nâng cao việc quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại cổ phần công thương – vietinbank chi nhánh 4 - Pdf 23

MỞ ĐẦU
 Sự cần thiết của đề tài
Nền kinh tế thị trường có xu hướng tự do hóa và quốc tế hóa các luồng tài chính đã làm thay
đổi căn bản hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, cạnh tranh giữa các tổ chức tài chính tín dụng
trên phạm vi toàn cầu cũng tạo ra một thị trường tài chính rủi ro hơn, hoạt động kinh doanh
ngân hàng càng trở nên phức tạp cho nên việc nâng cao quản trị rủi ro là rất cần thiết. Trong
quá khứ đã có những ngân hàng, tổ chức tín dụng Việt Nam do không quản trị được rủi ro
nên dẫn đến đổ vỡ hàng loạt quỹ tín dụng, NHTMCP của những năm 1989-1990 làm cho
một số ngân hàng TMCP vào tình trạng giám sát đặc biệt năm 1999- 2000. Phần lớn kết cấu
tài sản của các NHTM Việt Nam cho thấy tài sản sinh lời là các khoản cấp tín dụng luôn
chiếm tỷ trọng khá lớn 60% đến 70% tài sản có. Trong bối cảnh đó, không một ngân hàng
hay tổ chức tài chính nào có thể tồn tại lâu dài mà không có hệ thống quản trị rủi ro hữu
hiệu. Việc xây dựng một hệ thống quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro tín dụng nói
riêng có vai trò sống còn đối với hoạt động của tổ chức.
Hiện nay, công tác quản trị rủi ro tín dụng có vai trò cực kỳ quan trọng đối với các ngân
hàng và cả hệ thống tài chính. Việc đánh giá, thẩm định và quản lý tốt các khoản cho vay,
các khoản dự định giải ngân sẽ hạn chế những rủi ro tín dụng mà ngân hàng sẽ gặp phải, và
tất yếu sẽ giảm bớt nợ xấu cho Ngân hàng. Nhận thấy vấn đề quản trị rủi ro trong ngân hàng
lả một vấn đề luôn luôn cần thiết trong lĩnh vực ngân hàng, giúp cho ngân hàng phát triển
vững mạnh, nền kinh tế đất nước ổn định, đi lên cho nên em viết đề tài “Nâng cao việc
quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng TMCP công thương – Vietinbank chi nhánh 4”
với mong muốn phản ánh thực tế tình hình quản trị rủi ro tại chi nhánh của ngân hàng mà em
có cơ hội thực tập cũng như học hỏi được những giải pháp hay trong việc quản trị rủi ro, từ
đó có cái nhìn đúng đắn về tầm quan trọng của việc quản trị này, giúp cho bản thân đưa ra
một số kiến nghị nhằm quàn trị rủi ro tín dụng, giảm thiểu rùi ro.
 Mục tiêu của đề tài
- Làm rõ các lý luận về rủi ro trong hoạt động tín dụng
1
- Phân tích tình hình hoạt động tín dụng của ngân hàng TMCP công thương –
Vietinbank chi nhánh 4 từ đó nhận thấy những rủi ro tín dụng gặp phải trong hoạt
động này

