Luận Văn
Đề Tài: Nghiên cứu mô hình quản trị rủi ro tín
dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc
tế Việt Nam
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và được trích dẫn đầy đủ nguồn tham khảo
hoặc từ các tài liệu được nêu ở mục các tài liệu tham khảo, các ý kiến và đề xuất
của tác giả chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
1.1.2.3. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng, có 2 loại: 15
1.1.2.4. Phân loại theo rủi ro: 15
1.1.2.5. Phân loại khác: 16
1.1.3. Rủi ro ngân hàng và rủi ro tín dụng: 16
1.1.3.1. Rủi ro trong hoạt động ngân hàng: 16
1.1.3.2. Rủi ro tín dụng: 17
1.1.4. Các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro tín dụng: 18
1.1.5. Các dấu hiệu nhận diện rủi ro tín dụng: 23
1.1.6. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng: 24
3
1.1.7. Phân loại rủi ro tín dụng: 25
1.2. Quản trị rủi ro tín dụng: 26
1.2.1. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng: 26
1.2.2. Lượng hóa và đánh giá rủi ro tín dụng: 27
1.2.2.1. Lượng hóa rủi ro tín dụng: 27
1.2.2.2. Đánh giá rủi ro tín dụng: 28
1.2.3. Phương pháp quản trị rủi ro tín dụng: 29
1.2.3.1. Xây dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng: 29
1.2.3.2. Xây dựng và thực hiện chính sách quản trị rủi ro tín dụng: 30
1.2.3.3. Tuân thủ những nguyên tắc tín dụng thận trọng: 30
1.2.3.4. Kiểm tra, giám sát: 31
1.2.3.5. Quản trị rủi ro tín dụng bằng biện pháp xử lý nợ: 31
1.2.4. Bảo đảm tín dụng: 32
1.3. Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam: 33
1.3.1. Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung: 34
1.3.2. Mô hình quản trị rủi ro tín dụng phân tán: 34
1.4. Bài học kinh nghiệm và định hướng áp dụng mô hình quản trị rủi ro tín
dụng tại các NHTM Việt Nam: 35
1.4.1. Bài học kinh nghiệm: 35
2.4.1.1. Cơ cấu dư nợ theo nhóm nợ: 66
2.4.1.2. Cơ cấu dư nợ theo loại tiền: 66
2.4.1.3. Cơ cấu dư nợ phân theo ngành hàng: 67
2.4.1.4. Cơ cấu dư nợ theo khách hàng: 68
2.4.1.5. Cơ cấu dư nợ theo kỳ hạn vay: 68
2.4.1.6. Cơ cấu dư nợ theo khu vực địa lý: 68
2.4.2. Tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn và giám sát: 69
2.4.3. Đánh giá ảnh hưởng của mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung
trong hoạt động tín dụng của VIB: 69
2.4.4. Những ưu điểm và vấn đề tồn tại của mô hình quản trị rủi ro tín dụng
của VIB: 71
5
2.4.4.1. Những ưu điểm: 71
2.4.4.2. Những vấn đề còn tồn tại: 73
Kết luận chương 2: 76
CHƢƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MÔ HÌNH QUẢN TRỊ
RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN
QUỐC TẾ VIỆT NAM (VIB) 77
3.1. Những giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng: 77
3.2. Những giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình QTRR tín dụng: 83
3.3. Những kiến nghị nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng đối
với hệ thống NHTM: 87
3.3.1 Đối với các NHTM: 87
3.3.2 Đối với các NHNN: 87
3.3.3 Các quy phạm pháp luật và các cơ quan liên quan: 88
Kết luận chương 3: 88
PHẦN KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHẦN PHỤ LỤC 92
NHNN
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHTM
Ngân hàng thương mại
NHTMCP
Ngân hàng thương mại cổ phần
NQH
Nợ quá hạn
QLKH
Quản lý khách hàng
QTRR
Quản trị rủi ro
RM
Relationship Manager – Quản lý khách hàng
TCTD
Tổ chức tín dụng
TGĐ
Tổng Giám đốc
TMCP
Thương mại cổ phần
TSBĐ
Tài sản bảo đảm
VIB
Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam
VIB AMC
Công ty TNHH Quản lý nợ và Khai thác tài sản VIB
XLRR
Xử lý rủi ro
UB
Ủy ban
trọng nhất của quản trị tài chính ngân hàng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động chính yếu, mang lại nguồn thu chủ yếu cho
ngân hàng thương mại (NHTM) nhưng cũng là hoạt hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Việc hiểu rõ và tổ chức tốt mô hình quản trị rủi ro tín dụng là vô cùng quan trọng
đối với hoạt động ngân hàng.
