Giáo trình phân tích tài chính - ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀ NỀN KINH TẾ HÙNG MẠNH CỦA AILEN - Pdf 19



Giáo trình phân
tích tài chính -
ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC
NGOÀI (FDI) VÀ
NỀN KINH TẾ
HÙNG MẠNH
CỦA AILEN

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Niên khóa 2005 – 2006 Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 1 Biên dịch: Hải Đăng

9-706-007
NGÀY 26 THÁNG BẢY NĂM 2005
LAURA ALFARO, STEPHEN McINTYRE VÀ VINATI DEV
1

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)
VÀ NỀN KINH TẾ HÙNG MẠNH CỦA AILEN

nhân tố ngoại sinh ví dụ như các khoản chuyển nhượng của EU và tỷ giá hối đoái có lợi.
Nhưng nhiều nguời tin rằng câu trả lời nằm ở Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI), mà đã
tăng mạnh xuyên suốt thập niên 1980, đạt mức trung bình trên 2,5 tỷ đô la Mỹ mỗi năm
trong suốt nửa sau của thập niên này.
5
(Xem Bảng 1a và Hình 1b biểu diễn dòng FDI
chảy vào Ailen). Cho đến năm 2002, tổng lượng FDI bình quân đầu người tại Ailen cao
thứ nhì trên thế giới (chỉ sau Hồng Công và gấp đôi mức trung bình của EU
6
).
Vào tháng Bảy năm 2003, Nhóm Chiến lược Doanh nghiệp (ESG), một cơ quan
độc lập gồm các viện sĩ và nhà kinh doanh hàng đầu, được chính phủ Ailen ủy thác để
làm báo cáo về tương lai của nền kinh tế nước này.
7
Báo cáo của cơ quan này kết luận
rằng FDI thực sự đóng một vai trò rất quan trọng: 1
Laura Alfaro, Trợ lý Nghiên cứu Vinati Dev và Stephen McIntyre (Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh, 2005) đã
chuẩn bị nghiên cứu điển hình này. Các nghiên cứu điển hình HBS chỉ được phát triển thành cơ sở cho thảo
luận trên lớp học. không có ý định dùng những trường hợp này như là sự xác nhận, nguồn dữ liệu sơ cấp, hay
các minh họa cho việc quản lý hiệu quả hay không hiệu quá.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 2 Biên dịch: Hải Đăng


Con Hổ Vùng Celtic. Tại sao nước này rất thành công trong việc thu hút FDI? Nhưng liệu
FDI có thực sự là động lực chính đằng sau sự bùng nổ này? Điều gì giải thích cho sự tăng
trưởng kinh tế? Và, quan trọng nhất là liệu sự bùng nổ này có thể duy trì được lâu?
Nền tảng Lịch sử
Nền Độc lập và cuộc Nội chiến
Ailen hiện đại ngày nay được hình thành vào năm 1921, khi sau một cuộc chiến
kéo dài 5 năm, Anh và Ailen ký kết một hiệp ước hoà bình chấm dứt gần tám thế kỷ nằm
duới quyền cai trị thuộc địa của Anh quốc. Hiệp ước này đại thể chia cắt hòn đảo này theo
yếu tố tôn giáo thành Nhà nước Ailen Tự do (Irish Free State), mà chủ yếu hình thành từ
dân số theo đạo Thiên chúa, và Bắc Ailen với phần lớn dân số theo đạo Tin lành, mà vẫn
là một phần của Liên hiệp Anh (xem Hình 2 về bản đồ Ailen). Theo hiệp ước này, Nhà
nước Ailen Tự do được yêu cầu phải tuyên thệ trung thành với Nữ hoàng. Những người
ủng hộ chế độ cộng hòa Ailen đã phản ứng dữ dội hiệp ước này và một cuộc nội chiến
đẫm máu đã xảy ra sau đó.
Vào năm 1923, các lực lượng ủng hộ hiệp ước đã chiến thắng trong cuộc chiến
nhưng Ailen đã trở thành một quốc gia bị tổn thương. Chính phủ mới kế thừa một cơ sở
hạ tầng cực kỳ kém phát triển; ngay cả các dịch vụ cơ bản như là điện và nước vẫn còn
thiếu. Tỷ lệ thất nghiệp và di cư là rất cao. Hơn nữa, đất nước này có một khu vực công
nghiệp chế tạo hầu như không hiện hữu. Mặc dù không phát triển, nhưng nền kinh tế
Ailen chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp và phụ thuộc rất lớn vào thương mại với Vương
quốc Anh. Ban đầu, Ailen theo đuổi một chính sách thương mại tự do, nhưng điều này đã
thay đổi khi nhà lãnh đạo của đảng chính trị Fianna Fáil, Eamon de Valera trở thành thủ
tướng vào năm 1932.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 3 Biên dịch: Hải Đăng