 Rủi ro trong hoạt động ngân hàng: rủi ro ngân hảng là những biến cố không mong đợi
xảy ra, gây mất mát, thiệt hại tài sản, thu nhập của ngân hàng trong quá trình hoạt
động.
1.1.2. Đặc điểm:
 Rủi ro có tính chất đa dạng và phức tạp:
Hoạt động kinh doanh của NHTM có liên quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực hoạt động và
nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. Do đó, hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt
động chứa nhiều rủi ro, bởi lẽ nó tổng hợp tất cả các rủi ro của khách hàng, đồng thời rủi ro
trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có thể gây ảnh hưởng lớn cho nền kinh tế hơn bất kỳ
rủi ro của loại hình doanh nghiệp nào vì tính chất lây lan có thể làm rung chuyển toàn bộ hệ
thống kinh tế. Hoạt động kinh doanh của NHTM có những đặc thù riêng mả các doanh
nghiệp trong các ngành khác không có. Đồng thời, hoạt động kinh doanh của NHTM diễn
biến liên tục trong mỗi loại hình nghiệp vụ và các sản phẩm của NHTM có mối liên hệ với
nhau rất chặt chẽ. Cho nên rủi ro trong hoạt động ngân hàng mang tính chất đa dạng và phức
tạp.
 Rủi ro có tính tất yếu:
Kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, và những rủi ro đối với hoạt động
ngân hàng cũng vì thế mà mang tính đặc thù. Bản chất của hoạt động kinh doanh luôn mang
tính mạo hiểm cho nên rủi ro trong haot động ngân hàng luôn mang tính tất yếu.
1.1.3. Phân loại:
- Căn cứ vào hậu quả rủi ro
• Rủi ro thuần túy
• Rủi ro kinh doanh
- Căn cứ vào tính chất của rủi ro
• Rủi ro tài chính
• Rủi ro phi tài chính
- Căn cứ vào cách phân loại của ủy ban Basel về giám sát ngân hàng ( Basel
Committee on banking Suppervision – BSBS)
• Rủi ro tín dụng
• Rủi ro thị trường

• Rủi ro tín dụng mang tính tất yếu
Rủi ro tín dụng luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng. Chấp nhận rủi ro là tất yếu
trong hoạt động ngân hàng. Các ngân hàng cần phải đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên
mối quan hệ rủi ro-lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng với
mức rủi ro chấp nhận. Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là
4
hợp lý, kiểm soát được, nằm trong phạm vi khả năng các nguồn lực tài chính và năng lực tín
dụng của ngân hàng.
• Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp
Rủi ro tín dụng xảy ra sau khi ngân hàng giải ngân vốn vay và trong quá trình sử dụng vốn
vay của khách hàng. Do tình trạng thông tin bất cân xứng nên thông thường ngân hàng ở vào
thế bị động, ngân hàng thường biết thông tin sau hoặc biết thông tin không chính xác về
những khó khăn thất bại của khách hàng và do đó thường có những ứng phó chậm trễ.
• Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng, phức tạp
Đặc điểm này thể hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân gây ra rủi ro ro tín dụng cũng
như diễn biến sự việc, hậu quả khi rủi ro xảy ra
 Phân loại
5
6
Hình 1. Cấu trúc rủi ro tín dụng
Căn cứ vào cấu trúc thành phần, có thể phân biệt rủi ro tín dụng thành hai loại rủi ro giao
dịch và rủi ro danh mục
 Rủi ro giao dịch: là rủi ro có tính kỹ thuật, nó bao hàm ba loại rủi ro cụ thể là rủi ro
lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.
Rủi ro giao dịch có thể biểu hiện ở hai mức độ dẫn đến các hậu quả xấu về mặt tài chính cho
ngân hàng: ngân hàng có thể bị gia tăng chi phí, giảm sút nguồn thanh khoản dự kiến nếu rủi
ro ở mức chậm trả và có thể dẫn đến thua lỗ, phá sản nếu rủi ro ở mức độ vỡ nợ, không trả
được. Xuất phát từ bản chất của quan hệ tín dụng là sự tín nhiệm – một yếu tố vô hình nên
rủi ro tín dụng có tính tất yếu, không triệt tiêu hoàn toàn, vì vây ngân hàng cần áp dụng
nhiều biện pháp nhằm định lượng, kiểm soát đi đến giảm thiểu rủi ro tín dụng

