã hội
thuộc Mặt trận Tổ quốc như: Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội
Cựu chiến binh, và Liên đoàn Lao động. Mặc dù hệ thống các tổ chức chính trị xã hội vẫn
đóng vai trò quan trọng trong việc tu
yên truyền và phổ biến thông tin, chính sách và cung cấp
các dịch vụ đến đông đảo người dân, các tổ chức này chưa thực sự hiệu quả trong việc tăng
trách nhiệm giải trình về quản trị nhà nước. Các tổ chức này cũng chưa thực sự năng động
trong việc tham vấn và tập hợp ý kiến người dân trong quá trình hoạch định và xây dựng

hợp tác, phối hợp và liên kết hiệu quả giữa các tổ chức XHDS và các tổ chức quần chúng vì
sự phát triển bền vững của đất nước.
Nhận thức được vai trò to lớn cũng như những khó khăn t
hách thức của các tổ chức XHDS
Việt Nam, Quỹ Châu Á đang phối hợp với Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
(LHHVN) và một số tổ chức liên quan khác thực hiện dự án “ Nâng cao năng lực cho các tổ
chức xã hội dân sự tham gia vào quá trình xây dựng chính sách ở Việt Nam” trong thời gian 3
năm nhằm hướng tới 3 mục tiêu: (i) Tăng cường kỹ năng quản trị nội bộ các tổ chức p
hi
chính phủ và xây dựng mạng lưới liên kết các tổ chức này; (ii) Xây dựng năng lực cho các tổ
chức phi chính phủ về kỹ năng huy động cộng đồng tham gia hiệu quả trong quá trình xây
dựng chính sách và ra quyết định; và (iii) Tăng cường sự liên kết giữa các tổ chức phi chính
phủ với Quốc hội. 1
Nordlund, Irene và Đặng Ngọc Dinh. “Đánh giá ban đầu về xã hội dân sự tại Việt Nam.” CIVICUS, VIDS,
SNV, và UNDP (Tháng 3 năm 2006). 2
Để đạt được các mục tiêu trên, Quỹ Châu Á sẽ tiến hành những hoạt động sau:
• Thiết lập một hệ thống dữ liệu về các tổ chức phi chính phủ của Việt Nam và đánh giá
nhu cầu nâng cao kỹ năng quản trị nội bộ và kỹ năng vận động chính sách, huy động
sự tham gia của cộng đồng trong việc hoạch định chính sách ở Việt Nam của các tổ
chức phi chính phủ Việt Na
m.
3
Phần 2. Bối cảnh
1. Môi trường chính sách liên quan đến các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam
Từ cuối những năm 1986, quyết định đi theo con đường phát triển và tăng trưởng theo định
hướng thị trường của Việt Nam đã dẫn tới một số cải cách về thể chế và môi trường pháp lý
liên quan đến phát triển kinh tế và khu vực kinh tế tư nhân. Giai đoạn phát triển mới của Việt
Nam trong điều k
iện cạnh tranh toàn cầu đòi hỏi những bước cải cách thể chế mạnh hơn nữa
để tăng cường đổi mới đưa ra các giải pháp đúng đắn để tận dụng các cơ hội và đối đầu với
thách thức nhằm duy trì tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội. Một xã hội muốn phát triển
được phải dựa vào sự phát triển của ba khu vực Xã Hội D
ân Sự (XHDS), khu vực Nhà Nước,
và khu vực thị trường.
2
Nếu xã hội dân sự được phát triển trong mối quan hệ hài hòa với nhà
nước và thị trường thì sẽ làm tăng sức mạnh quốc gia.
3

Xã hội dân sự hiện đang là vấn đề được cả giới nghiên cứu khoa học lẫn các nhà hoạch định
chính sách quan tâm. Khái niệm "xã hội dân sự” xuất hiện khá sớm ở Châu Âu. Các định
nghĩa phổ biến về "xã hội dân sự” hiện nay đều nhấn mạnh tới tinh thần tự nguyện của công
dân trong việc bảo vệ các quyền lợi hợp pháp và giá trị của mình
4
. Chính vì vậy những đặc
điểm cơ bản nổi bật của các tổ chức XHDS là (i) được tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc tự