nước ngoài thông qua những sự nhượng bộ về thuế và các khoản trợ cấp mang tính khích
lệ. Kết quả là, từ năm 1962 đến 1964, Ailen đã đơn phương giảm thuế quan. Vào năm
1965, Hiệp định Thương mại Tự do Anh-Ailen đã được ký kết. Với hiệp định này, Ailen
hy vọng đạt được sự thương mại tự do của tất cả hàng hóa chế tác trước năm 1975. Có lẽ
quan trọng nhất là việc Ailen gia nhập Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại
(GATT) vào năm 1967.
Các chương trình kinh tế mới của thập nhiên 1960 đã mang lại một sự phục hồi
nhất định cho Ailen (xem Bảng 3 về dữ liệu GDP, Bảng 4 về tài chính chính phủ và
Bảng 5 về dữ liệu cán cân thanh toán). Tốc độ tăng trưởng GDP vượt mức 4% hàng năm,
tuy nhiên tỷ lệ thất nghiệp và nghèo cao đã gây khó khăn cho phủ quốc gia này và hệ
thống giáo dục thì vẫn trong tình trạng hỗn độn. Một báo cáo năm 1965 về hệ thống giáo
dục của Ailen nêu bật tỷ lệ bỏ học cao và trình trạng đổ nát của nhiều trường học. Vào
năm 1968, bộ trưởng bộ giáo dục bãi bỏ học phí đối với giáo dục trung học, tăng độ tuổi
rời trường tối thiểu từ 14 lên 15, và bãi bỏ chứng chỉ tiểu học (một hình thức thi tuyển
sinh vào trường cấp hai). Ông ta cũng đảm bảo về pháp lý việc cung cấp điều kiện vệ sinh
và sưởi ấm thích hợp. Những thay đổi này đã có một tác động tức thời đến số lượng trẻ
em vào các trường trung học.
14

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 4 Biên dịch: Hải Đăng Cơ quan Phát triển Công nghiệp
Cơ quan Phát triển Công nghiệp (IDA) được thành lập vào năm 1949 như là một
tổ chức của chính phủ nhằm xúc tiến đầu tư lớn hơn trên toàn Ailen.

tiến đầu tư mà tất cả chỉ dành cho riêng mình”
17

Không nản lòng, IDA theo đuổi một kế hoạch táo bạo nhằm định vị Ailen như là
một điểm đến có khả năng sinh lời cao nhất tại châu Âu. Chiến dịch tiếp thị trực tiếp của
IDA đã xác định các công ty hàng đầu hứa hẹn và IDA đến tiếp xúc trực tiếp các công ty
này để thuyết phục họ đến đầu tư tại Ailen. Trưởng bộ phận nghiên cứu và hoạch định
của IDA trong những năm đầu thập niên 1970 đã mô tả các tiêu chuẩn chọn lựa các công
ty như sau:
(1) Chọn những công ty đáp ứng các tiêu chuẩn kinh tế xã hội cơ bản như: không
quá thâm dụng vốn; hàm lượng lao động nam cao; sử dụng nguyên liệu và dịch vụ bản địa
cao; yếu tố qui mô nhỏ.
(2) Chọn những công ty mà có khả năng tạo ra những cơ hội tốt nhất cho sự ổn
định thương mại và vì vậy là sự ổn định kinh tế, có tính đến các tiêu chuẩn thương mại
như khả năng sinh lợi cao; tăng trường mạnh về cả yếu tố đầu ra lẫn thương mại quốc tế.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 5 Biên dịch: Hải Đăng (3) Chọn những công ty có sự phụ thuộc lớn về nguồn nhân lực khan hiếm, ví dụ
như những người có kỹ năng, bởi vì điều này hàm ý một sự cam kết và ràng buộc lớn
hơn.
(4) Chọn những công ty mà có thể tận dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và vì
vậy cho phép chúng ta bảo vệ các nguồn tài nguyên khác.
18


6,5% của Tổng Sản phẩm Quốc gia (GNP) vào năm 1973 lên 10,5% vào năm 1977.
(Xem Bảng 4 về tài chính chính phủ). Vào năm 1977, chính phủ cũ bị hất cẳng trong
cuộc tổng tuyển cử và Fianna Fail trở lại nắm quyền lực. Chính phủ mới kế thừa một
khoản thâm hụt ngân sách khổng lồ, nhưng vẫn tiếp tục xu hướng chi tiêu thâm hụt. Để
giữ lời với cương lĩnh tranh cử của mình, chính phủ mới bắt buộc phải tăng chi tiêu công
để giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp và tài trợ cho chương trình này bằng việc gia tăng vay
mượn.
Cho đến thập niên 1970, IDA đã thu hút được một lượng đầu tư nước ngoài lớn
chưa từng có tiền lệ nhưng tỷ lệ thất nghiệp dai dẳng đã làm nảy sinh nghi vấn về sự
thành công trong chính sách công nghiệp của Ailen. Và để làm cho vấn đề này thêm phần
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 6 Biên dịch: Hải Đăng trầm trọng thì cuộc khủng hoảng dầu mỏ trong thập niên 1970 đã ảnh hưởng mạnh đến
Ailen, kéo đất nước này chìm sâu vào một cuộc khủng hoảng kinh tế sâu sắc.
Câu hỏi về Chính sách Công nghiệp – Liệu FDI có tác dụng không?
Mặc dù có sự hỗn loạn kinh tế vào giữa và cuối thập niên 1970, FDI vẫn tiếp tục
tăng trưởng. Tuy nhiên, IDA đã phải chịu đựng những lời chỉ trích liên tục rằng chiến
lược đầu tư nước ngoài mà tổ chức này chỉ đạo đã không đủ mạnh để có thể vực dậy nền
kinh tế Ailen. Những nhà phê bình tự hỏi rằng liệu các nhà đầu tư nước ngoài có biện hộ
được cho sự đối xử đặc biệt mà họ nhận được không, khi lưu ý rằng mặc dù có sự tăng
trưởng mạnh trong các ngành sản xuất dược phẩm và hàng điện tử thì sự thành công của
khu vực nước ngoài không lan tỏa xuống phần còn lại của nền kinh tế. Họ cũng buộc tội
rằng những mối liên kết với các chi nhánh nước ngoài và ngành công nghiệp địa phương
là hết sức hạn chế. (Xem Bảng 6 về các mối liên kết của các công ty nước ngoài trong