- Sự chậm chễ bất thường và không có lý do trong việc cung cấp các báo cáo tài chính
và trả nợ theo lịch đã thoả thuận, không cung cấp được những thông tin mà ngân hàng
yêu cầu hoặc chậm chễ trong việc liên lạc với nhân viên tín dụng.
- Sử dụng tín dụng sai mục đích ban đầu
- Số tiền gửi giảm sút
- Lưỡng lự chậm chễ khi dàn xếp những cuộc viếng thăm cơ sở sản xuất kinh doanh
của nhân viên ngân hàng, có sự suy giảm trong bầu không khí tin cậy và hợp tác, có
sự im lặng với ngân hàng ngay sau khi nhận được vốn vay.
- Khách hàng có ý xin hoãn nợ hoặc khất nợ, gia hạn nợ, chậm chễ trong việc thanh
toán lãi hàng kỳ, hoàn trả nợ vay ngân hàng chậm hoặc quá kỳ hạn, không được trả
như cam kết.
- Đối với tín dụng doanh nghiệp, là bất cứ sự thay đổi bất thường nào trong
phương thức hạch toán kế toán, kế hoạch trả lương và phụ cấp, giá trị hành
tồn kho, tài khoản thuế và thu nhập.
- Việc cơ cấu lại nợ hay hạn chế thanh toán cổ tức, hoặc có sự thay đổi vị trí xếp hạng
tín nhiệm.
- Giá cổ phiếu của doanh nghiệp thay đổi bất lợi.
- Thu nhập ròng giảm trong 1 hoặc nhiều năm, đặc biệt là các chỉ tiêu như:
ROA, ROE, EBIT.
8
- Những thay đổi bất l ợi tron g cơ cấu n guồn vốn ( chỉ tiêu vốn cổ
phần/ nợ vay), thanh khoản ( chỉ tiêu thanh khoản hiện hành) hay mức độ hoạt
động ( chỉ tiêu doanh thu/hàng tồn kho).
- Độ chênh lệch của doanh thu hay lưu chuyển tiền tệ so với kế hoạch khi mà tín dụng
đã được cấp.
- Thay đổi bất ngờ, không dự kiến và không lý do đối với số dư tiền gửi của
khách hàng tại ngân hàng. Tuy nhiên, vấn đề không phải là ở con số nợ xấu
chiếm bao nhiêu trên tổng dư nợ, mà nợ xấu được định lượng ở độ rộng hay hẹp.
Các dấu hiệu trên đây là biểu hiện của những khó khăn về mặt tài chính từ phía người đi này,
các dấu hiệu này xuất hiện là có khả năng khách hàng khó hoàn trả các món vay. Vì vậy,

Người vay bị thất nghiệp (có thể tạm thời hay kéo dài) dẫn đến không có thu nhập và không
đảm bảo được khả năng trả nợ.
Do những biến cố bất thường trong cuộc sống gây khó khăn cho khách hàng như: ốm đau,
tai nạn, chết, li dị
Do người vay hoạch định ngân quỹ không chính xác
 Đối với khách hàng là doanh nghiệp
Trong hoạt động của doanh nghiệp có nhiều mối quan hệ như quan hệ với người cung cấp,
với người tiêu thụ, với ngân hàng
 Rủi ro do thị trường cung cấp
Do thị trường cung cấp không có khả năng cung cấp đủ số lượng nguyên vật liệu mà doanh
nghiệp yêu cầu. Thiệt hại về giá cả, khi giá cả nguyên vật liệu cung cấp cho doanh nghiệp
không đáp ứng về các yêu cầu, phẩm chất, quy cách.
 Rủi ro do thị trường tiêu thụ
10
RỦI RO TÍN DỤNG
RỦI RO GIAO DỊCH
RỦI RO LỰA CHỌN
RỦI RO BẢO ĐẢM
RỦI RO NGHIỆP VỤ
RỦI RO NỘI TẠI
RỦI RO TẬP TRUNG
RỦI RO DANH MỤC
RỦI RO LỰA CHỌN
RỦI RO BẢO ĐẢM
RỦI RO NGHIỆP VỤ
RỦI RO NỘI TẠI
RỦI RO TẬP TRUNG
Sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra có số lượng quá lớn vượt nhu cầu thị trường (Do
khâu nghiên cứu thị trường thực hiện chưa tốt) nên số lượng hàng hoá lớn làm ứ đọng sản
phẩm trong kho Thiệt hại về giá: Doanh nghiệp buộc phải giảm giá bán sản phẩm hàng