Đoàn Thanh Liêm. “Xã hội Dân sự: Đối tác và Đối trọng của Nhà nước.” Đàn Chim Việt (28 tháng 8 năm
2008).
3
Lê Bạch Dương. “Xã hội Dân sự khỏe, Nhà nước khỏe.” Xa lộ Tin tức (23 tháng 4 năm 2008).
4
Bùi Quang Dũng. “Xã hội Dân sự - Khái niệm và các vấn đề”. Tạp chí Triết học (15 tháng 4 năm 2007).
5 Nguyễn Mạnh Cường. “Sổ tay hướng dẫn thành lập và quản trị các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam.” 2008.
6
Nguyễn Mạnh Cường. “Sổ tay hướng dẫn thành lập và quản trị các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam.” 2008. 4
vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách phát triển đất nước, giám sát việc thực hiện và
thực hiện phản biện xã hội
7
.
Thực tiễn cho thấy, các tổ chức XHDS ở Việt Nam đã xuất hiện từ rất sớm. Tuy nhiên, chỉ từ
sau khi thực hiện công cuộc đổi mới 1986, cùng với sự đổi mới về kinh tế là sự phát triển
trong lĩnh vực xã hội, đặc biệt từ nửa đầu thập niên 1990 đến nay các tổ chức xã hội dân sự
không ngừng gia tăng về sức mạnh và tổ chức. Ở Việt Na
m, cho đến nay, mặc dù các văn
kiện Đảng và Nhà nước chưa trực tiếp nêu khái niệm “xã hội dân sự” hay “xã hội công dân”,
song trên thực tế, ở mức độ nhất định, Đảng và Nhà nước đã bước đầu chú ý đến việc xây
dựng các thể chế và cơ sở pháp lý của xã hội dân sự. Ngay từ giai đoạn đầu của công cuộc đổi
mới, hàng loạt những chính sách của Đảng và n
hà nước đã khuyến khích sự ra đời của các
loại hình tổ chức. Nghị quyết 8B-NQ/HNTW (khoá VI) Đảng đã nêu rõ: "trong giai đoạn mới

(xin xem chi tiết dưới đây).
8

A. Các tổ chức xã hội dân sự theo Nghị định 81/TTg-2002
Các tổ chức XHDS ở Việt Nam được thành lập và hoạt động theo Nghị định 81/2002/NĐ-CP,
là loại hình tổ chức phi chính phủ, không có thành viên, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực
khoa học và công nghệ. Theo dữ liệu hiện có, có 222 tổ chức đăng ký dưới dạng này tại Việt
Nam (xem thêm Phụ lục 6: Danh sách các VNGO đăng ký theo Nghị định 81). Vì mục tiêu
phục vụ cho xã hội v
à cộng đồng, nên theo quy định hiện hành, các tổ chức này được hưởng
một số các ưu đãi của nhà nước như sau: 7 Nguyễn Ngọc Lâm. “Hoạt động của các tổ chức nhân dân ở Việt Nam.” SIDA (Tháng 8 năm 2008).

8
Nguyễn Mạnh Cường. “Sổ tay hướng dẫn thành lập và quản trị các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam.” 2008. 5
• Miễn thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các khoản thu lấy từ
ký kết các hợp đồng khoa học công nghệ, từ việc thực hiện đề tài dự án.
• Không chịu thuế nhập khẩu đối với việc nhập khẩu máy móc thiết bị tài liệu mà trong
nước không làm được.
• Ưu đãi tín dụng khi vay đầu tư khoa học và công nghệ từ Quĩ hỗ trợ ph
át triển.
• Ưu đãi tiếp cận và sử dụng các nguồn vốn hỗ trợ chính thức (ODA).

