Phân tích tình hình rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội - Pdf 19

Phân tích tình hình rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội
Chương 1
GIỚI THIỆU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Năm 2012 vừa qua là một năm đầy khó khăn cho hệ thống ngân hàng thương
mại Việt Nam. Do tình hình kinh tế suy thoái, lạm phát tăng cao làm cho sức mua
của người dân giảm, sản xuất đình trệ… kéo theo hàng loạt doanh nghiệp phá sản.
Trước tình hình đó việc ngân hàng cho vay và thu hồi vốn tại các doanh nghiệp
này gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa do dư nợ bất động sản chiếm tỷ trọng cao trong
cơ cấu tín dụng của các ngân hàng thương mại, nên việc thị trường bất động sản
mất thanh khoản đã khiến quy mô nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng tiếp tục
tăng nhanh. Trong khi hoạt động tín dụng lại là một trong những hoạt động mang
lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, chiếm 80% - 90% tổng thu nhập. Do đó vấn
đề đáng lo ngại đối với hầu hết các ngân hàng là rủi ro tín dụng. Đây là loại rủi ro
lớn nhất, thường xuyên xảy ra, là nguyên nhân mở đầu dẫn đến rủi ro thanh khoản
và rủi ro lãi suất nên hậu quả của nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến một ngân
hàng mà còn ảnh hưởng đến cả một hệ thống ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế. Vì
vậy, phân tích tình hình rủi ro tín dụng để từ đó đưa ra những biện pháp kiểm soát,
hạn chế rủi ro tín dụng là việc được quan tâm hàng đầu tại các ngân hàng hiện nay.
Nhìn chung, trong năm 2012, hầu hết các ngân hàng đều có tăng trưởng tín dụng
thấp, nợ xấu tăng cao. Trong khi đó, Ngân hàng TMCP Quân Đội đã đạt được hầu
hết các mục tiêu đặt ra và vượt cao so với kế hoạch chủ yếu là trong lĩnh vực huy
động vốn để cho vay cụ thể là mức tăng trưởng tín dụng bỏ xa so với bình quân
toàn ngành. Mà tăng trưởng tín dụng cao tiềm ẩn nhiều rủi ro và vấn đề thu hồi nợ
luôn là mối lo đối với tất cả cán bộ làm công tác tín dụng. Bởi vì việc thẩm định
giải quyết một món vay đã khó, thu hồi đầy đủ gốc lẫn lãi là công việc khó hơn
nhất là nợ quá hạn lẫn nợ xấu. Cho nên công tác phân tích tình hình rủi ro tín dụng
tại ngân hàng một cách thường xuyên để kịp thời đưa ra những giải pháp nhằm
ngăn ngừa, hạn chế rủi ro tín dụng luôn được các nhà lãnh đạo tại Ngân hàng
TMCP Quân Đội chú trọng. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó nên em đã chọn đề
tài “Phân tích tình hình rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần

dụng rất phổ biến trong quá trình phân tích hoạt động kinh doanh cũng như trong
phân tích và dự báo các chỉ tiêu kinh tế - xã hội thuộc lĩnh vực kinh tế vĩ mô.
Trong phương pháp này có 2 phương pháp:
+ Phương pháp so sánh bằng số tuyệt đối: Phương pháp này sử dụng để so
sánh số liệu năm tính với số liệu năm trước của các chỉ tiêu xem có biến động
GVHD: ThS. Nguyễn Xuân Vinh - 2 - SVTH: Phan Nguyễn Triết Giang
Phân tích tình hình rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội
không và tìm ra nguyên nhân biến động của các chỉ tiêu kinh tế, từ đó đề ra biện
pháp khắc phục.
∆y = y
1
- y
0
Trong đó: y
0
: chỉ tiêu năm trước
y
1
: chỉ tiêu năm sau
∆y : là phần chệnh lệch tăng, giảm của các chỉ tiêu kinh tế.
+Phương pháp so sánh số tương đối: Phương pháp dùng để thể hiện mức độ
hoàn thành hoặc tỷ lệ số chênh lệch tuyệt đối so với chỉ tiêu gốc để nói lên tốc độ
tăng trưởng hay thể hiện chênh lệch về tỷ trọng của từng bộ phận chiếm trong tổng
số giữa kỳ phân tích với kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích, nó phản ánh xu hướng biến
động bên trong của chỉ tiêu.
y
1