đến rủi ro khác, rủi ro tín dụng của một ngân hàng thể hiện ra bên ngoài chính là khối lượng
nợ quá hạn mà ngân hàng đó phải gánh chịu.
Khi rủi ro tín dụng nảy sinh, tuỳ theo mức độ mà nó gây ra những tác hại nghiêm trọng
không chỉ với hệ thống ngân hàng, với người vay và còn cả với nền kinh tế và xã hội.
Đối với ngân hàng thương mại. ở mức độ thấp rủi ro tín dụng là mất đi cơ hội, khả năng tích
luỹ vốn, làm giảm sức mạnh của ngân hàng.
Đối với người đi vay. Thông thường rủi ro tín dụng là hệ quả của rủi ro kinh doanh của
khách hàng. Với nợ quá hạn người đi vay hoàn toàn mất nguồn tài trợ từ các ngân hàng, cơ
hội kinh doanh sẽ tuột mất, tài sản sẽ bị tịch thu hoặc phát mại, người đi vay sẽ đứng trước
nguy cơ phá sản.
Đối với nền kinh tế xã hội. Rủi ro tín dụng chứng tỏ người vay vốn đã không thực hiện được
hiệu quả đầu tư như đặt ra khi vay vốn tín dụng từ ngân hàng thương mại. Do đó lợi ích kinh
tế xã hội dự kiến nhận được đã không có. sản xuất và lưu thông hàng hoá sẽ đình trệ, chức
năng làm công cụ điều tiết nền kinh tế sẽ bị suy yếu. Quyền lợi của người gửi tiền sẽ không
được đảm bảo.
1.3. Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại
Quản trị rủi ro tín dụng ngày nay đang trở thành nhu cầu cấp thiết đối với các chủ thể tham
gia thị trường và cần có sự quan tâm đặc biệt, bởi vì sự thành công của một ngân hàng phụ
thuộc đáng kể vào chất lượng quản trị rủi ro tín dụng. Nghiên cứu những vụ vỡ nợ trên khắp
12
Nhận biết rủi
ro
Đo lường rủi
ro
Quản lý rủi
ro
Kiểm soát và xử lý
rủi ro
thế giới cho thấy nguyên nhân chủ yếu là do chất lượng tài sản có thấp kém và hoạt động
quản lý rủi ro tín dụng chưa được hiệu quả. Vì vậy, việc học hỏi các kinh nghiệm quản lý rủi

vay và phân tích sau khi cho vay. Để có thể phân tích đánh giá khách hàng cần: thu
thập thông tin khách hàng, phân tích khách hàng theo các chỉ tiêu định lượng và định
tính để những kết luận chính xác về tình trạng của khách hàng, phân tích xử lý thông
tin và xác định nguy cơ đối với khách hàng. Cho nên cần phải chú trọng đếnquản trị
hệ thống thông tin tín dụng hỗ trợ đắc lực cho công tác thẩm định khách hàng vay,
phòng ngừa rủi ro từ khâu thẩm định hồ sơ.
 Đo lường rủi ro: rủi ro tín dụng là rủi ro người vay không hoàn trả nợ gốc và lãi theo
cam kết trong hợp đồng. để đo lường rủi ro tín dụng các NHTM thường sử dụng các
phương pháp đo lường chủ yếu sau:
• Đo lường khoản vay: được đo lường bằng phương pháp chủ quan hay khách quan.
Phương pháp chủ quan thông qua việc dựa vào các giả thiết ( kinh nghiệm cá nhân và
suy luận của cán bộ đánh giá, ý kiến của chuyên gia và các nhà tư vấn tài chính ) và
thông qua các mô hình cho điểm tín dụng…Phương pháp khách quan thông qua tấn
14
suất xảy ra sự kiện thông qua các mô hình tín dụng nội bộ tính xác suất vỡ nợ của
khách hàng.
• Đo lường rủi ro danh mục: rủi ro của danh mục đầu tư được đo lường bởi độ lệch
chuẩn của danh mục đầu tư. Khi kết hợp nhiều tài sản trong một danh mục đầu tư
 Quản lý rủi ro tín dụng: sau khi đo lường rủi ro, việc cần thiết mà các NHTM quan
tâm đó là quản lý rủi ro
• Quản lý rủi ro bằng biện pháp tuân thủ những nguyên tắc tín dụng thận trọng
• Quản lý rủi ro bằng biện pháp đặt ra hạn mức cho vay.
• Quản lý rủi ro tín dụng bằng việc đưa ra định hướng cấp tín dụng và chính sách tín
dụng: các chính sách tín dụng phái hợp lý, phù hợp với thực tế của khu vực và bảo vệ
được quyền lợi lâu dài của ngân hàng mà không kiềm hãm tăng trưởng kinh doanh
 Kiểm soát quản lý rủi ro: bao gồm kiểm soát trước khi cho vay, trong khi cho vay và
sau khi cho vay. Kiểm soát trước khi cho vay bao gồm kiểm soát quá trình thiết lập
chính sách, thủ tục, quy trình cho vay, kiểm tra quá trình lập hồ sơ vay vốn và thẩm
định, các kiểm tra viên thực hiện đối chiếu với qui định để kiểm tra tính đầy đủ, hợp
pháp của hồ sơ vay vốn, kiểm tra tính chính xác của các số liệu tính toán và thẩm