gọi khác theo quy định của pháp luật. Các hội thành lập theo nghị định này có các quyền lợi
sau:
• Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội và hội vi
ên.
• Tổ chức, phối hợp hoạt động giữa các hội viên vì lợi ích chung của hội; hoà giải tranh
chấp trong nội bộ hội.
• Phổ biến, huấn luyện kiến thức cho hội viên; cung cấp thông tin cần thiết cho hội viên
theo quy định của pháp luật. 6
• Tư vấn, phản biện các vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của hội theo đề nghị của các tổ
chức, cá nhân. Các hội có thể liên kết với các hội khác và dưới sự hỗ trợ của LHHVN
để tiến hành các đề tài nghiên cứu và phản biện xã hội đa ngành.
• Tham gia ý kiến vào các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến nội dung hoạt
động của hội theo qui định của ph
áp luật. Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đối với các vấn đề liên quan tới sự phát triển hội và lĩnh vực hội hoạt động.
• Được gây quĩ hội trên cơ sở hội phí của hội viên và các nguồn thu từ hoạt động kinh
doanh, dịch vụ theo quy định của pháp luật để tự trang trải về kinh phí hoạt động.
• Được nhận các nguồn tài trợ hợp p
háp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
theo quy định của pháp luật.
• Hội có phạm vi hoạt động cả nước hoặc liên tỉnh được gia nhập làm hội viên của các
hội quốc tế và khu vực theo quy định tại Nghị định số 20/2002/NĐ-CP ngày
20/02/2002 của Chính phủ về ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế của các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương, các tổ chức ch

Cùng với những chính sách tạo điều kiện cho các tổ chức VNGO ra đời và hoạt động với số
lượng lớn, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích sự tham gia của người dân 7
cũng như tổ chức xã hội vào các hoạt động phát triển của cộng đồng. Nghị định dân chủ ở cơ
sở năm 1998 và được sửa đổi bổ sung thành Pháp lệnh Dân chủ cơ sở năm 2003 đã thực sự
khuyến khích và tạo cơ hội cho người dân và các tổ chức xã hội tham gia ngày càng nhiều vào
quá trình ra quyết định ở cấp cơ sở. Nhờ có pháp lệnh này, người dân đã tham gia giám sát

c hoạt động của cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước ở cấp cơ sở.
Chiến lược phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 đã bắt đầu khuyến
khích sự tham dự của người dân trong mọi mặt đời sống kinh tế chính trị và xã hội. Khẩu
hiệu: “Dân biết, dân bàn, dân làm, và dân kiểm tra" đã dần dần có tác động đến hệ thống kinh
tế chính trị xã
hội ở từng cấp độ khác nhau. Các cơ hội cho người dân thông qua các tổ chức
xã hội dân sự tham gia cung cấp dịch vụ công và phản biện chính sách dần dần được mở ra.
Quyết định 22/TTG/2002 cho phép LHHVN được quyền tư vấn phản biện và giám định xã
hội các dự án và các chính sách của Nhà nước, các tổ chức thành viên của LHHVN cũng được
hưởng các quyền theo quyết định này
9
.
Trong việc chuyển tải kiến thức và kỹ thuật (ví dụ: cách làm ăn mới) đến người dân, các tổ
chức XHDS và một số Hội đã có những hoạt động rất gần gũi dân. Tuy nhiên trên thực tế,
hoạt động của các hội này mới giới hạn trong chừng mực nhất định, trong khi họ có nhiều
tiềm năng trí tuệ, khả năng tổ chức quản lý điều hà
nh, có nhiều mối quan hệ đối nội và đối