và ưu đãi cho các nhà cung cấp phụ của địa phương.
Báo cáo này không hoàn toàn đổ lỗi cho các công ty đa quốc gia (MNC) về sự
thiếu hội nhập, nhưng khẳng định rằng các MNC không có chọn lựa nào khác ngoài việc
ký hợp đồng cung ứng với các công ty hải ngoại vì những nhà cung ứng bản địa thiếu
kiến thức chuyên môn về các ngành kỹ thuật và cơ khí quan trọng.
23
Cụ thể là bản báo
cáo kêu gọi Ailen phải thực thi việc “nâng tỷ lệ ngân quỹ phân bổ cho các công ty xuất
khẩu hay cung ứng có kỹ năng của bản địa từ mức thấp hơn 40% lên 50% vào năm 1985
và 75% vào năm 1990.”
24

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 7 Biên dịch: Hải Đăng Bản báo cáo kiến nghị rằng chính phủ Ailen nên chọn từ 50 đến 75 “người chiến
thắng” – các công ty Ailen mà có sự quản lý được cho là đã đạt chất lượng hàng đầu – và
hỗ trợ cho các công ty này trở nên có thể cạnh tranh được trên trường quốc tế.
25
Bản báo
cáo đề xuất rằng các công ty yếu hơn nên sử dụng các kỹ năng của họ hướng đến hoạt
động định hướng xuất khẩu với sự hỗ trợ tiền của từ IDA.
26
Cuối cùng, trong điều mà có
vẻ như là đòn tấn công trực tiếp vào IDA, Báo cáo Telesis khẳng định rằng nổ lực phát

đó vẫn tỏ ra có thể chống chọi được với cuộc khủng hoảng kinh tế vĩ mô, rốt cuộc cũng
phải chào thua.
30

Cho đến năm 1987, Ailen mắc nợ nặng nề và ở bên bờ vực sụp đổ kinh tế. Tỷ lệ
nợ so với GDP lên đến 12,2%, thâm hụt ngân sách phình ra lên đến 12% GNP và tỷ lệ
thất nghiệp ở mức trên 17%.
31
Chính phủ thực hiện các cải cách rộng khắp, cắt giảm chi
tiêu chính phủ trong nổ lực giảm khoản nợ 12 tỷ bảng Ailen (1 bảng Ailen = 1,27 euro).
Thủ tướng Ailen giải thích:
Chúng tôi bắt buộc phải thực thi nhiều hơn nữa sự tiến bộ mà chúng tôi
đã đạt được cho đến nay trong năm nhằm đưa chi tiêu công nằm trong tầm kiểm
soát. Nếu chúng tôi không đạt được những sự cắt giảm quan trọng nhiều hơn nữa
về chi tiêu thì sự tăng trưởng nợ khu vực công sẽ tiếp tục là một gánh nặng cho
nền kinh tế, làm hạn chế tăng trưởng kinh tế và việc làm, và làm cho chúng tôi
không thể thực hiện được sự phát triển đúng hướng.
32

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 8 Biên dịch: Hải Đăng Các chủ doanh nghiệp, nông dân và các nghiệp đoàn tất cả đã chấp nhận kịch bản
kinh tế ảm đạm và nhận thức được nhu cầu về các biện pháp khắc khổ trong ngắn hạn.
Chính phủ tận dụng toàn bộ cơ hội của môi trường mới này và thúc đẩy các mối cộng tác

trợ giá cho nông nghiệp và giải ngân các quỹ cơ cấu được sử dụng cho phát triển cơ sở hạ
tầng. Số tiền ròng hàng năm mà Ailen nhận được từ EU lên đến khoảng 6% GDP trong
giai đoạn từ giữa thập niên 1980 đến giữa thập niên 1990, trong đó khoảng 2/3 có liên
quan đến nông nghiệp và 1/3 liên quan đến cơ cấu.
34
Mặc dù những con số tuyệt đối là
khá cao, nhưng người ta ước tính rằng các khoản chuyển nhượng này chỉ đóng góp chưa
đến 3% mỗi năm cho tốc độ tăng trưởng GDP của Aile trong thập niên 1990.
35

Thập niên 1990: Sự nổi lên của con Hổ vùng Celtic
Cho đến năm 1990, tốc độ tăng trưởng GDP của Ailen đạt đến 8,5% và kim ngạch
xuất khẩu của nước này tăng 23,5% từ năm 1985 đến 1990. Khả năng cạnh tranh trên thị
trường xuất khẩu của Ailen đã được cải thiện bởi tỷ giá hối đoái có lợi trong suốt những
năm cuối thập niên 1980 cho đến thập niên 1990. Một sự phá giá 10% đồng bản tệ vào
năm 1986, cùng với sức mạnh của đồng đô la Mỹ và bảng Anh vào cuối thập niên này, đã 2
Có nhiều định nghĩa khác nhau về sự cộng tác xã hội. Trong phạm vi bài viết này, sự cộng tác xã hội đuợc
hiểu là những thỏa ước cùng có lợi giữa nhà nước, doanh nghiệp và nghiệp đoàn (và có thể có thêm các tổ
chức khác) với mục đích tạo ra một thị trường lao động toàn dụng. (Chú giải của dịch giả)
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 9 Biên dịch: Hải Đăng
37