∆y = x 100%
y

Rủi ro tín dụng là rủi ro do một hoặc một nhóm khách hàng không thực hiện
được các nghĩa vụ tài chính đối với Ngân hàng. Nói cách khác, rủi ro tín dụng là
rủi ro xảy ra khi xuất hiện những biến cố không lường trước được do nguyên nhân
chủ quan hay khách quan mà khách hàng không trả được nợ cho Ngân hàng một
GVHD: ThS. Nguyễn Xuân Vinh - 4 - SVTH: Phan Nguyễn Triết Giang
Dư nợ đầu năm + Dư nợ cuối năm
2
Phân tích tình hình rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội
cách đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn, từ đó tác động xấu đến hoạt động của Ngân
hàng và có thể làm cho Ngân hàng bị phá sản.
Đây là vấn đề lớn nhất, thường xuyên xảy ra và thường gây hậu quả nặng nề
nhất. Thông thường ở các nước trên thế giới, nghiệp vụ tín dụng mang lại 2/3 thu
nhập cho Ngân hàng. Còn ở Việt Nam, trong giai đoạn hiện nay, thu nhập từ hoạt
động tín dụng mang lại thường chiếm từ 80 - 90% tổng thu nhập của mỗi Ngân
hàng. Nhưng đồng thời trong lĩnh vực này cũng chứa đựng nhiều rủi ro bởi các
khoản tiền cho vay bao giờ cũng có xác suất vỡ nợ cao hơn so với những khoản
đầu tư khác. Do vậy rủi ro là một vấn đề cần phải được quan tâm ngay từ khi bắt
đầu một công việc.
- Phân loại
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia
thành các loại sau:
Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát
sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá
khách hàng.
Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát
sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng.
2.1.2 Sự cần thiết phải phân tích tình hình rủi ro tín dụng trong kinh
doanh ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, sự cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh
các doanh nghiệp càng trở nên phức tạp và gay gắt hơn. Những rủi ro trong sản

dụng tín ro rủisố Hệ
=
Tỷ lệ này phản ánh trong 100 đồng dư nợ cho vay thì có bao nhiêu đồng nợ xấu
(Nợ nhóm 3,4,5). Tỷ lệ này càng nhỏ càng tốt cho ngân hàng.
2.2.3 Hệ số khả năng mất vốn (%)
Hệ số khả năng mất vốn sử dụng để đánh giá khoản tiền đã cho vay mà có khả
năng khơng thể thu hồi được.
Hệ số khả năng mất vốn = x 100%
Hệ số này phản ánh bình qn mỗi đồng dư nợ cho vay của ngân hàng thì có
bao nhiêu đồng có khả năng khơng thu hồi được. Hệ số này càng cao càng cho
thấy khả năng gặp rủi ro tín dụng của ngân hàng là rất lớn.
2.2.4 Các hệ số về trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
 Hệ số dự phòng rủi ro tín dụng
GVHD: ThS. Nguyễn Xn Vinh - 6 - SVTH: Phan Nguyễn Triết Giang
Dư nợ q hạn
Tổng Dư nợ cho vay
x 100%
Nợ có khả năng mất vốn
Dư nợ bình qn
x 100%
Phân tích tình hình rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội
Hệ số dự phòng rủi ro tín dụng nhằm đánh giá khả năng đảm bảo an toàn
cho hoạt động tín dụng mỗi khi xuất hiện rủi ro.
Hệ số dự phòng rủi ro tín dụng = x 100%
Hệ số này phản ánh trong 100 đồng dư nợ thì có bao nhiêu đồng dự phòng
được trích lập để bảo vệ ngân hàng khỏi rủi ro tối đa. Tuy nhiên chỉ tiêu này quá
lớn sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
 Hệ số khả năng bù đắp rủi ro tín dụng
Chỉ tiêu khả năng bù đắp rủi ro tín dụng để đánh giá khả năng đảo bảo an
toàn cho những khoản nợ xấu của ngân hàng.

