Chuyên đề tốt nghiệp
Kinh tế Bảo hiểm
1
Lời mở đầu
Lý thuyết trò chơi là một lý luận hiện đại về cạnh tranh kinh tế. Nó được
đưa ra lần đầu tiên vào năm 1944 bởi Jonh Von Neumann và Oskar Morgenstern và
được thế hệ sau phát triển thành những lý luận tài tình và khoa học. Nghiên cứu lý
thuyết trò chơi để ứng dụng nó trong những vấn đề của quản lý kinh tế, quản trị
kinh doanh và đặc biệt là việc đưa ra các chiến lược trong cạnh tranh đã trở thành
một vấn đề tất yếu đối với các Doanh nghiệp. Tuy nhiên ở Việt Nam, lý thuyết trò
chơi lại dường như còn khá mới và chưa được nhiều người biết đến, các Doanh
nghiệp còn chưa dành sự quan tâm đúng mực cho lý luận cạnh tranh đầy hữu ích và
hấp dẫn này.
Việt Nam đang bước vào những thời khắc mở cửa quan trọng nhất trong lộ
trình hội nhập kinh tế quốc tế. Cam kết tự do hóa hoàn toàn thị trường bảo hiểm phi
nhân thọ của Việt Nam với tổ chức thương mại thế giới vào đầu năm 2008 đã mở
ra trước mắt các Doanh nghiệp bảo hiểm trong nước những cơ hội và thách thức
lớn. Vấn đề đầu tiên mà họ phải đương đầu khi mở cửa thị trường là sự cạnh tranh
gay gắt với các tập đoàn bảo hiểm lớn của nước ngoài. Nếu không được chuẩn bị
kỹ, các Doanh nghiệp bảo hiểm trong nước, đặc biệt là các Doanh nghiệp bảo hiểm
Nhà nước sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong cạnh tranh, thậm chí có thể đi đến phá
sản do sự yếu kém về năng lực tài chính, về kinh nghiệm, công nghệ quản lý…
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu về cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh
cho các Doanh nghiệp bảo hiểm trong nước đã trở thành một vấn đề cấp bách mà
không chỉ bản thân các Doanh nghiệp quan tâm.
Xuất phát từ những lý do đó, sau một thời gian thực tập tại Bảo Việt Hà
Nội, em đã chọn đề tài “Lý thuyết trò chơi với Bảo Việt và đối thủ cạnh tranh trên
thị trường bảo hiểm hàng hóa Xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển”.
Nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa Xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển liên
quan đến quá trình thương mại quốc tế, sẽ chịu rất nhiều tác động của việc hội nhập
kinh tế tòan cầu của Việt Nam. Hiện nay, trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ
Chuyên đề tốt nghiệp
Kinh tế Bảo hiểm
3
Chương 1
Lý thuyết chung về Bảo hiểm hàng hóa Xuất Nhập khẩu
vận chuyển bằng đường biển và Lý thuyết trò chơi
1.1. Sơ lược về Bảo hiểm hàng hóa Xuất Nhập khẩu vận
chuyển bằng đường biển
1.1.1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Bảo hiểm
hàng hóa Xuất Nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
Từ khi hoạt động ngoại thương giữa các quốc gia trên thế giới được hình
thành thì vận chuyển hàng hóa bằng đường biển đã nhanh chóng chiếm vai trò quan
trọng số một với những ưu thế lớn của nó như vận chuyển được nhiều chủng loại
hàng hóa với số lượng cực lớn, các tuyến vận chuyển thì rộng khắp nên một lúc có
thể tổ chức cho cùng nhiều chuyến vận chuyển hai chiều trên cùng một tuyến… Vì
những ưu thế đó, vận chuyển hàng hóa bằng đường biển đã trở thành “xương cốt”
của thương mại quốc tế, chiếm tới 90% tổng hàng hóa XNK của thế giới. Nói vậy
không có nghĩa là vận chuyển hàng hóa bằng đường biển có một ưu thế tuyểt đối so
với đường hàng không, đường bộ hay đường sắt. Bản thân nó cũng có những nhược
điểm lớn mà các chủ hàng hóa rất lo sợ đó là tính rủi ro cao và thường xảy ra tổn
thất lớn. Các rủi ro có thể là do yếu tố con người, yếu tố kỹ thuật hay đơn giản là do
yếu tố tự nhiên gây ra, hành trình bằng đường biển thì thường rất dài, tốc độ tàu
thuyền vận chuyển lại không cao khiến cho nguy cơ gặp rủi ro càng lớn hơn, dễ dẫn
đến những tổn thất mang tính thảm họa có thể làm cho chủ hàng sạt nghiệp.