Nguyễn Mạnh Cường. “Sổ tay hướng dẫn thành lập và quản trị các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam.” 2008. 8
VNGO đang phải đối mặt và thảo luận các phương thức để các bên liên quan hỗ trợ tạo dựng
môi trường thuận lợi cho các VNGO và mạng lưới của họ, đồng thời tăng cường năng lực của
các tổ chức này. Hội nghị đồng thuận rằng các VNGO đóng vai trò quan trọng như những lực
lượng hoạt động tăng cường cho Chính phủ và thị trường, đặc biệt trong lĩnh vực cung cấp
dịch vụ.
Nghiên cứu mới đây do Bùi Thế Cường và Thaveeporn Vasavakul (tháng 11 năm 2008) thực
hiện cho Cơ quan Hợp tác và Phát triển Thuỵ Sỹ (SDC), tên tạm dịch là “Cơ chế chính thức
cho đối thoại giữa các cơ quan Nhà nước, Quốc hội, và các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam”,
đã chỉ ra rằng các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam không thoả mãn được các tiêu chí của các
tổ chức phi chính phủ trong khái niệm của xã hội dân sự. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu nhận
thấy vai trò tiềm năng của các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam và coi những điểm còn thiếu
sót này là cơ sở để thoả hiệp giữa các tổ chức xã hội dân sự với Nhà nước, cũng như giữa các
tổ chức xã hội dân sự với nhau. Nghiên cứu lý luận rằng việc ứng dụng khuôn khổ pháp lý
chính là nền tảng cho việc hiện thực hoá cơ chế đối thoại, mà điều này lại phụ thuộc chủ yếu
vào việc các cơ quan Chính phủ và Quốc hội nhìn nhận về các tổ chức xã hội dân sự và vai trò
của các tổ chức này như thế nào, cũng như việc các tổ chức xã hội dân sự tận dung cơ chế sẵn
có cho mục đích đối thoại ra sao. Nghiên cứu cho biết các cơ quan Chính phủ về cơ bản vẫn
chưa sử dung triệt để cơ chế đối thoại trong trao đổi với các tổ chức xã hội dân sự. Trong khi
đó, các tổ chức xã hội dân sự hiện vẫn còn yếu về năng lực nội tại cũng như khả năng kết nối
với các tổ chức/mạng lưới có cùng mối quan tâm để tăng cường tiếng nói của mình. Báo cáo
đưa ra năm nhóm vấn đề chủ yếu trong cơ chế đối thoại giữa các cơ quan Chính phủ, Quốc
hội, và các tổ chức xã hội dân sự, cũng là những khoảng trống cho các đề xuất hỗ trợ của
SDC.

9
đẳng hơn đối với các tổ chức XHDS, giữa các tổ chức quần chúng với các tổ chức VNGO và
khuyến khích các VNGO tham gia nhiều hơn nữa vào việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội của đất nước. Đối với các nhà tài trợ và tổ chức phi chính phủ quốc tế (INGO) nên
hỗ trợ việc thiết lập mạng lưới VNGO và tận dụng các VNGO nhiều hơn nữa để thực hiện các
chương trình phát triển thông qua việc nâng cao năng lực và phát triển tổ chức thông qua đào
tạo và đánh giá nhu cầu của tổ chức và đối thoại với các tổ chức VNGO.
Các tổ chức XHDS nên tích cực hơn trong việc tăng cường giải trình, minh bạch và tính hợp
pháp với tư cách là đại diện của nhân dân, tận dụng các cơ hội sẵn có để thiết lập mạng lưới
và hợp tác tốt hơn giữa các tổ chức và với các nhà tài trợ, các INGO, xây dựng mối liên kết cụ
thể với cộng đồng ở cấp cơ sở. Nói một cách khác, để phát huy vai trò của mình cùng với sự
hỗ trợ của chính phủ, nhà tài trợ và các INGO, VNGO cần phải tăng cường năng lực tổng thể
nội bộ của tổ chức, xây dựng những chiến lược dài hạn với tầm nhìn rõ ràng hơn, chú trọng
tập trung vào phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng.
Việc thành lập Viện Nghiên cứu Xã hội (ISS) năm 2008 là điều kiện thuận lợi để tăng cường
năng lực cho các VNGO, qua đó các nhà tài trợ và các INGO có thể cung cấp tài chính và kỹ
thuật nhằm hỗ trợ cho việc tăng cường năng lực cho các VNGO. Các tổ chức này trước hết
cần tăng cường năng lực về quản trị điều hành nội bộ để có thể tiến hành các hoạt động hiệu
quả trong những lĩnh vực của mình và về lâu dài có đủ khả năng tham gia vào quá trình hoạch
định chính sách ở Việt Nam.
Khảo sát đánh giá này được thực hiện với sự hợp tác và hỗ trợ của Viện ISS và một số tổ chức
phi chính phủ khác, nhằm xác định nhu cầu đào tạo của các tổ chức XHDS, đồng thời cung
cấp một số thông tin và dữ liệu ban đầu về các tổ chức XHDS tại Việt Nam, các mạng lưới
VNGO hiện có đang hoạt động với mục đích phát triển của Việt Nam.
Đánh giá chú trọng đến nhu cầu đào tạo từ phía các VNGO liên quan đến phát triển tổ chức và
vận động chính sách. Dựa trên các thông tin và dữ liệu cơ bản ban đầu này, ISS sẽ tiếp tục
tiến hành thu thập thêm thông tin số liệu cần thiết khác để có thể có một cơ sở dữ liệu hoàn
chỉnh hơn về các tổ chức XHDS tại Việt Nam. Đặc biệt, ISS sẽ tiến hành xây dựng một danh
mục các tổ chức VNGO đang hoạt động tích cực và hiệu quả trong các lĩnh vực như đã đăng
ký. Việc xây dựng danh mục này tạo điều kiện cho các tổ chức hoạt động trong các lĩnh vực