vào năm 2012. Theo đó tình hình lạm phát giảm mạnh về mức 6,81% vào năm
2012.
Bên cạnh đó kinh tế xã hội nước ta trong giai đoạn này cũng đương đầu với
nhiều khó khăn, thách thức. Đáng chú ý là thị trường hàng hóa năm 2012 khá ảm
đạm với sức mua yếu và tồn kho ở mức cao, bình quân cả năm chỉ số CPI của cả
nước ở mức 6,81%. Từ 2010 đến 2012, nền kinh tế cả nước tăng trưởng với tốc độ
chậm, ước tính tốc độ tăng trưởng GDP năm 2012 đạt 5,03% thấp hơn so với năm
2011 là 5,89% và năm 2010 là 6,78%. Sự suy giảm của nền kinh tế trong nhiều
năm liên tiếp đã khiến nhiều doanh nghiệp lao đao. Theo số liệu từ Bộ Kế hoạch
và Đầu tư, năm 2011 có gần 49.000 doanh nghiệp giải thể và ngừng hoạt động và
riêng năm 2012 có 55.000 doanh nghiệp đăng ký giải thể, ngừng hoạt động, các
doanh nghiệp này chủ yếu trong lĩnh vực bất động sản và chứng khoán, xu hướng
cho thấy hiện nay các doanh nghiệp đang chuyển dịch dần ra khỏi hai ngành nói
trên.
3.1.2 Một số điểm nổi bật trong hoạt động ngành ngân hàng
Nói về bức tranh hoạt động của ngành giai đoạn 2010-2012 có thể đề cập đến
những điểm chính sau: Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay có sự biến động
lớn, tăng vọt vào cuối năm 2010 (cao nhất đạt mức 18%) và tiếp tục tăng nhanh có
thời điểm huy động VNĐ lên đến 20%/năm. Tuy nhiên năm 2012 lãi suất đã giảm
mạnh về mức định hướng của NHNN đề ra ngay từ đầu năm và đã trở về với mức
lãi suất cuối năm 2007. Tỷ giá có chênh lệch lớn giữa giá niêm yết và giá trên thị
GVHD: ThS. Nguyễn Xuân Vinh - 8 - SVTH: Phan Nguyễn Triết Giang
Phân tích tình hình rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội
trường tự do vào năm 2010, sau sự điều chỉnh giá mạnh từ 18.932 đến 20.693
VNĐ/USD năm 2011 tỷ giá có sự tăng nhẹ và tương đối ổn định trong năm 2012.
Giai đoạn 2010-2012, sau khi NHNN ban hành quy định đóng cửa các sàn
giao dịch vàng trong nước kể từ 30/3/2010, không cho phép các ngân hàng được
kinh doanh vàng tài khoản ở nước ngoài kể từ 30/6/2010 theo thông tư
22/2010/TT-NHNN, Chính phủ đã ban hành Nghị định 24/2012/NĐ-CP vào năm
2012 cùng một loạt các văn bản chấm dứt hoạt động kinh doanh vàng ở các

GVHD: ThS. Nguyễn Xuân Vinh - 10 - SVTH: Phan Nguyễn Triết Giang
Cơ quan kiểm
soát nội bộ
Ban kiểm
soát
Hội đồng quản trị
Văn phòng
hội đồng quản trị
Các ủy ban cao cấp:
1. Ủy ban về vấn đề nhân sự
2. Ủy ban ALCO
3. Ủy ban quản trị rủi ro
4. Ủy ban tín dụng
Khối kiểm tra
kiểm soát nội bộ
Khối tài chính
kế toán
Khối quản trị rủi ro
Khối tổ chức nhân
sự
Văn phòng CEO
Văn phòng triễn
khai chiến lược
Khối đầu tưKhối thẩm định
Phòng chính trị Ban xây dựng cơ
bản
Khối
khách
hàng lớn
Khối