Trước lợi nhuận mà ngành hàng hải mang lại, cũng như nguy cơ rủi ro luôn
rình rập đe dọa các chủ tàu và chủ hàng, các nhà buôn bán, những người vận tải
luôn luôn tìm kiếm những hình thức bảo đảm an tòan cho quyền lợi của mình. Đầu
tiên là vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, người ta đã tìm cách giảm nhẹ
tổn thất một lô hàng bằng cách san nhỏ lô hàng của mình ra làm nhiều chuyến hàng.
Chuyên đề tốt nghiệp
nhanh chóng phát triển quán cà phê của mình thành một địa điểm giao dịch bảo
Chuyên đề tốt nghiệp
Kinh tế Bảo hiểm
5
hiểm giữa các chủ tàu, nhà buôn, chủ ngân hàng… Sau khi ông mất người ta đã lập
nên “Society of Lloyd” với tư cách là một tổ chức tự nguyện để duy trì hoạt động
giao dịch bảo hiểm hàng hải, đến năm 1871 thì đã chính thức trở thành Hội đồng
Lloyd và sau này phát triển thành hãng bảo hiểm lớn nhất thế giới có một mạng lưới
đại lý rộng khắp toàn cầu. Mẫu đơn bảo hiểm hàng hải đầu tiên của Lloyd ( Lloyd’s
SG form of policy) và luật bảo hiểm hàng hải 1906 của Anh (Marine Insurance Act,
1906- M.I.A. 1906) cho đến nay vẫn được áp dụng rộng rãi. Các điều kiện bảo hiểm
hàng hóa cũng như tàu bè của viện ILU (Institute of London Underwriters) của Anh
từ lâu đã trở nên quen thuộc và trở thành điều kiện chuẩn cho hoạt động bảo hiểm
hàng hải nói chung trên thế giới.
Hiện nay, thị trường của nghiệp vụ này phần lớn đều thuộc về các công ty
BH lớn của châu Âu, đặc biệt là nước Anh. Mặc dù các đội tàu của châu Á đảm
nhiệm vận chuyển từ 40- 45% lượng hàng hóa trên thế giới nhưng vẫn phụ thuộc
vào các công ty BH của London. Đây là một thực tế khó thay đổi trong nhiều năm
nữa.
1.1.2. Tác dụng của Bảo hiểm hàng hóa Xuất nhập khẩu vận
chuyển bằng đường biển.
Trong hoạt động vận chuyển hàng hóa XNK bằng đường biển, có bốn bên
liên quan đến quá trình này là người bán, người mua, người vận chuyển và DNBH.
Có thể nêu ra đây những tác dụng cơ bản nhất của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa
XNK vận chuyển bằng đường biển thể hiện vai trò to lớn của nó đối với các DN có
liên quan, với ngành hàng hải và với nền kinh tế quốc dân.
Thứ nhất, bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển đảm bảo
lợi ích kinh tế của các bên có liên quan đến hoạt động vận chuyển hàng hóa XNK
khi có rủi ro xảy ra gây nên tổn thất lớn. Có những tổn thất mang tính thảm họa có
thể khiến cho các nhà buôn thất thế hay phá sản, nhờ vào số tiền bồi thường của nhà
chuyển hàng hóa bằng đường biển nói riêng, nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa XNK
vận chuyển bằng đường biển ngày càng trở nên có vai trò quan trọng đối với các
DN và các quốc gia, kể cả với các nước không có ranh giới giáp biển.
Chuyên đề tốt nghiệp
Kinh tế Bảo hiểm
7
1.1.3. Nội dung cơ bản của Bảo hiểm hàng hóa Xuất nhập khẩu
vận chuyển bằng đường biển.
1.1.3.1. Đối tượng bảo hiểm và trách nhiệm của các bên có liên quan.