trên địa bàn…
Năm năm trở lại đây, khi các tuyến cầu đường nối liền với Quận 1 được khai thông, hoạt
động thương mại dịch vụ tại Quận 4 phát triển hơn với sự ra đời của hàng loạt các NHTM
khác nên tình hình cạnh tranh hết sức quyết liệt để giành thị phần. Trước tình hình đó, các tổ
chức đảng, đoàn thể của Chi nhánh đã biết gắn bó đoàn kết cùng với sự đồng sức đồng lòng
của Ban giám đốc và CBNV tạo thành một tập thể vững mạnh, cùng bàn bạc, đưa ra nhiều
chiến lược kinh doanh mới, linh hoạt hơn giúp cho Chi nhánh sớm phục hồi và phát triển
mạnh mẽ. Mạng lưới và quy mô ngày càng được mở rộng. Lợi nhuận ngày càng tăng cao.
Chi nhánh 4 đang phấn đấu trở thành ngân hàng đa năng, vừa là ngân hàng bán buôn vừa là
ngân hàng bán lẻ, đáp ứng tốt mọi nhu cầu của khách hàng.
Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn bình quân mỗi năm tăng 18%. Năm 2011, tổng nguồn vốn
huy động của Chi nhánh đạt trên 3.585 tỷ đồng trong đó tiền gửi dân cư chiếm phần lớn. Đạt
được kết quả trên là do Chi nhánh luôn xác định tăng trưởng nguồn vốn là nhiệm vụ quan
16
trọng và là nền móng để tăng trưởng quy mô. Từ đó, Chi nhánh triển khai hàng loạt các
chương trình, giải pháp nhằm khơi tăng nguồn vốn huy động như: Trang bị mới thiết bị công
nghệ, ứng dụng đầy đủ các dịch vụ tiện ích cho người gửi tiền, tạo phong cách giao dịch văn
minh, lịch sự, lựa chọn và chăm sóc đặc biệt các khách hàng chiến lược song song với việc
tích cực khai thác nguồn tiền gửi từ các doanh nghiệp khác, áp dụng lãi suất linh hoạt, phù
hợp với tình hình chung trên địa bàn. Phát triển mạnh lưới các phòng giao dịch để mở rộng
kênh huy động vốn, thuận lợi cho khách hàng tiếp cận với Ngân hàng và tăng trưởng nguồn
tiền gửi dân cư.
Những thành quả đạt được trong 5 năm qua là minh chứng cho sự cố gắng của Ban giám đốc
và toàn thể CBNV Chi nhánh đã sát cánh cùng nhau, triển khai nhiều biện pháp thi đua cụ
thể, thiết thực trở thành đòn bẩy mạnh mẽ trong phát triển hoạt động kinh doanh đưa chi
nhánh từng bước vững chắc trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
2.1.2. Tổ chức, bộ máy quản lý
Cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành của NHCT Việt Nam-Chi nhánh 4
Giám đốc
Phó giám đốc thường trực