Số tiền % Số tiền %
Doanh thu
4.088 5.147 7.815 1.059 25,91 2.668 51,84
Chi phí
1.800 2.522 4.725 722 40,11 2.203 87,35
Lợi nhuận trước
thuế 2.288 2.625 3.090 337 14,73 465 17,71
(Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo tài chính hợp nhất MB các năm 2011, 2012)
Giai đoạn 2010 – 2012, tình hình kinh tế vô cùng khó khăn hàng loạt các
doanh nghiệp phá sản do đầu tư quá nhiều vào thị trường bất động sản; dẫn đến nợ
xấu cho các ngân hàng tăng lên và làm cho lợi nhuận đặt ra đầu năm 2012 của các
ngân hàng đều khó có thể đạt được. Trong bối cảnh đó, MB đã có những bước đi
đúng đắn, có những điều chỉnh thích hợp với thị trường. Kết quả là qua 3 năm
(2010-2012) lợi nhuận của ngân hàng những năm sau đều tăng trưởng hơn năm
trước, được thể hiện qua hình sau:
Hình 2: Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
GVHD: ThS. Nguyễn Xuân Vinh - 11 - SVTH: Phan Nguyễn Triết Giang
năm
Nghìn Tỷ đồng
Phân tích tình hình rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội
Qua biểu đồ ta thấy lợi nhuận của ngân hàng luôn tăng. Cụ thể năm 2011, lợi
nhuận của ngân hàng tăng 337 tỷ đồng (tăng 14,73%) so với năm 2010. Đến năm
2012, lợi nhuận tăng 465 tỷ đồng (tăng 17,71%) so với năm 2011 vươn lên đứng
đầu ngành. Nguyên nhân chủ yếu do MB đã dự báo xu hướng đúng đắn, bám sát
diễn biến của thị trường và tình hình kinh tế chung, cơ cấu lại danh mục cho vay
và đầu tư. Đặc biệt năm 2012, trước tình hình tín dụng chung của toàn ngành gặp
nhiều khó khăn, MB đã đẩy mạnh các mảng hoạt động dịch vụ, các hoạt động có
hàm lượng công nghệ cao, phát triển các sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ trọn gói,… đưa
mảng dịch vụ này phát triển mạnh, làm cho lợi nhuận từ hoạt động dịch vụ có xu
hướng tăng lên trong khi tỷ trọng lợi nhuận từ tín dụng giảm xuống. Ngoài ra,

ĐỘI
3.3.1 Phân tích tình hình dư nợ của ngân hàng
 Tình hình dư nợ của ngân hàng theo thời hạn
Dư nợ cho vay là khoản tiền đã giải ngân mà ngân hàng chưa thu hồi về.
Đây cũng là chỉ tiêu xác thực để đánh giá quy mô hoạt động tín dụng của ngân
hàng. Để hiểu rõ hơn tình hình dư nợ của ngân hàng trong ba năm qua ta xem bảng
số liệu sau:
Bảng 2: TÌNH HÌNH DƯ NỢ THEO THỜI HẠN TÍN DỤNG
CỦA MB QUA 3 NĂM (2010-2012)
ĐVT: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 2011/2010 2012/2011
Số
tiền
%
Số
tiền
%
Số
tiền
%
Số
tiền
%
Số
tiền
%
DN ngắn
hạn
32.751 67,12 39.866 67,52 52.980 71,13 7.115 21,72 13.114 32,90