Đối tượng bảo hiểm của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa XNK vận chuyển
bằng đường biển là các loại hàng hóa XNK thuộc quyền sở hữu và quản lý hợp
pháp của đơn vị XK được vận chuyển trên tàu hay thuyền lớn từ nước này đến nước
kia để giao cho đơn vị NK hàng hóa. Ngoài ra còn có một đối tượng khác cũng
được bảo hiểm trong nghiệp vụ này là giá trị gia tăng (phần lãi ước tính) mà DN
kinh doanh XNK có thể nhận được khi tham gia XNK hàng hóa.
Trong quá trình vận chuyển hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển
thường liên quan đến ba loại hợp đồng sau: hợp đồng mua bán giữa người mua và
người bán; hợp đồng vận chuyển giữa chủ hàng và nhà tàu; HĐBH giữa chủ hàng
và nhà bảo hiểm (tùy theo điều kiện mua bảo hiểm mà có thể là người bán hoặc
cũng có thể người mua sẽ mua bảo hiểm cho số hàng). Theo từng điều kiện của
từng hợp đồng mà phân chia trách nhiệm và quyền lợi của các bên có liên quan,
nhưng thường thì được phân định những nhiệm vụ chính như sau:
- Đơn vị XK: chuẩn bị hàng hóa theo đúng hợp đồng đã ký kết; đứng ra làm
thủ tục hải quan và kiểm định; nếu người bán mua bảo hiểm; tùy theo từng điều
kiện bảo hiểm mà họ phải tiến hành thông báo cho bên mua để tiếp tục theo dõi.
- Đơn vị NK: nhận hàng hóa được bên vận chuyển đưa đến theo đúng hợp
đồng đã ký kết; nếu hàng hóa có vấn đề gì sơ suất, phải kịp thời thông báo cho các
bên có liên quan biết để giải quyết; có thể nhận chuyển nhượng phần bảo hiểm của
bên bán và theo dõi hàng hóa nhập đến khi bốc dỡ tại cảng.
- Đơn vị vận chuyển: chuẩn bị con người và phương tiện vận chuyển theo
xảy ra.
Thông thường trong hoạt động XNK hàng hóa, người ta thường xuất theo
giá CIF và nhập theo giá FOB nhằm mục đích dành quyền dịch vụ vận tải và bảo
hiểm cho thị trường trong nước góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành vận
chuyển bằng đường biển và ngành bảo hiểm của quốc gia đó.
Chuyên đề tốt nghiệp
Kinh tế Bảo hiểm
9
1.1.3.2. Rủi ro hàng hải và tổn thất
* Rủi ro hàng hải
Rủi ro hàng hải là những rủi ro do thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển gây ra
làm hư hỏng hàng hóa và phương tiện chuyên chở. Tùy theo các tiêu chí mà người
ta phân thành các loại rủi ro khác nhau như sau:
- Theo tiêu chí nguyên nhân, rủi ro hàng hải bao gồm rủi ro do thiên tai, rủi
ro do tai nạn bất ngờ trên biển và rủi ro do hành động của con người
+ Thiên tai: là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra như biển động, bão
lốc, sét, thời tiết quá xấu… mà con người không chống lại được.
+ Tai nạn bất ngờ trên biển: mắc cạn, đắm, bị phá hủy, cháy nổ, mất tích,
đâm va với tàu hoặc một vật thể cố định hay di động khác không phải là nước, phá
hoại của thuyền trưởng và thủy thủ trên tàu…
+ Hành động của con người: ăn trộm, ăn cắp hàng, mất, cướp, chiến tranh,
đình công, bắt giữ, tịch thu…
- Theo tiêu chí nghiệp vụ bảo hiểm, có 3 loại rủi ro là rủi ro thông thường
được bảo hiểm, rủi ro không được bảo hiểm và rủi ro được bảo hiểm trong trường
hợp đặc biệt. Cụ thể như sau:
+ Rủi ro thông thường được bảo hiểm: như bão lốc, sóng thần, mắc cạn,
đâm va…
+ Rủi ro không được bảo hiểm (hay còn gọi là rủi ro loại trừ): là các hành vi
sai lầm cố ý của người được bảo hiểm hay bao bì không đúng quy cách, vi phạm thể
lệ XNK hoặc vận chuyển chậm trễ làm mất thị trường, sụt giá…
hàng đó). Khi gặp trường hợp này, tốt nhất là chủ hàng thông báo từ bỏ lô hàng và
nhà bảo hiểm phải bồi thường toàn bộ tổn thất, điều đó sẽ giúp người được bảo
hiểm thu hồi vốn nhanh và tránh gây phiền phức cho các bên.