Trong cùng thời điểm, các công ty nước ngoài bắt đầu mở các nhà máy tại Ailen,
phần lớn nhờ vào khả năng xác định và thu hút các công ty mục tiêu của Ailen (xem
Bảng 7a về một cuộc điều tra tác động kinh tế của các công ty do IDA hỗ trợ, Bảng 7b
về nước xuất xứ của các công ty này và Hình 7c về các văn phòng khu vực của IDA).
Các nhân viên quốc tế dùng phần lớn thời gian tiến hành và phát triển các cuộc tiếp xúc
cấp cao với những công ty mục tiêu và IDA sử dụng đội ngũ nhân viên lưu động của
mình để thu thập thông tin tình báo về các xu hướng thị trường. Hội nghị hàng năm của
IDA là một sự kiện quan trọng cho việc đúc kết và thống nhất những sự phản hồi và xác
định các xu hướng và kiểu hình mới. Sự hiện diện của nhà sản xuất máy tính khổng lồ
Intel vào năm 1990 là một thành công to lớn của Ailen nói chung và IDA nói riêng, và là
ví dụ điển hình cho sự kiên trì và sáng tạo của IDA. Trước hết tổ chức này tiếp xúc với
các nhà điều hành của Intel vào cuối thập niên 1970 và nuôi dưỡng mối quan hệ này trong
hơn một thập niên cho đến khi các điều kiện trở nên thích hợp hơn cho việc đầu tư. IDA
đề nghị với Intel một gói trợ cấp 157 triệu USD trải đều trong 10 năm. Nhưng Intel quan
ngại đến sự thiếu vắng nguồn cung ứng đủ các kỹ sư có kinh nghiệm. IDA đã vạch ra một
kế hoạch nhằm giải quyết mối quan ngại của Intel: McGowan lập ra một danh sách các kỹ
sư Ailen đang làm việc trong ngành bán dẫn chủ yếu tại Hoa Kỳ, những người sẵn sàng
quay trở lại làm việc tại Ailen. Như McGowan đã viết, “Chúng tôi trình lên Intel một
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 10 Biên dịch: Hải Đăng cuốn sổ với tên tuổi, địa chỉ và số điện thoại của 85 người. Và tôi nghĩ rằng điều này đã
gây ấn tượng với họ.”

42
Ailen đã xây dựng trên cơ sở lợi thế của
người đi đầu và trở thành địa điểm lựa chọn cho các trung tâm tiếp xúc khách hàng liên
châu Âu.

Vai trò của FDI: cuộc Tranh luận

Dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào khổng lồ đã là một cú sốc tích cực
quan trọng ảnh hưởng đến nền kinh tế trong thập niên 1990… Tỷ phần của Ailen
trong tổng dòng vốn đầu tư chảy vào Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
(OECD) đã tăng mạnh trong thập niên 1990, đạt đến mức lớn hơn rất nhiều tỷ
phần GDP của Ailen trong khối này.
- OECD, Economic Survey (Điều tra Kinh tế), 1999.
Cho đến những năm đầu thập niên 1990, sự thành công của khu vực nước ngoài là
hiển nhiên và người ta ngày càng chấp nhận rộng rãi rằng sự gia tăng đáng kinh ngạc
trong xuất khẩu của Ailen hầu như đến từ các công ty nước ngoài có định hướng xuất
khẩu táo bạo. Mặt khác, một điều cũng rất rõ là xuất khẩu bản địa vẫn dậm chân tại chổ
nếu xét về mặt giá trị thực (đã khử lạm phát) và rằng nền kinh tế nội địa nhìn chung là tụt
hậu. Những nhà phê bình đổ lỗi cho chính sách xem FDI là chủ đạo dẫn dắt phải chịu
trách nhiệm về sự thay đổi này và đưa ra nhiều số liệu thống kê để minh chứng cho sự
buộc tội của mình. Đáng lưu ý nhất là có một tỷ lệ thất nghiệp cao mà biến thiên từ 14%
đến 16% xuyên suốt những năm đầu của thập niên 1990.
43
Một số khác thì khẳng định
rằng đây là một thứ phẩm của hiện tượng “thất nghiệp-tăng trưởng” mà đi kèm cùng với
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen


mua nguyên liệu từ nội địa Ailen. Hơn nữa, các cuộc điều tra này cũng nói lên rằng khó
có khả năng để mức trần này có thể bị phá vỡ, nếu xét đến sự bất lực của các nhà cung ứg
nội địa trong việc sản xuất ra các hàng hóa và dịch vụ cho khu vực công nghệ tinh vi.
Chương trình bị loại bỏ vào cuối thập niên này, qua đó ủng hộ lập luận của một số nhà
quan sát, những người nghi ngờ về lợi ích dài hạn của sự tăng trưởng do FDI tạo ra. Như
Sean Dorgan, Giám đốc Điều hành của IDA lưu ý, “Có lẽ trong quá khứ chúng ta đã tập
trung quá công khai vào việc tạo ra các mối liên kết. Có một thái độ của chủ nghĩa bảo hộ
về vấn đề này”. Các mối liên kết thì khó có thể đo lường được nhưng IDA đã sử dụng
chúng như là biến đại diện cho chi tiêu trực tiếp của các công ty nước ngoài trong nền
kinh tế.
46
Cuộc tranh luận về vấn đề các mối liên kết, mà đã là trọng tâm của chính sách
FDI tại Ailen, đặc biệt gây cấn bởi vì một số người tin rằng chỉ riêng các mối liên kết có
thể thúc đẩy tăng trưởng việc làm và sự phát triển của nền công nghiệp cung ứng phụ nội
địa. Nhưng một số nghiên cứu kết luận rằng các công ty nước ngoài có xu hướng có các
mối liên kết thấp hơn là các doanh nghiệp nội địa và rằng có những khác biệt giữa các
khu vực/ngành về mức độ các mối liên kết tạo ra.
47