Rủi ro tín dụng được coi là rủi ro lớn nhất đối với các NHTM Việt Nam, bởi
tổn thất từ rủi ro trong hoạt động tín dụng không chỉ ảnh hưởng đến sự an toàn, hiệu
quả, uy tín của một ngân hàng mà còn có thể ảnh hưởng đến cả sự ổn định của hệ
thống ngân hàng và nền kinh tế. Việc xây dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng, ban
hành và tuân thủ các chính sách, quy trình, quy định trong hoạt động cấp tín dụng là
đòi hỏi tất yếu giúp ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng và khả năng cạnh
tranh.
Bên cạnh yêu cầu càng cao của pháp luật Việt Nam về quản trị ngân hàng, để
hội nhập các NHTM Việt Nam cũng đang chọn lọc áp dụng các nguyên tắc, chuẩn
mực quốc tế trong việc xây dựng mô hình quản trị và kiểm soát rủi ro, đặc biệt là rủi
ro tín dụng.
Đề tài “Nghiên cứu mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại
cổ phần Quốc tế Việt Nam” được tiến hành nghiên cứu nhằm đưa ra và phân tích
mô hình thực tế đang áp dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam
(VIB) và từ đó có thể nhận diện những ưu điểm cũng như những vấn đề cần bổ sung
để đề ra các giải pháp hữu ích nhằm hoàn thiện mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại
NHTM một cách an toàn và hiệu quả hơn, phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực
quản trị rủi ro tín dụng hiện đại.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Mục đích của đề tài là đưa ra nghiên cứu và giải quyết các vấn đề sau:
10
- Đề tài đưa ra những vấn đề lý thuyết cơ bản về rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro
tín dụng và định hướng áp dụng mô hình quản trị rủi ro tín dụng của các Ngân hàng
thương mại Việt Nam.
kinh nghiệm và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình đang nghiên cứu.
6. Bố cục của đề tài:
Đề tài gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần phụ lục
và nội dung đề tài được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của
Ngân hàng thương mại.
- Chương 2: Mô hình quản trị rủi ro tín dụng và tình hình hoạt động tín dụng
tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB)
- Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại
Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB).
12
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG
HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.
1.1. Tín dụng và rủi ro tín dụng:
1.1.1. Tín dụng ngân hàng:
Tín dụng là một phạm trù kinh tế khách quan nhằm phản ánh mối quan hệ giao
dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên chủ thể sở hữu giao một lượng giá trị bằng tiền
hoặc tài sản cho bên kia sử dụng và chủ thể sử dụng có nhiệm vụ hoàn trả với một
lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu sau một thời gian được xác định.
Tín dụng ngân hàng là một giao dịch vay mượn tài sản giữa ngân hàng (bên
cho vay) và khách hàng (bên đi vay), trong đó bên đi vay được sử dụng tài sản của
bên cho vay trong một khoảng thời gian được thỏa thuận trước và phải hoàn trả vô
điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Nói một cách
khác, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn giữa ngân
hàng và khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.
Bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có
các đặc trưng sau:
- Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức
1.1.2. Phân loại tín dụng ngân hàng:
Việc phân loại tín dụng dựa trên một số tiêu thức nhất định tùy theo yêu cầu
của khách hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng. Sau đây là một số cách phân
loại chủ yếu:
1.1.2.1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng:
Phân chia theo thời gian cho vay có 3 loại:
- Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn cho vay đến 12 tháng, chủ yếu được sử
dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi
tiêu ngắn hạn của cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: từ trên 12 tháng đến 60 tháng, thường được sử dụng để
đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng
sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ với thời gian thu hồi vốn
nhanh.
14
- Tín dụng dài hạn: trên 60 tháng, thường được sử dụng để đáp ứng các nhu
cầu đầu tư dài hạn như xây dựng nhà ở, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các
công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.
1.1.2.2. Căn cứ vào hình thức tín dụng:
Dựa vào tiêu chí này tín dụng bao gồm chiết khấu, cho vay, bảo lãnh, cho thuê
tài chính và các hình thức cấp tín dụng khác, trong đó:
- Chiếu khấu: là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng
với giá trị của một giấy nợ trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một giấy
nợ chưa đến hạn.
- Cho vay: là việc ngân hàng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để
sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn
trả cả gốc lẫn lãi, bao gồm các loại sau:
Thấu chi: là việc ngân hàng cho phép người vay được chi vượt số dư tiền
gửi thanh toán của mình đến một giới hạn và trong khoảng thời gian xác định. Giới
hạn này được gọi là hạn mức thấu chi.
và có lãi. Hết hạn thuê, khách hàng có thể mua lại tài sản đó.