Về tổ chức
: Dựa vào danh sách các tổ chức XHDS đăng ký theo ba loại hình như đã nêu ở
phần 2.1., nhóm đánh giá thống nhất chọn các tổ chức đăng ký hoạt động trong các lĩnh vực
liên quan đến: giáo dục, đào tạo và y tế; khoa học và công nghệ; môi trường và tài nguyên;
kinh tế xã hội (theo Nghị định 53/2006/NĐ/CP). Theo đó, khảo sát tập trung vào 2 loại hình
tổ chức XHDS, bao gồm: (i) Các tổ chức phi chính phủ của Việt Nam thành lập theo Nghị
định 81 (trước đây
là Nghị định 35). Các tổ chức này chủ yếu cung cấp dịch vụ công, vận
động tài trợ. Hầu hết các tổ chức thuộc nhóm này mới ra đời còn non trẻ so với các nhóm
XHDS khác vì vậy rất cần được quan tâm, đặc biệt là nâng cao năng lực thông qua đào tạo,
liên kết mạng lưới để có thể đáp ứng được vai trò trong tình hình mới. Đây cũng là một lý do
các tổ chức này được lựa chọn để tiến hành khảo s
át; và (ii) Một số tổ chức Hội thành lập theo
Nghị định 88, chỉ tập trung vào một số Hội đảm bảo các tiêu chí đã nêu trên và đặc biệt có
hoạt động gần giống tổ chức phi chính phủ.
Dựa trên danh sách các Hội và các VNGO đã thu thập được, nhóm đã lựa chọn ra 110 tổ chức
và tiến hành gửi công văn đề nghị hợp tác kèm theo phiếu điều tra. Các tổ chức đư
ợc lựa chọn
có văn phòng đóng tại 3 thành phố lớn: Hà Nội, Huế, TP HCM và một số tỉnh như: Hà Tây
(nay thuộc Hà Nội), Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Cạn và Thái Nguyên
(Danh sách các đơn vị tham gia khảo sát và phỏng vấn trong phụ lục 2).
Với mỗi tổ chức, nhóm khảo sát tiến hành phỏng vấn trực tiếp cá nhân 01 cán bộ lãnh đạo và
01 cán bộ phụ trách chương trình/ dự án. Phỏng vấn trực tiếp được t
iến hành tại: Tp Hà Nội
đại diện cho khu vực phía Bắc, Tp. Huế đại diện cho khu vực miền Trung, và Tp. Hồ Chí
Minh đại diện cho khu vực phía Nam cùng với các đơn vị có phản hồi khi khảo sát qua bảng
hỏi.