Tổn thất bộ phận thường tồn tại dưới bốn dạng sau:
+ giảm về giá trị
+ tổn thất về số lượng
Chuyên đề tốt nghiệp
Kinh tế Bảo hiểm
11
+ giảm về trọng lượng
+ giảm về thể tích
Tổn thất bộ phận hoàn toàn khác với hao hụt tự nhiên. Nhà bảo hiểm không
bao giờ bồi thường phần hao hụt tự nhiên của hàng hóa
- Nếu phân loại theo tiêu chí trách nhiệm bảo hiểm thì gồm tổn thất riêng
(loại này chỉ liên quan đến một hoặc một số quyền lợi trên một con tàu) và tổn thất
chung (là những hy sinh hay chi phí đặc biệt được tiến hành một cách cố ý và hợp
lý nhằm mục đích cứu tàu và hàng hóa chở trên tàu thoát khỏi sự nguy hiểm chung
thực sự đối với chúng).
Tổn thất chung thường tồn tại dưới hai dạng:
+ Hi sinh tổn thất chung: là trường hợp mà cùng một lúc phải thỏa mãn ba
điều kiện sau:
. chủ tàu cố ý gây ra tổn thất
. hậu quả vì sự an toàn chung
. trong trạng thái vô cùng cấp bách
+ Chi phí tổn thất chung: vì tổn thất chung liên quan đến các bên nên nó
phải được phân bổ cho các bên một cách chính xác.
1.1.3.3. Phạm vi bảo hiểm
Phạm vi bảo hiểm được hiểu là giới hạn rủi ro được bảo hiểm và cũng là
giới hạn trách nhiệm của công ty bảo hiểm.
Khi chủ hàng mua bảo hiểm cho số hàng hóa vận chuyển bằng đường biển
cảng lánh nạn.
Đi kèm với điều kiện này thường áp dụng chế độ miễn thường (chế độ miễn
thường là chế độ mà theo đó, nhà bảo hiểm sẽ không bồi thường cho người thụ
hưởng bảo hiểm khi mức độ tổn thất dưới mức quy định). Điều kiện WA rất phù
hợp với hàng nhẹ, hàng rời.
- Điều kiện AR: đây là điều kiện bảo hiểm có phạm vi bảo hiểm rộng nhất
nên phí bảo hiểm cũng lớn nhất. Ngoài những rủi ro tổn thất và chi phí của điều
kiện bảo hiểm, nó còn mở rộng thêm các rủi ro phụ, trừ rủi ro đặc biệt như đình
Chuyên đề tốt nghiệp
Kinh tế Bảo hiểm
13
công, chiến tranh, bạo loạn, cướp biển. Điều kiện này rất phù hợp với loại hàng hóa
có giá trị lớn hay là hàng đặc chủng. Nó không được áp dụng chế độ miễn thường.
Vào thời điểm đó, các điều kiện bảo hiểm này được áp dụng rất rộng rãi
trong hoạt động thương mại quốc tế.
* Đến ngày 01/01/1982, ILU xuất bản các điều kiện bảo hiểm mới thay thế
các điều kiện cũ, trong đó các điều kiện bảo hiểm hàng hóa bao gồm: điều kiện bảo
hiểm C (ICC C- Institute cargo clauses), điều kiện bảo hiểm B (ICC B) và điều kiện
bảo hiểm A (ICC A). So với các điều kiện 1963, các điều kiện mới hoàn thiện hơn,
trình bày rõ ràng và dễ hiểu hơn, cụ thể như sau:
- ICC C: phạm vi bồi thường theo điều kiện C cung tương tự như trong
điều kiện WA nhưng nhà bảo hiểm không bồi thường tổn thất riêng trong trường
hợp mất nguyên kiện hàng trong khi xếp dỡ, chuyển tải
- ICC B: phạm vi điều kiện bảo hiểm B cũng tương tự điều kiện C, ngòai ra
nhà bảo hiểm còn bồi thường trong cả trường hợp nước biển, nước sông hồ tràn
xâm nhập vào làm hỏng hàng hóa hay hàng hóa bị nước cuốn trôi.