bằng lãi suất dài hạn giảm mạnh, tuy nhiên dư nợ tín dụng trung, dài hạn không
phát triển bởi doanh nghiệp vẫn ngại tăng đầu tư khi khả năng mở rộng thị trường,
đầu ra sản phẩm còn khó. Bên cạnh đó, cho vay trung, dài hạn có độ rủi ro cao nên
ngân hàng cũng rất thận trọng trong việc giải ngân.
[2]
Qua số liệu phân tích trên ta thấy cơ cấu cho vay của MB chủ yếu tập trung
vào mảng tín dụng ngắn hạn.
 Tình hình dư nợ của ngân hàng theo ngành nghề
Để phân tích cụ thể hơn về sự tăng trưởng của dư nợ, chúng ta lần lượt xem
xét tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng của từng ngành nghề qua bảng số liệu sau:
1[]
Ngân hàng TMCP Quân Đội: Báo cáo thường niên năm 2011, tr. 33.
2
[]
Hồ Hương, Đại đoàn kết, Ngân hàng – Doanh nghiệp: Tái cơ cấu niềm tin,
[truy cập ngày 13-
3-2013].
GVHD: ThS. Nguyễn Xuân Vinh - 14 - SVTH: Phan Nguyễn Triết Giang
5.04
39.98
8.54
30.49
2.28
13.67
Phân tích tình hình rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội
Bảng 3: TÌNH HÌNH DƯ NỢ THEO NGÀNH NGHỀ
CỦA MB QUA 3 NĂM (2010-2012)
ĐVT: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm

TM & DV Ngành khác Cho vay cá nhân
Hình 3: Cơ cấu dư nợ theo ngành nghề qua 3 năm 2010-2012
Qua bảng số liệu ta thấy ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng qua các
năm là khá nhanh, mặc dù năm 2012 có sự giảm sút so với năm 2011 nhưng nhìn
GVHD: ThS. Nguyễn Xuân Vinh - 15 - SVTH: Phan Nguyễn Triết Giang
Phân tích tình hình rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội
chung vẫn đạt ở mức khá cao. Điều này cho thấy rằng công nghiệp là một trong
những lĩnh vực đang được ngân hàng quan tâm đầu tư hiện nay. Tuy nhiên đây là
một lĩnh vực cần vốn đầu tư lớn, các khoản cho vay trong lĩnh vục công nghiệp
thường là vay trung – dài hạn. Quy mô tín dụng trong lĩnh vực công nghiệp tăng
trưởng sẽ mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng hơn vì những khoản vay trung –
dài hạn có lãi suất cao, tuy nhiên rủi ro mà nó mang lại cũng sẽ cao hơn.
Bên cạnh đó còn phải nhắc tới ngành Thương mại và dịch vụ, đây là một
trong những ngành kinh tế mũi nhọn nên được chú trọng đầu tư vì thế luôn chiếm
một tỷ trọng cao trong tổng dư nợ của ngân hàng và luôn có mức tăng trưởng
dương qua các năm, đặc biệt tăng mạnh ở năm 2012 điều này nói lên rằng đầu tư
vào lĩnh vực thương mại và dịch vụ ngày càng được ngân hàng quan tâm hơn và
đang trở thành xu thế hiện nay của ngân hàng.
Ngoài ra, ngân hàng cũng mở rộng qui mô hoạt động và đa dạng hóa sản
phẩm ở các ngành nghề khác như: Nông lâm nghiệp, xây dựng. Thực hiện chủ
trương của NHNN, mặc dù không chiếm tỷ trọng cao song những ngành này cũng
có sự tăng trưởng mạnh qua các năm, cụ thể là ngành nông lâm nghiệp năm 2011
tăng 606 tỷ đồng tức tăng 25,55% so với năm 2010 và năm 2012 tăng thêm 1.621
tỷ đồng tức tăng 54,43% so với năm 2011. Trong khi đó tình hình cho vay các
ngành khác lại có xu hướng giảm từ năm 2010 – 2012. Cụ thể, năm 2011 giảm
2.588 tỷ đồng tức giảm 65,80 % so với 2010, năm 2012 giảm 195 tỷ đồng tức
giảm 14,75 %.
Nhìn chung hoạt động tín dụng của ngân hàng ngày càng được mở rộng hầu
hết ở các ngành nghề, nhưng ngân hàng luôn dành sự tập trung chủ yếu cho những
ngành kinh tế mũi nhọn hiện nay của xã hội, điều này góp phần tích cực vào việc