- Các hình thức cấp tín dụng khác: thẻ ghi nợ, bao thanh toán, L/C,…
1.1.2.3. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng, có 2 loại:
- Tín dụng có tài sản bảo đảm: là loại tín dụng được cấp có thế chấp, cầm cố
bằng tài sản (của bên vay hoặc bên thứ ba). Sự bảo đảm này là biện pháp đảm bảo
cho ngân hàng có được nguồn thu nợ thứ hai khi khách hàng không có hoặc không
đủ khả năng hoàn trả nợ đúng hạn.
- Tín dụng không có tài sản bảo đảm: là loại tín dụng được cấp dựa trên uy
tín và khả năng tài chính lành mạnh của khách hàng hoặc được bảo lãnh bằng uy tín
của bên thứ ba.
1.1.2.4. Phân loại theo rủi ro:
Cách phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại tính an toàn của
các khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn thất kịp thời, được phân loại thành 5
nhóm theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước:
16
Nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm nợ trong hạn được đánh giá có khả
năng thu hồi đủ gốc và lãi đúng hạn và các khoản nợ có thể phát sinh trong tương
lai như các khoản bảo lãnh, cam kết cho vay, chấp nhận thanh toán;
Nhóm 2: nợ cần chú ý, bao gồm nợ quá hạn dưới 90 ngày và nợ cơ cấu lại
thời hạn trả nợ;
Nhóm 3: nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180
ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày;
Nhóm 4: nợ nghi ngờ, bao gồm nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày và
nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày;
Nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn, gồm nợ quá hạn trên 360 ngày, nợ cơ
cấu lại thời hạn trả nợ trên 180 ngày và nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý.
1.1.2.5. Phân loại khác:
- Theo mục đích sử dụng vốn có tín dụng sản xuất, tín dụng tiêu dùng,…
- Rủi ro thanh khoản là rủi ro luồng tiền ra khỏi ngân hàng bất thường, hoặc
phát sinh do chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản có và nợ, hoặc không kịp hoặc không
thể chuyển hóa tài sản thành tiền để đáp ứng kịp thời các nhu cầu chi trả; là tình
trạng ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn khả dụng, có thể gây
thua lỗ, làm đình trệ hoạt động kinh doanh hoặc làm mất khả năng thanh toán dẫn
đến phá sản.
- Rủi ro hoạt động là rủi ro dẫn đến tổn thất do nguyên nhân con người,
những thiếu sót hoặc vận hành không tốt quy trình, hệ thống nội bộ hoặc do các sự
kiện khách quan bên ngoài. Cấu thành rủi ro hoạt động gồm có: gian lận nội bộ;
gian lận từ bên ngoài; nội quy và an toàn nơi làm việc; khách hàng, sản phẩm và
thông lệ kinh doanh; thiệt hại về vật chất; gián đoạn kinh doanh và các sự cố hệ
thống; thực hiện, chuyển giao và quản lý quy trình.
Rủi ro tín dụng được coi là rủi ro lớn nhất đối với các Ngân hàng thương mại
Việt Nam nói chung bới các hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu của các Ngân
hàng thương mại Việt Nam.
1.1.3.2. Rủi ro tín dụng:
Rủi ro trong ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào hoạt động tín dụng.
18
Đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra, có thể khiến ngân hàng rơi vào trạng
thái tài chính khó khăn nghiêm trọng.
“Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng
xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng
không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam
kết.” - theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân
hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ
không đúng hạn cho ngân hàng.
Rủi ro tín dụng là khả năng tiềm ẩn có thể gây tổn thất về vốn và thu nhập
rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị
trường thế giới biến động xấu.
Hàng lậu, hàng giả làm điêu đứng các doanh nghiệp trong nước và các ngân
hàng đầu tư vốn cho các doanh nghiệp này. Các mặt hàng kim khí điện máy, gạch
men, đường cát, vải vóc, quần áo, mỹ phẩm,… là những ví dụ tiêu biểu cho tình
hình hàng lậu ở nước ta.
Sự cạnh tranh và lợi nhuận kỳ vọng đối với các nhà đầu tư làm chuyển dịch
vốn từ ngành này qua ngành khác. Việc thiếu quy hoạch và điều tiết hợp lý của Nhà
nước dẫn đến sự gia tăng vốn đầu tư quá mức vào một số ngành, dẫn đến khủng
hoảng thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia.