- ICC A: phạm vi điều kiện A tương tự điều kiện bảo hiểm AR nhưng khác
nhau ở chỗ cướp biển bây giờ không được coi là rủi ro đặc biệt và trong đơn bảo
hiểm, các nhà bảo hiểm đã chi tiết hóa các rủi ro phụ để hạn chế tối đa những tranh
chấp về sau (như hàng bị cong, vênh, bẹp, méo…)
- HĐBH bao: là HĐBH nhiều chuyến hàng trong một thời gian nhất định,
thường là một năm (hoặc nhận bảo hiểm cho một lượng hàng nhất định, không kể
đến thời gian). Đối với các chủ hàng có khối lượng hàng hóa XNK lớn và ổn định,
thông thường họ ký kết với Công ty bảo hiểm một HĐBH, trong đó người bảo hiểm
cam kết sẽ bảo hiểm tất cả các chuyến hàng XNK trong một năm.
Dù ký kết theo loại hợp đồng nào thì một HĐBH hàng hóa XNK vận
chuyển bằng đường biển vẫn phải có những nội dung cơ bản sau: thông tin về người
mua và người bán; thông tin về người vận chuyển; thông tin về hàng hóa; thông tin
về cảng đi, cảng đến và thời gian giao nhận; thông tin về lộ trình vận chuyển; thông
tin về giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm; thông tin về điều kiện bảo
hiểm; thông tin về thủ tục giám định và bồi thường… Trong đó, thông tin về giá trị
bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm và điều kiện bảo hiểm là những thông tin
Chuyên đề tốt nghiệp
Kinh tế Bảo hiểm
15
vô cùng quan trọng, phải được cả hai bên quan tâm và thống nhất tuyệt đối, tránh
mọi sai sót.
1.1.3.5. Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm
* Giá trị bảo hiểm
Giá trị của hàng bằng giá hàng tại cảng đi (cost) cộng với phí bảo hiểm
(insurance) và cước phí vận chuyển đến cảng đến (freight), tức là bằng giá CIF của
hàng hóa. Ngoài ra để đảm bảo quyền lợi của mình, người được bảo hiểm có thể
bảo hiểm thêm cả khoản lãi dự tính do việc XNK mang lại, thường người ta tính
bằng 10% so với giá CIF.
Vậy lúc đó, giá trị bảo hiểm (V) sẽ bằng:
V = CIF + 10% CIF
Gọi R là tỷ lệ phí bảo hiểm, thì phí bảo hiểm P sẽ là:
P = R. CIF
Từ đó suy ra: CIF = C + R.CIF + F
hóa thì người bảo hiểm cũng chỉ bồi thường trong phạm vi STBH. Trong XNK, nếu
tham gia bảo hiểm cho hàng hóa theo giá FOB hay CFR thì gọi là tham gia bảo
hiểm dưới giá trị (Under Insurance).
* Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm (P) là một khoản tiền do người tham gia bảo hiểm phải trả cho
nhà bảo hiểm để được bồi thường khi hàng hóa được bảo hiểm bị tổn thất do các rủi
ro đã thỏa thuận gây ra. Phí bảo hiểm thường được xác định bằng một tỷ lệ phí nhất
định so với STBH. Tỷ lệ phí (R ) được tính toán dựa trên nhiều yếu tố như điều kiện
bảo hiểm, đặc tính của hàng hóa đem bảo hiểm, đánh giá rủi ro và tổn thất có thể có,
phương tiện vận chuyển… Công tác xác định tỷ lệ phí là một quá trình nhiều công
đoạn và khá khó khăn, đòi hỏi những người có trình độ và kinh nghiệm.
Như vậy P = R.Sb nếu A < V và P = R.V nếu Sb = V
Khi xác định R phải cộng thêm cả phụ phí bảo hiểm (tàu già, chiến tranh, đình
công…)
()(10%1)
1
CF
PR
R
(khi tính thêm phần lãi dự kiến).
và
()
1
CF
PR
R
gắt với đủ hình thái và mánh khóe tinh vi. Trên thế giới một ngày có hàng trăm
nghìn doanh nghiệp ra đời và cũng từng ấy doanh nghiệp bị thất thế hay phá sản. Sự
quyết liệt đó ví tựa như một dòng thác lúc nào cũng chảy mạnh mẽ và thách thức
những con người dũng cảm dám lao vào mà họ có thể bị đẩy bật ra bất cứ lúc nào.