Các học giả phân tích sự tương tác giữa các công ty nước ngoài và nội địa xác
nhận rằng, thật ra có ít “sự cạnh tranh sản phẩm-thị trường” giữa hai đối tượng này. Họ
lập luận nguyên nhân đằng sau việc này nằm ở nước xuất xứ và cơ cấu khác biệt của các
công ty nước ngoài và nội địa. Các công ty nước ngoài tập trung chủ yếu vào những thị
trường xuất khẩu ngoài Anh quốc và 80% lượng hàng xuất khẩu của họ đến từ các ngành
hóa chất và dược phẩm; các doanh nghiệp trong nước trái lại tiếp tục xuất khẩu phần lớn
đến thị trường nước Anh, và chỉ có 10% hàng xuất khẩu của họ là đến từ các ngành hóa
chất và dược phẩm.
48
Trong khi câu hỏi về các mối liên kết tiếp tục được tranh luận trong
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa

52
mặc dù sự tăng trưởng
này tập trung phần lớn vào ba ngành công nghiệp chế tạo chính – hóa chất, máy tính và
cơ khí điện (xem Bảng 8 về dữ liệu sở hữu và sản lượng công nghiệp chế tạo). Hơn nữa,
vào cuối thập niên 1990, Ailen đã thu hút tất cả các tên tuổi lớn trong ngành công nghệ
thông tin: Gateway, Dell, AST, Apple, Hewlett Packard và Siemens Nixdorf về sản xuất
máy tính; và Microsoft, Lotus và Oracle về phần mềm (xem Bảng 9 về số liệu thống kê
trong ngành công nghiệp phần mềm). Chỉ riêng ba ngành này gộp lại đã chiếm đến 40%
tăng trưởng GDP của Ailen trong suốt thập niên 1990 và 78% tăng trưởng công nghiệp
vào năm 1998.
53

Trong khi FDI gia tăng là chủ đề của thập niên 1990, sự suy thoái toàn cầu năm
2001 đã góp phần vào sự giảm sút mạnh luồng FDI vào Ailen. Sự tổn thất 13% công việc
tại các công ty mà IDA hỗ trợ đi cùng xu hướng đi xuống này và sau đó đã làm dấy lên
những mối quan ngại về tính dễ bị tổn thương của Ailen đối với các xung lực bên ngoài
(xem Bảng 10 về việc làm tại các công ty mà IDA hỗ trợ và Bảng 11 về tiền lương tại
Ailen). Trong khi nhiều nguời thấy sự phụ thuộc vào các công ty nước ngoài của Ailen là
một mối đe doạ nghiêm trọng thì Dorgan quả quyết rằng đây là kết quả không thể tránh
khỏi của sự toàn cầu hóa. Ông ta giải thích, “Nền kinh tế mở của chúng tôi làm giảm sự
phân biệt giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Sự cung ứng toàn cầu hiện nay là
một thực tế.”
54
Ailen chắc chắn đã nắm lấy thời cơ của toàn cầu hóa, khi đứng đầu trong
Chỉ số Toàn cầu hóa của A.T. Kearney từ năm 2002 đến 2004. Dù vậy, những người khác
bác lại lý do của Dorgan:
Lập luận rằng sự toàn cầu hóa làm cho các công ty toàn cầu và địa
phương là giống nhau về cơ bản là không đúng. Ví dụ, việc quản lý cấp cao của
tập đoàn CRH
55

để hoạt động và tồn tại.
56

Các nổ lực khác nhằm giải thích cho sự bùng nổ của Ailen tập trung vào lý thuyết
bắt kịp - kết quả chắc chắn xảy ra của các chính sách kinh tế cẩn trọng sau hàng thập kỷ
quản lý tồi. Tồi tệ hơn, một số người tuyên bố rằng sự bùng nổ này là sản phẩm ảo tưởng
của việc chuyển giá mờ ám. Các mức thuế suất thuế doanh nghiệp thấp đã cám dỗ các
công ty đa quốc gia thổi phồng mức lợi nhuận của các chi nhánh tại Ailen của mình. Điều
này thường đạt được bằng cách ghi vào sổ sách các giao dịch nội bộ với mức giá chuyển
giao mà phục vụ cho việc định vị tại Ailen một tỷ lệ phần trăm lớn trong lợi nhuận toàn
cầu của công ty.
57
Một số nhà quan sát tin rằng những thông lệ này đã phóng đại các con
số về GDP của Ailen đến mức độ mà chúng hoàn toàn làm sai lệch thành quả kinh tế thực
sự của nước này. Một số khác thì phản đối khi cho rằng các tốc độ tăng trưởng – trái với
với các mức sản lượng tuyệt đối - vẫn không bị ảnh hưởng bởi các vấn đề về chuyển giá.
Brian Cogan của Forfás phủ nhận quan điểm cho rằng sự bùng nổ này là bịa đặt: “Việc
chuyển giá tự thân chỉ xuất hiện khi đồng tiền chảy vào và sau đó lại chảy ra. Nó không
giải thích được tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống, các mức kỹ năng gia tăng của công nhân và
các mức thu nhập cao hơn tại Ailen.”
58
Mặc dù tác động của việc chuyển giá đến GDP
của Ailen rất khó lượng hóa nhưng đáng để lưu ý rằng bốn ngành công nghiệp FDI thịnh
vượng – cô đặc cola, phần mềm, dược phẩm, và máy tính - đặc biệt ở vị thế hưởng lợi từ
việc chuyển giá.
59Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Bài đọc