đồng, tăng 46,33% so với năm 2011.
Xét về cơ cấu nợ xấu trong 3 năm qua, do tốc độ tăng trưởng dư nợ tín
dụng chậm hơn so với tốc độ tăng nợ xấu nên tỉ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tăng
nhanh qua 3 năm. Cụ thể, năm 2010 nợ xấu chiếm 1,26%, đến năm 2011 là
1,59% và năm 2012 tăng lên 1,84%. Trong nhóm nợ xấu thì nợ dưới tiêu chuẩn
từ năm 2010 đến 2011 tăng nhanh và đến năm 2012 thì giảm nhẹ, còn nợ nghi
ngờ năm 2012 gần gấp 4 lần so với 2011 (tăng 288,92%).
Đáng chú ý trong bức tranh nợ xấu của MB giai đoạn 2010 - 2012 là nợ
nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) tăng nhanh từ 417.449 triệu đồng năm 2010
tăng lên 520.527 triệu đồng năm 2011 và năm 2012 là 639.607 triệu đồng (chiếm
tỷ trọng 0,86% trong tổng dư nợ tín dụng).
Nguyên nhân khách quan dẫn đến việc nợ xấu tăng trong 3 năm qua là do
kinh tế thế giới mặc dù đang phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu song
nhìn chung chưa thực sự ổn định và còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi tác động đến
kinh tế nước ta, làm cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam gặp rất
nhiều khó khăn, lãi suất cho vay cao vượt xa khả năng kinh doanh của doanh
nghiệp (lãi suất đi vay không ngừng được nâng lên và lãi suất cho vay cũng tăng
lên). Số doanh nghiệp đã tự giác đóng cửa, tuyên bố phá sản năm 2011 tăng
21,8% so với năm 2010. Nhiều doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ dẫn đến mất khả
năng về tài chính làm cho nợ có khả năng mất vốn của ngân hàng tăng nhanh.
 Một số chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng
GVHD: ThS. Nguyễn Xuân Vinh - 18 - SVTH: Phan Nguyễn Triết Giang
Phân tích tình hình rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội
Bảng 5: CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ RỦI RO TÍN DỤNG
CỦA MB QUA 3 NĂM (2010-2012)
Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Tổng tài sản Triệu đồng 109.623.197 138.831.492 175.612.370
Tổng dư nợ Triệu đồng 48.796.586 59.044.837 74.479.564
Dư nợ bình quân Triệu đồng 39.192.264 53.920.712 66.761.701
Nợ có khả năng mất vốn Triệu đồng 417.449 520.527 639.607