Thu thập và nghiên cứu tài liệu có sẵn
: Nhóm nghiên cứu đã thu thập các báo cáo nghiên cứu
về XHDS Việt Nam, các báo cáo về hoạt động vận động chính sách từ các nhóm, mạng lưới
VNGO, danh sách các VNGO và các Hội hiện có từ các Liên hiệp hội, Hội, Bộ, Ngành, tỉnh,
các tài liệu hướng dẫn, các tài liệu đào tạo liên quan, các tài liệu tham khảo trên Internet liên
quan đến nội dung khảo sát.
Bảng câu hỏi (phiếu điều tra):
Bộ bảng hỏi được xây dựng căn cứ vào mục tiêu và nội dung
cần khảo sát và thu thập thông tin, ngoài ra tham khảo một số mẫu bảng hỏi từ một số nghiên
cứu khảo sát nhu cầu đào tạo của hợp phần nâng cao năng lực cho các VNGO thuộc dự án
“Nâng cao hiệu quả hợp tác và học hỏi các tổ chức phi chính phủ Việt Nam – ENABLE“.
Bảng câu hỏi được xây dựng cho 2 nhóm đối tượng: (i) năng lực của tổ chức: sử dụng mẫu
phiếu số 1 điều t
ra về năng lực tổ chức của các VNGO; (ii) năng lực cá nhân: sử dụng mẫu
phiếu số 2 điều tra năng lực của cán bộ lãnh đạo, cán bộ dự án trong các VNGO. Phiếu điều
tra gửi tới 110 tổ chức đã được lựa chọn tham gia khảo sát. Tuy nhiên chỉ có 79 tổ chức phản
hồi ý
kiến bằng phiếu (phỏng vấn trực tiếp được tiến hành với các cán bộ và lãnh đạo của 79
tổ chức này), 31 tổ chức còn lại không có sự phản hồi, mặc dù nhóm nghiên cứu đã cố gắng
liên hệ (nội dung các mẫu phiếu trong bộ bảng hỏi tại phụ lục 3).
Phỏng vấn
: Phỏng vấn được tiến hành tại 79 tổ chức với 2 nhóm đối tượng: Cán bộ lãnh đạo
và cán bộ chương trình/dự án của các tổ chức (nội dung hướng dẫn phỏng vấn trong phụ lục
3). Tại 79 tổ chức, nhóm phỏng vấn 75 Giám đốc/Phó Giám đốc các Trung tâm, Viện trưởng/
Viện phó các Viện và Chủ tịch/Phó chủ tịch các Hội, và 56 cán bộ phụ trách chương trình và
Phụ nữ Dân tộc - TEW). Trong số các VNGO khảo sát ước khoảng 80% số tổ chức phải đi
thuê văn phòng, số tổ chức còn lại dùng nhà riêng để hoạt động bởi không có kinh phí để thuê
nhà. Do phải đi thuê trong khi nguồn kinh phí có hạn, các tổ chức này phải làm việc trong
không gian tương đối chật chội. Bất chấp điều kiện
khó khăn đó, các VNGO đã rất cố gắng
đầu tư những trang thiết bị thiết yếu như máy vi tính kết nối mạng, điện thoại, máy fax và bàn
ghế làm việc phục vụ cho hoạt động của tổ chức. Tất cả các tổ chức tham gia khảo sát và
phỏng vấn đều có máy tính và kết nối internet (có địa chỉ thư điện tử).
Về thông tin liên lạc giữa các tổ chức X
HDS, mặc dù hầu hết các tổ chức công bố thông tin về
các hoạt động của mình, nhưng những trao đổi và liên lạc giữa các tổ chức vẫn chưa thực sự
phát triển. Trên thực tế đã có sự hợp tác giữa các tổ chức XHDS về những vấn đề quan tâm
chung (ví dụ: về bình đẳng giới và về phòng chống bạo lực trong gia đình). Tuy nhiên các liên
lạc và trao đổi thường xuyên của cá
c tổ chức này vẫn ở mức thấp. Hình thức trao đổi thông tin
qua e-mail, websites vẫn còn rất hạn chế và ít được sử dụng, trừ khi có sự hỗ trợ của các tổ
chức quốc tế (ví dụ: Mạng lưới giới và Phát triển Cộng đồng - GENCOMNET). Các hoạt
động trao đổi thông tin và hợp tác diễn ra thường không được duy trì thường xuyên sau khi
kết thúc hỗ trợ từ bên ngoài. Thực trạng này đến nay chưa được cải th
iện.
Tuy số lượng các VNGO được lựa chọn nghiên cứu hoàn toàn ngẫu nhiên và chỉ chiếm một tỷ
lệ nhỏ so với số lượng VNGOs hiện có nhưng số liệu bảng 1 dưới đây, cho chúng ta thấy số
lượng các VNGO mới thành lập trong vòng 10 năm trở lại đây chiếm 68,2% trong tổng số tổ
chức khảo sát (55/79). Kết quả này phản ánh một thực tế trong những năm gần đây số lượng

các tổ chức VNGO gia tăng mạnh mẽ và điều này cũng hoàn toàn phù hợp với nhận định của
một số nghiên cứu trước đây.
Bảng 1: Lịch sử của tổ chức và hiện trạng sử dụng trang web
Đơn vị tính: %