Trớ trêu thay, sự thành công trong kinh tế của Ailen trong thập niên 1990 đã làm
xói mòn nhiều lợi thế cạnh tranh trước đây của nước này. Lạm phát cao hơn khá nhiều so
với mức trung bình của EU, qua đó làm cho Ailen trờ thành quốc gia đắt đỏ thứ nhì trong
khu vực đồng euro (sau Phần Lan) và tạo ra sự sử dụng rộng khắp thuật ngữ “Ailen đắt
đỏ” của công chứng và phương tiện truyền thông đại chúng. Ailen đã trở thành một nơi
làm kinh doanh đắt đỏ. Ngay cả việc nhập cư đáng kể cũng không thể ngăn ngừa sự thiếu
hụt lao động, mà đến lượt mình tạo ra sự gia tăng tiền lương trong khu vực tư nhân và tạo
áp lực lên các nghiệp đoàn buộc họ phải phản ứng. Những nỗi lo sợ ngày càng nhiều rằng
sự cộng tác xã hội sẽ sụp đổ khi các nghiệp đoàn mưu cầu phần mình được hưởng trong
sự thịnh vượng mới. Kieran McGowan giải thích nền tảng đã thay đổi như thế nào:
“Trong thập niên 1980, mọi người có thể đồng ý về nhu cầu giảm tỷ lệ thất nghiệp. Bây
giờ thì việc liệu dân chúng sẽ đặt sự thịnh vuợng của đất nước lên trên lợi ích cá nhân của
mình hay không là điều không rõ ràng.”
63

IDA đã nhanh chóng bắt đầu tái định vị đất nước, qua việc sử dụng mức thuế suất
thấp, tiền lương, giáo dục và tư cách thành viên EU của Ailen như là những điểm sáng
giá. IDA muốn “đưa Ailen vào số các nước đi đầu trong nền kinh tế toàn cầu… và [áp
dụng một] tầm nhìn rộng hơn về những gì tạo ra FDI, với ít sự nhấn mạnh hơn đến số
lượng việc làm và tập trung nhiều hơn vào chất lượng việc làm, các hoạt động giá trị gia
tăng cao hơn, và làm cho Ailen trở thành một trung tâm của sự cách tân và sự quản lý
chiến lược các chuỗi giá trị, hơn là việc đơn thuần chỉ là một nơi sản xuất hay dịch vụ cơ
bản.”
64
Mục tiêu là giảm sự phụ thuộc của Ailen vào sự sản xuất bằng cách nhắm tới mục
tiêu về các phần còn chiếm tỷ lệ chưa tuơng xứng trong chuỗi giá trị ví dụ như nghiên cứu
và phát triển, bán hàng, và tiếp thị. ESG vạch ra sự thách thức đáng kể phía trước:
Theo các tiêu chuẩn toàn cầu, phần lớn khu vực sở hữu nước ngoài vẫn
còn được định vị ở một điểm tương đối thấp trong chuỗi giá trị. Nghiên cứu và
phát triển, tiếp thị hay các năng lực khác mà củng cố sức mạnh cạnh tranh của

lũng Silicon thì văn phòng tại Ailen đã đảm nhận phần việc bán hàng và các hoạt động
trên mạng tại các thị trường EMEA. Một nhà quản lý của Google giải thích sự chuyển đổi
này:
Có hai nhân tố quyết định: thuế thấp và một lực lượng lao động có thể
nói được nhiều thứ tiếng. Ailen cung cấp một môi trường thuế rất ưu đãi, cũng
giống như Thụy Sĩ và Hà Lan, và chúng tôi hết sức ấn tượng với số lượng ngôn
ngữ sẵn có. Chúng tôi cũng có thể có được điều này tại Thụy Sĩ, nhưng với một
chi phí lao động cao hơn nhiều. Chúng tôi không cảm thấy rằng mình có thể có
được cùng con số ngôn ngữ như vậy ở Hà Lan. Hơn nữa, IDA đã giúp đỡ chúng
tôi rất nhiều từ đầu đến cuối.
68