giao dịch số 6.
 Các phó giám đốc đảm bảo tổ chức, triển khai thực hiện đúng, đủ kịp thời các nghiệp vụ
được NHCT Việt Nam và giám đốc chi nhánh chỉ đạo, cũng như kiểm tra tình hình chấp
hành của các phòng giao dịch thuộc chi nhánh.
 Phòng tín dụng:
Là phòng sinh lợi chủ yếu của ngân hàng, thực hiện các nghiệp vụ cho vay, đầu tư, bảo lãnh,
thực hiện tốt các chiến lược phát triển của NHCT Việt Nam. Nắm bắt kịp thời các chủ
trương của chính sách nhà nước, của ngành và của hệ thống nhằm đạt mục tiêu an toàn và
hiệu quả.
 Phòng kinh doanh đối ngoại:
18
Là phòng sinh lợi thứ hai sau phòng tín dụng. Có chức năng thực hiện các nghiệp vụ thanh
toán xuất, nhập khẩu và giao dịch với các tổ chức tín dụng quốc tế. Tham gia mua bán ngoại
tệ trên thị trường và các dịch vụ khác liên quan đến ngoại tệ.
 Phòng kế toán:
Là phòng nghiệp vụ hỗ trợ cho các phòng trên. Nhiệm vụ ghi chép các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh đầy đủ, chính xác, kịp thời theo đúng chế độ kế toán hiện hành, tham gia thanh
toán liên hàng, bù trừ, xây dựng kế hoạch tài chính hàng quý, hàng năm. Quản lý toàn bộ hệ
thống mạng vi tính của chi nhánh, kiểm tra và bảo vệ các số liệu trên mạng không để thất
thoát rò rỉ thông tin.
 Phòng kiểm tra:
Là phòng có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát nội bộ, báo cáo kịp thời những sai sót, vướng mắc
trong các nghiệp vụ các phòng ban để Giám đốc kịp thời chấn chỉnh, xử lí.
 Phòng kế toán tổng hợp:
Là phòng tổng hợp các số liệu, lập báo cáo theo từng niên độ, xây dựng kế hoạch hoạt
định kinh doanh cho từng quý và năm.
 Phòng tổ chức hành chính:
Là phòng có nhiệm vụ giải quyết chế độ về tiền lương, Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế.
Công tác văn thư lưu trữ, bảo vệ và công tác khác.
 Phòng kho quỹ:

1.677.101
701.869
939.520
25.172
67,7% 1.594.328
668.761
889.452
26.115
57,8%
2. Tiền gửi dân cư:
- Tiết kiệm không
kỳ hạn
- Tiết kiệm có kỳ
hạn
- Kỳ phiếu, CCTG
471.451
18.122
375.174
78.155
23,7
%
671.451
20.122
569.437
81.892
27,2% 978.018
20.507
941.762
15.749
35,5%

không quên một đối tượng quan trọng không kém đó là từ dân cư, đứng thứ hai trong nguồn
huy động, dân cư đóng góp một phần vào nguồn vốn huy động của Chi nhánh, ngân hàng đã
thực sự thành công trong việc thu hút nguồn vốn từ dân cư trong những năm gần đây thể
hiện qua việc liên tục tăng về số lượng cũng như tỷ trọng. Nguồn thu khác cũng tăng lên.
 Tình hình sử dụng vốn
Đơn vị tính: triệu đồng
Chỉ tiêu 31/12/2008 31/12/2009 31/12/2010
Số tiền Tỉ trọng Số tiền Tỉ trọng Số tiền Tỉ trọng
Cho vay ngắn
hạn
1.047.197 72,1% 556.518 23,1% 677.653 24,5%
Cho vay dài hạn 404.102 27,8% 1.851.858 76,9% 2.082.834 75,5%
Tổng cộng 1.451.191 100% 2.408.376 100% 2.760.487 100%
Dư nợ cho vay theo thời gian
21
Tình hình dư nợ cho vay qua các năm ngày càng tăng, năm 2011 hơi giảm. Quy mô hoạt
động của ngân hàng được thể hiện qua tổng dư nợ hàng năm, nó là chỉ tiêu liên quan trực
tiếp đến việc tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Dựa vào bảng số liệu ta thấy dư nợ của ngân
hàng tăng lên liên tục qua các năm, điều đó cho thấy quy mô hoạt động tín dụng của ngân
hàng ngày càng được mở rộng. Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, đồng thời mở
rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng, ngân hàng đã tập trung phần lớn nguồn
vốn vào cho vay. Tuy nhiên trong năm 2011 giảm 4% so với năm 2010 chỉ còn 2.650.068 là
do trong năm này chính phủ theo đuổi chính sách kiềm chế lạm phát, thắt chặt tín dụng, nền
kinh tế gặp nhiều khó khăn, hạn chế cho vay, lãi suất cho vay cao.
Năm 2008 tổng dư nợ cho vay là 1.451.191 triệu đồng, đến năm 2009 tổng dư nợ cho vay
là 2.408.376 triệu đồng, tăng 957.185 triệu đồng so với năm 2008. Năm 2010 tổng dư nợ
cho vay là 2.760.487 triệu đồng, tăng 352.111 triệu đồng so với năm 2009. Tình hình dư nợ
tại ngân hàng tăng lên qua các năm cho thấy ba năm vừa qua ngân hàng không ngừng phát
triển, ngân hàng đã có biện pháp linh hoạt kịp thời đáp ứng nhu cầu vay của khách hàng
nhưng không ảnh hưởng tình hình hoạt động kinh doanh tại đơn vị. Tín dụng cho vay ngắn