Để có thể đứng vững trên thương trường với thế tự chủ là một bài kiểm tra khó cho
tất cả các DN và những người chèo lái nó. Để có thể làm được điều đó đòi hỏi
người chủ DN phải nhạy cảm với tình thế, nắm vững những nguyên lý cơ bản trong
cạnh tranh.
Lý thuyết cạnh tranh là tập hợp những phương thức cạnh tranh do các
nhà khoa học, doanh nghiệp tổng hợp và nghiên cứu – được chứng minh một
cách khoa học và đã được kiểm nghiệm qua thực tế (Định nghĩa của John Nash-
nhà phát minh ra thế cân bằng Nash trong lý thuyết cạnh tranh )
Nghiên cứu lý thuyết cạnh tranh cho doanh nghiệp những hiểu biết cơ bản
về cạnh tranh, về việc ra quyết định của đối thủ và hành động phải ứng phó của
mình ra sao, là yếu tố hàng đầu quyết định thành bại của DN.
SPBH là một sản phẩm dịch vụ đặc biệt, có thể nói là một sản phẩm dịch vụ
tài chính cao cấp, vì thế nó tạo nên một thị trường cũng mang nhiều sự khác biệt mà
nếu chỉ dựa trên những lý luận về kinh tế trước kia thì không đủ để làm cho người
ta hiểu hết về nó. Ngoài những đặc điểm của một sản phẩm dịch vụ thông thường
khác như tính vô hình, tính không thể tách rời và cất trữ, tính đồng nhất dễ bắt
chước, tính không được bảo hộ bản quyền; nó còn mang những đặc trưng riêng tạo
Chuyên đề tốt nghiệp
Kinh tế Bảo hiểm
18
nên sự đặc biệt của một SPBH, đó là tính “không mong đợi” của sản phẩm (nghĩa là
người mua không mong đợi sự kiện bảo hiểm xảy ra để được bồi thường hay chi trả
tiền bảo hiểm, trừ bảo hiểm hưu trí, BHNT) và nó có “chu trình hạch toán đảo
ngược”, điều đó khiến cho việc xác định giá cả sản phẩm gặp rất nhiều khó khăn.
Thị trường bảo hiểm vì thế mà lúc nào cũng diễn ra sôi động với sự cạnh trạnh gay
gắt và liên kết kịp thời với đủ thủ thuật và mánh khóe của các DNBH để nhằm
nhau nên mỗi hãng đều phải xem xét các bước đi của mình sẽ tác động như thế nào
đến đối thủ cạnh tranh và họ sẽ phản ứng lại ra sao. Họ luôn phải giả thiết rằng các
đối thủ cạnh tranh cũng thông minh như mình, cũng luôn ở trong trạng thái thăm dò
phản ứng của nhau và luôn đưa ra quyết định hợp lý nhất. Điều đó đòi hỏi một nhà
DN độc quyền luôn phải đặt mình vào vị trí của đối thủ để cân nhắc các quyết định
cũng như chiến lược sẽ đưa ra.
Như đã trình bày ở trên, thị trường bảo hiểm là một thị trường mang nhiều
đặc trưng riêng biệt so với các thị trường hàng hóa hữu hình và các thị trường hàng
hóa vô hình thông thường khác. Nó có một đối tượng khách hàng rộng lớn, sản
phẩm lại dễ bắt chước nên cạnh tranh giữa các DNBH là vô cùng quyết liệt. Là một
thị trường dịch vụ tài chính cao cấp, nó chịu sự kiểm soát gắt gao của Nhà nước,
việc thâm nhập vào thị trường của người mới là rất khó khăn. Sản phẩm của từng
DN được chuyên biệt hóa bằng tên gọi, giá cả, chất lượng và dịch vụ theo kèm. Vì
vậy cũng như những hình thức dịch vụ tài chính khác như ngân hàng, chứng
khóan…bảo hiểm là một thị trường độc quyền nhóm với tính chất cạnh tranh đầy
gay gắt và quyết liệt diễn ra trên nhiều khía cạnh, thủ thuật.
1.2.2. Lý thuyết trò chơi và các chiến lược cạnh tranh
1.2.2.1. Giới thiệu về Lý thuyết trò chơi
Lý thuyết trò chơi có thể được hiểu là “một lý thuyết toán học về việc đưa
ra quyết định bởi những người tham gia trong một tình thế mâu thuẫn về lợi ích”.