tỷ đồng”, />4797-a56e-22b2c96f9464&ID=5503&Web=d5a9ee3e-4fcf-4319-ac5c-15eed5edad2c
GVHD: ThS. Nguyễn Xuân Vinh - 19 - SVTH: Phan Nguyễn Triết Giang
Phân tích tình hình rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội
Trong tình hình kinh tế gặp nhiều khó khăn, nợ xấu tăng nhanh dẫn đến hệ số rủi
ro tín dụng tăng nhanh là xu hướng chung của toàn ngành. Tuy nhiên, hệ số rủi
ro tín dụng của ngân hàng MB được xem là mức rất thấp so với toàn ngành.
Nguyên nhân là do ngân hàng này có được tính tuân thủ cao, kỷ luật chặt chẽ với
đặc thù doanh nghiệp quân đội. MB luôn coi việc tăng trưởng và phát triển quy
mô dư nợ tín dụng phải dựa trên nguyên tắc đảm bảo chất lượng tín dụng tốt
nhất. Thực tế trong nhiều năm qua, MB đã duy trì được chất lượng danh mục tín
dụng tốt, kiểm soát nợ xấu chặt chẽ, luôn duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới 2%.
- Hệ số khả năng mất vốn: cũng như hệ số RRTD, hệ số khả năng mất vốn
cũng phản ánh chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng. Hệ số này càng nhỏ
cho thấy nợ có khả năng mất vốn của ngân hàng càng thấp. Trong 3 năm (2010-
2012) tỷ lệ này của ngân hàng đã giảm liên tục. Trong năm 2010 tỉ lệ mất vốn là
1,07% nghĩa là trong 100 đồng dư nợ ngân hàng không thu được 1,07 đồng. Đến
năm 2011 tỉ lệ này là 0,97% giảm 0,1% so với năm 2010 và năm 2012 tỉ lệ này
tiếp tục giảm 0,01% còn 0,96%. Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do MB đã
xóa nợ 1.438 tỷ đồng (khoảng 1,9% tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng). Đây là
một nỗ lực tích cực nhằm cải thiện chất lượng tài sản của ngân hàng MB.
- Dự phòng RRTD/nợ xấu: qua tính toán số liệu ta thấy dự phòng RRTD/nợ
xấu của ngân hàng giảm qua các năm tuy nhiên vẫn đạt được ở mức khá an toàn.
Cụ thể là, năm 2010 và 2011 hệ số này luôn lớn hơn 1 lần lượt là 1,2 và 1,17;
riêng năm 2012 là giảm còn 0,96. Tuy có sự sụt giảm từ 1,2 xuống còn 0,96
nhưng con số này vẫn tích cực hơn mức trung bình của các ngân hàng khác. Tỷ
lệ dự phòng thất thoát vốn vay vẫn ở mức khả quan 96% bằng với Vietcombank
(VCB) và cao nhất trong số các ngân hàng.
Qua phân tích các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng của ngân hàng ta thấy hoạt
động tín dụng của ngân hàng qua 3 năm đã đạt được kết quả đáng khích lệ cụ thể:
quy mô tín dụng của ngân hàng ngày càng không ngừng tăng cao, bên cạnh đó

hệ bền vững với khách hàng cũ và tăng trưởng có chọn lọc với khách hàng mới,
đảm bảo duy trì tăng trưởng tín dụng. Cùng với phát triển tín dụng, MB thường
xuyên chú trọng đến vấn đề quản trị rủi ro, thực hiện tốt công tác kiểm soát rủi
ro, tuân thủ nghiêm kỷ luật trong hoạt động tín dụng, quản lý chất lượng tín dụng
chặt chẽ vì vậy mà ngân hàng vẫn luôn duy trì được mức rủi ro tín dụng thấp so
với toàn ngành.
 Hạn chế:
GVHD: ThS. Nguyễn Xuân Vinh - 21 - SVTH: Phan Nguyễn Triết Giang
Phân tích tình hình rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội
Bên cạnh những mặt đã làm tốt ở trên, MB cũng còn tồn tại một số hạn chế
và những khó khăn. Đáng chú ý là cơ cấu dư nợ tín dụng theo thời hạn chưa cân
bằng, tỷ trọng nợ ngắn hạn ngày càng tăng và nợ trung và dài hạn trong tổng dư
nợ giảm mạnh, trong khi các doanh nghiệp hiện nay cần có vốn đầu tư vào các
dự án dài hạn, nguy cơ mất cân đối trong việc đi vay và đầu tư của doanh nghiệp
dẫn đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng là rất cao, ngân hàng cần tăng cường rà
soát các khoản vay và đặt biệt phải có một hướng kế hoạch tốt hơn cho loại tín
dụng trung và dài hạn trong tương lai để đảm bảo cân bằng cơ cấu nợ theo thời
gian. Thêm vào đó, tuy tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ ngân hàng năm 2012 ở mức
thấp, thấp nhất trong toàn ngành, nhưng vẫn tăng qua các năm từ 2010 đến 2012.
Đặc biệt là nhóm nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn, 2 nhóm nợ này có sự
tăng đột biến từ năm 2010 đến 2012 khiến cho chi phí dự phòng rủi ro của ngân
hàng tăng nhanh, điều này làm cho biên độ lợi nhuận của ngân hàng giảm xuống
đáng kể.
Trong bối cảnh lãi suất ngân hàng vẫn còn cao, môi trường kinh tế trong và
ngoài nước tiềm ẩn rủi ro, các doanh nghiệp vẫn tiếp tục gặp khó khăn trong quá
trình sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến tình hình tín dụng của ngân hàng. Để
duy trì được rủi ro tín dụng ở mức thấp, đòi hỏi ngân hàng cần phải triển khai
đồng bộ các chính sách tín dụng linh hoạt, hợp lý nhằm chia sẻ khó khăn với
doanh nghiệp, chủ động cùng khách hàng xây dựng cơ cấu nợ hợp lý, đúng quy
định với mục tiêu hỗ trợ khách hàng vượt qua khó khăn trước mắt; tăng cường