Cũng trong cùng thời điểm này, Wyeth, công ty dược phẩm có doanh số 16 tỷ đô
la Mỹ của Hoa Kỳ, tuyên bố các kế hoạch đầu tư 1,5 tỷ euro vào hoạt động R&D tại
Ailen, một phần được hỗ trợ bởi sự giảm thuế mới cho các khoản đầu tư R&D mà chính
phủ Ailen áp dụng trong năm 2004. Sự phát triển các cụm ngành
69
và các mối liên kết
vững mạnh hơn giữa các trường đại học và doanh nghiệp được xem như đóng vai trò cốt
yếu trong việc tạo ra một môi trường R&D tốt đẹp và Quỹ Khoa học Ailen (SFI) được
hình thành trong năm 2003 nhằm khuyến khích sự hợp tác giữa giáo dục, chính phủ, và
ngành công nghiệp. SFI dự tính đầu tư 652 triệu đô la Mỹ trong giai đoạn 2000-2006 cho
các nhà nghiên cứu hàn lâm và các nhóm nghiên cứu trong hai lĩnh vực: công nghệ sinh
học và công nghệ thông tin và truyền thông.
70

IDA có vai trò trung tâm trong những sự phát triển này, nhưng một số nhà bình
luận nghi ngờ rằng liệu tổ chức này có tự vươn xa quá mức không. Lý do tồn tại của tổ
chức này luôn luôn là tạo ra công ăn việc làm và thành công của họ vì vẩy có thể được đo
lường dễ dàng. Tuy nhiên, trong một kỷ nguyên toàn dụng lao động thì trọng tâm đã

Việc xác định nguyên nhân của sự bùng nổ là rất quan trọng đối với việc duy trì
sự bùng nổ đó và tương lai của Ailen tùy thuộc vào các bài học học hỏi được từ những
năm là Con Hổ Vùng Celtic. Nếu sự tăng trưởng được tạo ra bởi FDI, như ESG tin là như
vậy, thì có lẽ sự tập trung nên tiếp tục vào việc thu hút đầu tư tốt hơn từ nước ngoài.
Nhưng điều gì xảy ra nếu FDI không phải là nguyên nhân chủ yếu? Liệu Ailen có quá
phụ thuộc vào người nước ngoài? Liệu những nguồn lực khan hiếm có thể được dùng tốt
hơn cho những cải cách giáo dục, cải thiện cơ sở hạ tầng hay khuyến khích các doanh
nghiệp bản địa? Các nhà hoạch định chính sách có nhiều chọn lựa để tiến về phía trước.
Bảng 1a. Dòng FDI vào Ailen phân theo hình thức đầu tư, 1975-2001 (triệu đô la Mỹ)
Năm 1974 1975 1980 1985 1990 1995 2000 2001

Đầu tư vào

Vốn cổ phần n.a n.a n.a n.a n.a n.a 12127 5339
Lợi nhuận tái đầu tư n.a n.a n.a n.a 660 2006 10819 10432
Khác 51 158 286 164 -33 -560 -168 -5905
Tổng cộng
51 158 286 164 627 1446 22778 9866

Đầu tư ra

Vốn cổ phần n.a n.a n.a n.a n.a n.a 3254 3765
Lợi nhuận tái đầu tư n.a n.a n.a n.a 365 820 1300 1973
Khác -571 -334
Tổng cộng
365 820 3983 5404
Nguồn: Lấy từ UNCTAD, cơ sở dữ liệu FDI. Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa

Laura Alfaro và cộng sự 19 Biên dịch: Hải Đăng
Hiệu đính:

Bảng 3. Tài khoản quốc gia và các dữ liệu kinh tế khác (tỷ đô la Mỹ)
1970 1975 1980 1985 1990 1995 2000 2001 2002 2003 GDP (tỷ đô la Mỹ)
20,8 26,5 33,1 37,5 47,2 59,3 94,8 100,6 107,6 111,6
Chi tiêu tiêu dùng cuối cùng của chính phủ 4,6 6,6 8,4 8,8 8,5 9,7 13,2 14,7 16,3 n.a
Tích lũy tài sản cố định n.a 6,1 9,2 8,4 11,1 12,2 23,7 23,4 23,4 n.a
Chi tiêu tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình 14,7 17,5 22,0 22,4 26,6 31,1 45,0 47,3 48,3 n.a
Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ 5,0 6,4 10,1 14,9 22,8 41,6 92,3 99,9 106,1 n.a
Nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ 7,2 8,3 13,6 15,9 22,3 35,7 79,9 85,1 87,1
Thay đổi trong hàng tồn kho n.a -2,0 -3,1 -1,2 0,4 0,4 0,5 0,4 0,6 n.a Chi tiêu tính theo % của GDP

Chi tiêu tiêu dùng cuối cùng của chính phủ 21,9 25,1 25,5 23,4 18,0 16,4 13,9 14,6 15,1 n.a
Chi tiêu tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình, v.v 70,6 66,2 66,6 59,7 56,4 52,4 47,5 47,0 44,9 n.a
Tích lũy tài sản cố định n.a 23,1 23,1 22,5 23,6 20,6 25,0 23,3 21,7 n.a
Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ 23,9 24,3 24,3 39,8 48,4 70,2 97,4 99,3 98,6 n.a
Nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ 34,8 31,4 31,4 42,4 47,2 60,2 84,4 84,6 81,0 n.a GDP bình quân đầu người
7.005,3 8.327,1 9.719,7 10.590,4 13.458,1 16.463,0 24.848,4 26.035,3 27.373,1 27.932,0
Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của GDP
bình quân đầu người (%)