Lý thuyết trò chơi hiện đã trở nên phổ biến trong các ngành kinh doanh “mới”, nơi
mà sự chú ý đã chuyển sang hình thái độc quyền nhóm. Hiệu quả của việc sử dụng
lý thuyết trò chơi trong phân tích kết quả kinh doanh nằm ở chỗ nó cố gắng dự đoán
một cách chính xác việc gia nhập hay rút lui khỏi thị trường, phát triển công nghệ
và sản xuất, định giá, xúc tiến thương mại… ít nhất trước sự cạnh tranh một bước.
Chuyên đề tốt nghiệp
Kinh tế Bảo hiểm
20
Trong phần nghiên cứu về cạnh tranh, chúng ta đã đề cập đến đặc điểm của thị
trường cạnh tranh độc quyền nhóm là hầu hết các hãng trong thị trường độc quyền
hợp tác là khi những người chơi có thể thương lượng với nhau để tiến tới các hợp
đồng ràng buộc giúp họ có thể hoặch định các chiến lược chung. Thế nhưng trên
một thị trường là một ma trận với nhiều trò chơi và nhiều người chơi thì DN chỉ có
thể hợp tác ở một số trò chơi với đối thủ mà lúc này DN biết không thể đối mặt
được, còn ở trò chơi khác với đối thủ khác họ áp dụng chính sách không hợp tác
nghĩa là việc thương lượng và thưc hiện các thỏa ước ràng buộc là không thể có. Đó
chính là trò chơi không hợp tác. Sự lựa chọn trò chơi hợp tác hay không hợp tác
cũng là một thách thức lớn đối với các DN, đặc biệt là các hãng vừa và nhỏ, bởi liên
kết với ai hay đối đầu với ai, đối đầu như thế nào là yếu tố cơ bản quyết định thắng
bại, thậm chí ở thị trường này, vào giai đoạn này là hợp tác nhưng ở thị trường
khác, vào giai đoạn khác lại là cạnh tranh. Chúng ta sẽ chủ yếu chỉ quan tâm đến
các trò chơi không hợp tác nơi mà các người chơi thiết lập chiến lược thông qua
việc phải hiểu rõ quan điểm của đối thủ và suy ra cách mà người đó chắc chắn sẽ
phản ứng với hành động của mình với giả thiết rằng đối thủ cũng khôn ngoan như
mình.
* Chiến lược có ảnh hưởng chi phối (chiến lược tối ưu)
Khi các đối thủ tham gia vào trò chơi không hợp tác, kết quả cuối cùng là
họ sẽ phải đưa ra chiến lược của mình đồng thời chờ đợi phản ứng của đối thủ. Sẽ
có hai trường hợp xảy ra là phản ứng của đối thủ đúng như tính toán của DN, lúc đó
phần trăm thành công của chiến lược là rất cao, ngược lại, nếu hành động của đối
thủ lại khác với những gì DN mong đợi thì lúc đó có thể DN sẽ thất bại nhưng cũng
có thể vẫn thành công bất kể sự lựa chọn của đối thủ là gì. Sự bấp bênh về kết quả
cuối cùng đó sẽ khiến các người chơi không dám mạo hiểm hành động, bởi vì làm
sao chúng ta dám chắc sẽ đưa ra chiến lược tốt nhất để tham gia trò chơi, cũng như
không thể xác định kết quả chắc chắn xảy đến của trò chơi. Chúng ta cần một thứ gì
đó để giúp chúng ta xác định xem động thái của mỗi người chơi sẽ dẫn dắt như thế
nào đến một giải pháp cân bằng, qua đó sẽ tìm được chiến lược có ảnh hưởng chi
phối, loại chiến lược tối ưu đối với người chơi bất kể đối phương làm gì. Nghiên
cứu về “ma trận thưởng phạt” sẽ trả lời cho chúng ta vấn đề đó. “Ma trận thưởng
Chuyên đề tốt nghiệp
10
5
15
0
DNBH A
Không quảng cáo
6
8
10
2
(Nguồn: FPT translate- công trình nội bộ của FPT về lý thuyết trò chơi)
Chuyên đề tốt nghiệp
Kinh tế Bảo hiểm
23
Vậy mỗi DN nên chọn chiến lược nào? với DN A, rõ ràng họ phải tiến hành