trang web, thiết kế tờ rơi, v.v. để giới t
hiệu tổ chức, báo cáo kết quả hoạt động cũng như chia
sẻ thông tin với các tổ chức khác chưa được các VNGO quan tâm đúng mức.
Về cơ cấu tổ chức, các VNGO tham gia khảo sát được tổ chức theo 2 mô hình sau:
A) Mô hình có phòng ban
: bao gồm Ban giám đốc, dưới là các phòng, ban hoặc bộ phận.
Mỗi phòng, ban, bộ phận được bố trí sắp xếp từ 2 - 10 cán bộ tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ
của mỗi bộ phận được giao. Các VNGO theo mô hình này có từ 2 - 5 phòng ban, trong đó 2
phòng không thể thiếu được trong cơ cấu tổ chức là phòng hành chính kế toán và phòng quản
lý chương trình dự án. Ngoài 2 phòng ban trên, một số VNGO thành lập thêm các phòng ban
chức năng khác nhằm đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ và các
hoạt động nghiên cứu, can thiệp của
từng tổ chức (sơ đồ 1).

B) Mô hình không có phòng ban
: Bao gồm Ban giám đốc (có khi chỉ có 01 giám đốc, không
có phó) và bên dưới là các cán bộ chuyên môn theo dõi phụ trách từng lĩnh vực. Cơ cấu tổ
chức theo mô hình này tập trung ở hầu hết các VNGO có quy mô nhỏ chưa phân định thành
nhiều chức năng riêng rẽ. Với mô hình này một cán bộ có thể đảm nhiệm nhiều chức năng
khác nhau (sơ đồ 2).
BAN GIÁM ĐỐC
BỘ PHẬN
TRUYỀN
THÔNG
PHÒNG QUẢN LÝ
CHƯƠNG TRINH
DỰ ÁN
PHÒNG NGHIÊN
CỨU VÀ PHÁT
TRIỂN

6. Y tế, chăm sóc sức khoẻ, người khuyết
tật/HIV/AIDS
21 6 lĩnh vực 4
7. Môi trường, tài nguyên 48 7 lĩnh vực 9
8. Dân số và gia đình 10 8 lĩnh vực 6
9. XĐGN và PTCĐ 55 9 lĩnh vực 0
10. Giới 28 10 lĩnh vực 2
11. Việc làm 9 11 lĩnh vực 1
Không có ý kiến 3

Tổng 79
Từ kết quả tổng hợp tại bảng 2 cho thấy các VNGO hoạt động trên phạm vi rộng bao trùm từ
kinh tế, xã hội, môi trường đến vận động chính sách. Mỗi tổ chức cùng lúc có thể hoạt động
nhiều lĩnh vực khác nhau, chính vì vậy việc phân nhóm các tổ chức VNGOs trong khuôn khổ
nghiên cứu theo lĩnh vực hoạt động gặp khó khăn. Tên gọi của các tổ chức thể hiện sự đa
dạng. Có tới 80% số tổ chức (
61/76) hoạt động từ 3 đến 11 lĩnh vực, trong đó có 1 tổ chức -
Viện Tài chính Vi mô và PTCĐ - hoạt động cả 11 lĩnh vực và 2 tổ chức - Trung tâm Nghiên
cứu và Đào tạo PTCĐ và Tổ chức Phát triển Giáo dục Miền núi - hoạt động trên 10 lĩnh vực
đăng ký. Kết quả phản hồi từ các tổ chức còn cho thấy đại đa số các tổ chức tập
trung vào lĩnh
vực XĐGN và PTCĐ chiếm 72,3% (55/76), tiếp theo là lĩnh vực môi trường và tài nguyên
63,1% (48/76), lĩnh vực nông lâm thuỷ sản 53,9% (41/76), trong khi đó số tổ chức hoạt động
trong lĩnh vực việc làm chiếm tỷ lệ thấp nhất 11,8% (9/76).
Công tác vận động chính sách đã được các VNGO rất quan tâm, thể hiện ở việc có tới 32/76,
chiếm 42,1% số tổ chức đã có hoạt động về lĩnh
vực này. Khi trả lời phỏng vấn một số lãnh
đạo cho rằng đây là hoạt động không thể thiếu được trong 3 nhiệm vụ chủ yếu của bất kỳ tổ
chức VNGO nào, đó là: cung cấp dịch vụ, tăng cường năng lực, xây dựng mạng lưới và vận
BAN GIÁM ĐỐC