nên khó khăn hơn trong những tháng cuối năm. Các ngân hàng đua nhau tăng lãi
suất huy động, cao nhất là trên 17%/năm dẫn tới lãi suất cho vay tăng cao, biên
lãi suất của các ngân hàng cũng giảm xuống làm ảnh hưởng tới tính an toàn của
hệ thống và lợi nhuận của các ngân hàng.
Đến năm 2011, lạm phát ngày càng tăng cao, chính sách tiền tệ theo chủ
trương thắt chặt được thực thi mạnh tay nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát thậm
chí có thể hy sinh cả việc tăng trưởng. Năm 2012, NHNN Việt Nam chọn đưa ra
hạn mức tăng trưởng tín dụng áp dụng riêng với từng nhóm đối tượng ngân hàng,
tùy thuộc vào tình hình sức khỏe tài chính. Do đó mức tăng trưởng tín dụng của
ngân hàng bị hạn chế.
 Nguyên nhân từ phía khách hàng
- Sản xuất thua lỗ: chất lượng tín dụng năm 2010 và năm 2011 còn chịu
ảnh hưởng rất lớn từ vụ việc của Vinashin, theo đánh giá của NHNN Việt Nam
thì nợ xấu từ Vinashin đã làm cho tỷ lệ nợ xấu của ngành ngân hàng tăng thêm
GVHD: ThS. Nguyễn Xuân Vinh - 23 - SVTH: Phan Nguyễn Triết Giang
Phân tích tình hình rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội
0,7%. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả kinh doanh của hệ thống ngân
hàng nói chung và MB nói riêng. Bên cạnh đó nhóm khách hàng cá nhân, hộ gia
đình bị hạn chế trong việc áp dụng khoa học kĩ thuật trong sản xuất nên chất
lượng sản phẩm làm ra không đủ tiêu chuẩn, không có khả năng cạnh tranh trên
thị trường dẫn đến khả năng trả nợ cho ngân hàng kém.
- Sử dụng vốn sai mục đích: Việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh cũng
như xác định nhu cầu vay vốn không chính xác cũng như biến động của thị
trường hàng hóa tình hình kinh tế xã hội làm cho khách hàng đầu tư vào ngành
nghề khác so với mục đích xin vay theo hợp đồng tín dụng.
 Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Do một bộ phận nhỏ cán bộ tín dụng thiếu giám sát quá trình sử dụng vốn
của khách hàng, không thẩm định lại khi tái cấp vốn. Đồng thời việc tư vấn các
thông tin cho khách hàng về vấn đề gia hạn; thông báo, nhắc nhở khách hàng khi
các món nợ đến hạn còn hạn chế.

kinh doanh. Đồng thời cần phải xem xét những tài sản đảm bảo có thật sự thuộc
quyền sở hữu và quyền sử dụng của họ hay không, tình trạng hiện tại của tài sản
đảm bảo như thế nào… Các cán bộ tín dụng phải có trách nhiệm đi điều tra thu
GVHD: ThS. Nguyễn Xuân Vinh - 25 - SVTH: Phan Nguyễn Triết Giang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status