Theo tỷ lệ % của GDP

Thu ngân sách 43,5 40,4 39,4 39,5 38,6 37,2 37,0 36,4 34,5 22,7 34,5 34,1
Chi ngân sách 53,8 43,2 41,5 39,6 37,2 34,9 34,5 32,0 33,5 33,8 34,3 33,9
Cán cân ngân sách -10,3 -2,8 -2,1 -0,1 1,5 2,3 2,5 4,4 1,0 -0,2 0,2 0,2
Trả lãi nợ vay 4,3 6,8 6,2 4,0 3,2 2,6 2,4 1,5 0,9 0,2 0,2 0,2 0,2
Cán cân cơ bản -6,2 -3,5 3,4 1,9 3,1 4,1 4,7 3,9 5,3 1,1 0,0 0,4 0,3
Nợ công 66,4 na 95,4 84,7 76,6 68,1 57,2 50,9 42,1 36,6 34,0 32,3 30,3

Tỷ giá hối đoái

Bảng Ailen: đô la Mỹ (trung bình) 0,72 1,31 0,79 0,76 0,79 0,88 0,89 0,94 1,08 1,12 1,06 0,88 0,80
Nguồn: Lấy từ Economist Intelligence Unit
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Niên khóa 2005 – 2006 Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 21 Biên dịch: Hải Đăng
Hiệu đính:

Bảng 5. Cán cân Thanh toán, tỷ đô la Mỹ

1975 1980 1985 1990 1995 2000 2001 2002 2003 2004

Tài khoản vãng lai
XK hàng hóa: FOB 3,0 8,2 10,1 23,3 44,4 73,5 77,6 84,2 89,6 98,7
NK hàng hóa: FOB -3,5 -10,5 -9,5 -19,4 -30,9 -48,5 -50,4 -50,8 -51,8 -59,2
Cán cân thương mại -0,5 -2,2 0,6 3,9 13,6 25,0 27,3 33,4 37,8 39,6
Dịch vụ: Có 0,6 1,4 1,3 3,4 5,0 18,5 23,5 28,6 38,0 47,2

Tài khoản tài chính, NIE
Các khoản sai sót ròng 0,5 2,7 1,1 -2,0 0,0 8,9 0,0 -0,2 -0,1 3,5
Cán cân toàn bộ 0,0 0,1 -0,4 2,6 -0,2 -8,5 0,4 -1,3 -1,2 -4,6
Huy động vốn -0,3 -0,7 0,0 -0,6 -2,3 0,0 -0,4 0,3 1,9 1,4
Tài sản dự trữ quốc tế n.a n.a n.a n.a n.a n.a 5,6 5,5 4,2 n.a

GDP (tỷ đô la Mỹ hiện hành) 9,1 20,9 20,4 47,3 66,5 94,8 102,4 121,4 121,7 153,7
Nguồn: Lấy từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), cơ sở dữ liệu Thống kê Tài chính Quốc tế và Chỉ số Phát triển
Thế giới (WDI), Ngân hàng Thế giới (World Bank).

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Niên khóa 2005 – 2006 Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 22 Biên dịch: Hải Đăng
Hiệu đính:

Bảng 6. Các mối liên kết của các công ty nước ngoài trong ngành công nghiệp chế biến:
nguyên liệu thô của Ailen tính theo tỷ lệ phần trăm tổng mua nguyên liệu thô.

1986 1989 1992 1995
Công nghiệp chế biên không phải là thực phẩm 16,2% 16,5% 19,2% 19,8%
(Triệu bảng Ailen) 353 546 734 1.326
Nguồn: Forfás
Lưu ý: Không tính đến Thực phẩm, Đồ uống và Thuốc lá Bảng 7a. Điều tra về tác động kinh tế của các công ty do IDA hỗ trợ (tỷ euro)
Điều tra 1999 2000 2001 2002

nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 23 Biên dịch: Hải Đăng
Hiệu đính:

Hình 7c. Sự hiện diện của IDA: trong nước và quốc tế

Nguồn: Trang web của IDA Ailen, />, truy cập vào ngày 17 tháng Bảy năm 2005.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Toàn cầu hóa
Niên khóa 2005 – 2006 Bài đọc
Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (FDI) và
nền Kinh tế Hùng mạnh của Ailen

Laura Alfaro và cộng sự 24 Biên dịch: Hải Đăng
Hiệu đính:

Bảng 8. Số liệu tổng hợp về ngành công nghiệp chế biến
Quốc tịch chủ sở hữu Số lượng nhà
máy
Tổng số nhà
máy tham
gia
Tổng sản
lượng
Mua nguyên
liệu
% tổng sản
lượng được
xuất khẩu


7.793 100 8.943 100 11.784 100 18.300 100
Doanh thu (triệu đô la Mỹ)

Ailen sở hữu 234 9 368 12 610 13 739 12
Nước ngoài sở hữu 2.465 91 2.739 88 4.125 87 5.506 88
Tổng cộng
2.699 100 3.107 100 4,735 100 6.245 100
Xuất khẩu (triệu đô la Mỹ)

Ailen sở hữu 95 4 181 6 357 8 511 9
Nước ngoài sở hữu 2.415 96 2.691 94 4.085 92 5.397 91
Tổng cộng
2.510 100 2.872 100 4.442 100 5.908 100
Nguồn: Lấy từ Paul P. Tallon và Kenneth L. Kraemer, “The Impact of Technology on Ireland’s Economic
Growth and Development: Lessons for Developing Countries (Tác động của Công nghệ đối với Tăng
trưởng và Phát triển Kinh tế của Ailen: những Bài học cho các Nước đang Phát triên”, Biên bản lưu của Hội
nghị Quốc tế Hawaii về Khoa học Hệ thống lần thứ 32, 1999.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status