quảng cáo, bởi lẽ đó là giải pháp tối ưu nhất bất chấp hành động nào của DN B (dù
DN B quảng cáo hay không thì ứng với mỗi trường hợp họ đều thu được lợi nhuận
cao hơn khi họ không quảng cáo). Câu trả lời cho DN B cũng tương tự , họ cũng sẽ
lựa chọn giải pháp có lợi nhất cho mình là thực hiện chiến lược quảng cáo. Sự lựa
chọn của hai hãng trong trường hợp này là khá dễ dàng, nhưng đó là do hai DN có
chiến lược có ảnh hưởng chi phối (chiến lược tối ưu). Trong trường hợp hai DN
không có chiến lược ảnh hưởng chi phối thì thế nào? Chúng ta quay trở lại ma trận
thưởng phạt nhưng lần này có một sự thay đổi nhỏ, đó là khi cả hai DN đều không
tiến hành quảng cáo thì lợi nhuận DN A thu được không phải là 10 mà là 20 (có thể
là do chi phí quảng cáo DN A bỏ ra rất lớn, nên khi không tiến hành quảng cáo thì
họ tiết kiệm được một khoản nhiều như vậy , lúc đó DN A không có chiến lược tối
ưu, họ sẽ lựa chọn giải pháp nào khi ta giả sử hai DN phải hành động cùng lúc.
Bảng 2: Ma trận thưởng phạt của trò chơi quảng cáo khi có sửa đổi
DNBH B
Quảng cáo
xử như thế nào? Với thế cân bằng Nash chúng ta sẽ được thấy một thế cân bằng
tổng quát hơn. Trò chơi được đặt theo tên của nhà khoa học sáng lập ra nó là Nash
(1951). Nó là một tập hợp các chiến lược (hoặc các hoạt động) khiến cho mỗi người
chơi làm điều tốt nhất có thể khi đã biết hành động của đối thủ cạnh tranh. Để hiểu
hết về thế cân bằng Nash và những lý luận mà Nash đưa ra là một vấn đề khó mà
trong khuôn khổ bản luận văn này không thể đề cập trọn vẹn được, chỉ xin nói đến
những vấn đề sơ khởi nhất.
Cân bằng Nash khác với chiến lược có ảnh hưởng chi phối trong ma trận
thưởng phạt ở chỗ:
- Với chiến lược có ảnh hưởng chi phối: tôi đang làm điều tốt nhất có thể bất
kể anh làm gì và anh cũng đang làm điều tốt nhất có thể bất kể tôi làm gì.
- Với thế cân bằng Nash: tôi đang làm điều tốt nhất có thể sau khi đã biết anh
làm gì và anh cũng đang làm điều tốt nhất có thể sau khi biết tôi đang làm gì. Từ đó
có thể thấy một thế cân bằng có chiến lược có ảnh hưởng chi phối là một trường
hợp đặc biệt của thế cân bằng Nash.
Một trò chơi không nhất thiết chỉ có một thế cân bằng Nash duy nhất và
cũng có thể là không có thế cân bằng Nash nào. Để hiểu hơn về thế cân bằng Nash
chúng ta sẽ tìm hiểu về chiến lược tối đa tối thiểu.
. Chiến lược tối đa tối thiểu
Khái niệm về thế cân bằng Nash dựa nhiều vào tính duy lý của cá nhân, vì
thế sự lựa chọn chiến lược của mỗi người chơi không chỉ phụ thuộc vào duy lý của
Chuyên đề tốt nghiệp
Kinh tế Bảo hiểm
25
bản thân người đó mà còn vào tính duy lý của đối phương nữa. Vậy trò chơi sẽ
được phân xử như thế nào? Nghiên cứu ví dụ sau chúng ta sẽ có câu trả lời:
Trò chơi này gồm có hai người tham gia là Người chơi 1 và Người chơi 2
với hai phương án quyết định là A và B. Với giả thiết rằng, với người chơi 2,
phương án A là một phương án không đem lại kết quả tốt và người chơi 1 có nhiều
lợi thế (như thông minh hơn hay có điều kiện tốt hơn) để khai thác tốt các phương
này, đa số người chơi sẽ thận trọng và không dám mạo hiểm, họ sẽ chọn A1 để thà