có khả năng thu hút được các nguồn lực từ các nhà tài trợ rất lớn. Ví dụ như: Trung tâm Bảo
tồn Sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD), Trung tâm Tổ chức Phát triển Giáo dục
Miền núi (H
EDO), Trung tâm Nghiên cứu Sức khoẻ Cộng đồng và Phát triển (COHED),
Trung tâm Phát triển Nông thôn Miền Trung (CRD - Huế). Hầu hết các tổ chức này đã xây
dựng tầm nhìn, sứ mệnh, và chiến lược rõ ràng ngay từ khi thành lập.
Qua trao đổi trực tiếp với lãnh đạo các VNGO, cho dù tổ chức đó hoạt động ở lĩnh vực nào,
dưới hình thức nào, thì các VNGO đều có sứ mệnh chung là hỗ trợ phát triển cộng đồng, đặc
biệt ưu tiên cá
c nhóm đối tượng là người nghèo, phụ nữ, trẻ em và những nhóm người bị thiệt
thòi trong xã hội để họ có cơ hội phát triển vươn lên. Bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau các
VNGO luôn dành sự ưu tiên cho cấp cơ sở và xây dựng các mối quan hệ hoạt động trực tiếp
với những thành phần xã hội mà họ hỗ trợ.
1.3. Thực trạng nguồn nhân lực của các VNGO
Phải khẳng định rằng n
guồn nhân lực chính là trọng tâm của sự phát triển bởi con người vừa
là động lực của sự phát triển vừa là mục tiêu của sự phát triển. Tuy nhiên khi nói đến nguồn
nhân lực không chỉ là số lượng mà còn biểu hiện ở chất lượng (trình độ chuyên môn, năng lực
thực hiện) của đội ngũ cán bộ trong một tổ chức cụ thể.
Bảng 3: Số lượng và độ tuổi của cán
bộ trong các VNGO
Độ tuổi Số tổ chức
khảo sát Tổng


Ngoài ra mỗi tổ chức đều huy động một đội ngũ cộng tác viên từ 10-30 người là những
chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau
từ các học viện, trường đại học hoặc cán bộ nhà
nước, cán bộ nghiên cứu đã nghỉ hưu. 17
Đội ngũ nhân sự trong các VNGO đang được trẻ hoá. Số cán bộ dưới 30 tuổi chiếm 45,2%,
trong khi đó số cán bộ có độ tuổi >50 chỉ chiếm 23,8%, số cán bộ còn lại có độ tuổi từ 30-50
chiếm 31,6%.
Bảng 4: Trình độ chuyên môn của cán bộ trong các VNGO
Trình độ chuyên môn
Tổng
số
Giáo sư/Phó
Giáo sư
Tiến sĩ

Thạc sĩ Đại học

Cao đẳng/Trung
cấp
969 62 (6,4%) 82 (8,4%) 147 (15%) 573 (59,1%) 105 (11,1%)
Kết quả bảng 4 cho thấy các VNGO đã thu hút được đội ngũ nhân sự có trình độ chuyên môn,

(68%)
19
(25,3%)
16
(21,3%)
40
(53,4%)
9 (12%)

15
(20%)
51
(68%)
Kết quả khảo sát cũng cho thấy độ tuổi của đội ngũ lãnh đạo trong các VNGO rất cao. Không
có người nào dưới 30 tuổi, số lãnh đạo ở độ tuổi từ 30-50 chỉ chiếm 32,0%, trong khi đó tập
trung nhất vẫn là độ tuổi trên 50 chiếm 68%. Đặc biệt, trong số này có tới 16/51 người ở độ
tuổi từ 70 trở lên. Hầu hết lãnh đạo của các VNGO đã có thời gian làm việc lâu năm trong các
tổ chức
XHDS và nắm giữ các cương vị lãnh đạo. Điều này chứng tỏ khả năng vận hành và

Trích đoạn Về năng lực và nõng cao năng lực trong lĩnh vực vận động chớnh sỏch xuất nhằm nõng cao năng lực cho cỏc tổ chức VNGO trong cụng tỏc PTTC và VĐCS
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status