%
86.706
2.321.670
1.861.033
310.080
150.557
3,6%
96,4
%
77,3
%
12,9
%
6,2%
90.715
2.669.772
2.139.634
350.118
180.020
3,3%
96,7
%
77,5
%
12,7
%
6,5%
22
Tổng cộng 1.451.19
1%

Nợ quá hạn
Tình hình nợ quá hạn ở chi nhánh là khá thấp, năm 2008,2009 là hầu như không có, năm
2010 nợ quá hạn là 4,349 tỷ đồng, chiếm 0.16 trên tổng dư nợ, con số này vẫn nằm trong
mức cho phép, vì hoạt động phát triển của chi nhánh, việc nợ quá hạn là không thể tránh
khỏi, nhất là trong thời kỳ nên kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn, các công ty đứng trước
nguy cơ kinh doanh đình trệ, cầm chừng, phá sản ngày càng nhiều. Tuy nhiên, Chi nhánh
cũng đã rất chú trọng trong việc thẩm định hồ sơ cho vay và đánh giá mức độ rủi ro của từng
hồ sơ. Chính việc đánh giá này đã giúp cho ngân hàng hạn chế được rủi ro cho chi nhánh 4.
 Đánh giá chung về tình hình huy động vốn và sử dụng vốn ở chi nhánh 4
Đơn vị tính: triệu đồng
Năm 2008 2009 2010 2011
Huy động vốn
Cho vay vốn
1.988.511
1.451.191
2.478.765
2.408.376
2.758.225
2.760.487
3.585.623
2.650.068
23
Bảng so sánh tình hình huy động vốn và cho vay
Việc huy động vốn trong 4 năm 2008, 2009, 2010, 2011 liên tục tăng cho thấy ngân hàng
đang thực sự hiệu quả trong việc tạo được nguồn vốn cho ngân hàng, đặc biệt là trong năm
2011 con số huy động lên tới 3.585 tỷ đồng, nguồn vốn dồi dào này tạo được động lực vững
chắc cho việc cho vay của ngân hàng. Việc sử dụng vốn cho vay cũng tăng lên, năm 2011 có
giảm một chút (4% so với năm 2010). Năm 2009, 2010 nguồn huy động và sử dụng vốn gần
bằng với nhau cho thấy ngân hàng đã tận dụng triệt để nguồn vốn từ tiền gửi để cho vay
nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên việc này cũng mang lại rủi ro cho ngân hàng, nhất là

tiếp nhận hướng dẫn hồ sơ
xác minh thực tế
kiểm tra sau cho
vay
giải ngân
thẩm định
tất toán
hồ sơ
thủ tục bảo đảm tiền vay
trình hồ sơ vay
bước 3
bước 7
bước 5
bước 6
bước 4
bước 8
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status