Rủi ro do môi trường pháp lý:
Các chính sách, quy định của pháp luật về hoạt động ngân hàng vẫn đang
trong quá trình hoàn thiện để tiếp cận các chuẩn mực, quy tắc quốc tế. Nhiều khi
các quy định pháp luật được ban hành dựa trên ý chí chủ quan của cơ quan ban hành
thay vì dựa trên các căn cứ khoa học;
Sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương:
Việc thực thi pháp luật để hỗ trợ hoạt động ngân hàng chưa hiệu quả, đặc biệt
là trong việc cưỡng chế thu hồi nợ. Theo quy định thì trong trường hợp khách hàng
không trả được nợ, NHTM có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vay. Tuy
20
nhiên trên thực tế, các NHTM không thể cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài
sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lý nếu khách hàng không hợp tác mà phải xử lý
qua con đường tố tụng… dẫn đến tình trạng NHTM không dễ giải quyết được nợ
tồn đọng dù có tài sản bảo đảm.
Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN:
Hoạt động thanh tra ngân hàng và năng lực cán bộ thanh tra, giám sát chưa
theo kịp sự phát triển của hệ thống Ngân hàng. Nội dung và phương pháp thanh tra,
giám sát chậm đổi mới, khả năng kiểm soát thị trường tiền tệ và giám sát rủi ro còn
yếu. Thanh tra ngân hàng chủ yếu xử lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn
lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà
lẽ ra nó phải thành công trên thực tế.
Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch:
Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm
chung của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam. Việc ghi chép các sổ sách kế toán
vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực. Khi cán bộ
ngân hàng lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các
doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực. Đây cũng là nguyên
nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối
cùng để phòng chống rủi ro tín dụng.
Rủi ro do các nguyên nhân từ phía ngân hàng:
Do các quy trình, quy định thiếu chặt chẽ, chưa đầy đủ; bộ máy quản trị và
kiểm soát rủi ro hoạt động chưa hiệu quả;
Cho vay và đầu tư vốn quá nhiều vào một doanh nghiệp hoặc một ngành
kinh tế hoặc một địa bàn nào đó;
Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không
đầy đủ dẫn đến cho vay hoặc đầu tư không hợp lý;
Do không phát hiện khách hàng vay vốn thiếu năng lực pháp lý, năng lực
tài chính, ;
Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng:
Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra NHNN ở tính thời gian vì nó
22
nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm
tra viên, do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh
doanh.
Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ:
Đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố tối quan trọng để giải quyết vấn đề
kiểm soát rủi ro tín dụng. Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm,
nhưng một cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng
lực quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào chuyên môn của cán bộ
tín dụng, cán bộ phê duyệt tín dụng và các nguồn lực kiểm tra giám sát của ngân
hàng. Do vậy biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng sâu sắc nhất vẫn là các biện
pháp liên quan đến việc đào tạo, bố trí cán bộ và cơ chế kiểm tra, giám sát hành vi
của cán bộ trong quá trình xử lý công việc. Thực hiện tốt các biện pháp này có thể
cho rằng con đường quản trị rủi ro tín dụng của ngành ngân hàng coi như đã đi
được hơn một nửa.
1.1.5. Các dấu hiệu nhận diện rủi ro tín dụng:
Quá trình tiếp xúc, kiểm tra thường xuyên khách hàng vay, cán bộ ngân hàng
có thể nhận biết dấu hiệu của những khoản cấp tín dụng có vấn đề:
- Khách hàng cung cấp thông tin thiếu trung thực hoặc có ý lảng tránh hoặc
thoái thác trả lời cán bộ ngân hàng; Sao nhãng và thiếu những cuộc thảo luận trước
chuẩn bị cho việc thanh toán các khoản phải trả theo kỳ;
- Thay đổi tài khoản ngân hàng; số dư tài khoản tại ngân hàng giảm;
- Thay đổi trong thái độ, thói quen cá nhân của những người chủ chốt của
công ty; thay đổi trong thái độ đối với ngân hàng hoặc cán bộ ngân hàng, đặc biệt là
khi họ tạo cảm giác thiếu tính hợp tác; những nhân vật chủ chốt của công ty ốm
hoặc chết; những thay đổi trong quản lý, quyền sở hữu hoặc những nhân vật chủ
chốt;
- Doanh thu bán hàng giảm, không đáp ứng được những đơn đặt hàng; lợi
nhuận giảm; các khoản thu tiền về chậm, lưu chuyển tiền mặt ròng giảm;
- Nhiều tài sản không hoạt động (nhàn rỗi), hàng tồn kho gần như không bán
được; giá trị của tài sản giảm;
24
- Nhờ cậy vào chỉ một khách hàng hoặc một nhà cung cấp, tập trung doanh
số vào một mặt hàng nhất định; áp dụng chính sách chiết khấu bất bình thường;
những thay đổi trong chính sách mua bán chịu; xuất hiện những thỏa hiệp cho
những khoản phải thu; sự thay đổi đáng kể về giá trị của từng đơn đặt hàng hoặc
hợp đồng mà có thể làm mất cân bằng năng lực sản xuất hiện hành;