Quá trình gây bệnh bắt đầu từ vĩ ấu trung gian xâm nhập vào gan và di trú qua mô
gan. Khi có 1000 con sán ký sinh trong cơ thể có thể sinh ra bệnh sán lá gan cấp
tính ở dê. Khi có 200 con sán ký sinh trong cơ thể chỉ có thể gây nên bệnh ở dạng
bán cấp tính. Trong trường hợp cấp tính có sự phá vỡ mô gan từng vùng với hiện
tượng xuất huyết nặng, máu rỉ đầy xoang bụng và làm dê chết. Thậm chí không
xuất huyết dê cũng có thể chết trong vòng vài ngày do hậu quả của việc mất chức
năng hoạt động của gan. Bệnh viêm gan mãn tính xuất hiện sau khi sán xâm nhập
vào ống mật và gây mưng mủ. Khi đó sẽ xảy ra thiếu máu và thiếu protein huyết
thanh. Cả 3 dạng trên có thể xuất hiện đồng thời ở một cơ thể dê.
Bệnh sán lá gan cấp: Mặc dù ít xảy ra ở dê, nhưng có thể xuất hiện các trường hợp
như dê chết đột ngột, hoặc yếu dần, suy nhược cơ thể, biếng ăn và xanh xao (da,
kết mạc, niêm mạc nhợt nhạt). Hiện tượng này kéo dài 3 ngày rồi chết.
Bệnh sán lá gan bán cấp: Có các dấu hiệu giống như trên nhưng kéo dài vài tuần.
Bệnh sán lá gan mãn tính: Là dạng phổ biến nhất. Gia súc mắc bệnh thì suy yếu,
kém ăn, lờ đờ, giảm tiết sữa và giảm trọng lượng sau một tháng trở lên. Trong
trường hợp kéo dài, có thể dê bị ỉa chảy. Thể lực kém, xù lông, niêm mạc nhợt nhạt
và tim đập nhanh hơn. Có xuất hiện thủy thũng trong trường hợp kéo dài.
Điều trị và phòng bệnh
Thuốc điều trị và phòng bệnh sán lá gan có tác dụng tốt thường có ở Việt Nam là
Albendazole (10 mg/kg, uống). Sau khi tẩy 3 ngày, phân gia súc thải ra phải được
thu gọn và tiêu độc. Biện pháp phòng bệnh tốt nhất là không nên chăn thả dê ở khu
vực có điều kiện cho ốc nước ngọt cư trú và định kỳ 6 tháng một lần tẩy sán bằng
thuốc hiệu lực cao cho toàn đàn dê bị nhiễm sán.
Bệnh cầu trùng (Coccidiosis)
Nguyên nhân
Bệnh cầu trùng được gây nên bởi các chủng Eimena. Đây là dạng đơn bào ký sinh
cư trú ở ruột non. Dê hơn 6 tháng tuổi thường có miễn dịch. Tuy nhiên, bệnh có thể
xuất hiện ở bất cứ lứa tuổi nào của dê, nếu chúng bị nhiễm quá cao một cách đột
xuất. Miễn dịch cũng có thể bị suy yếu đi bởi dê già và do stress như ốm, tiết sữa,
vận chuyển, thay đổi thức ăn nước uống. Những dê non dưới 5 tháng tuổi hay mắc
bệnh nặng vì chúng chưa phát triển được khả năng miễn dịch. Bệnh cầu trùng
không được để ướt, nhốt dê ở nơi khô ráo những biện pháp này có hiệu quả
phòng bệnh hơn so với dùng thuốc sát trùng, vì độ ẩm cao là điều kiện tốt cho cầu
trùng phát triển. ánh nắng mặt trời trực tiếp có tác dụng sát trùng tốt. Sử sung thuốc
kháng cầu trùng trong thức ăn hoặc nước uống liên tục từ 2 tuần đến 5 tháng tuổi
có thể phòng được bệnh.
C. Các bệnh do rối loạn trao đổi chất
Chướng hơi dạ cỏ (Bloat)
Nguyên nhân và bệnh lý
Chướng hơi dạ cỏ là hội chứng rối loạn tiêu hoá chủ yếu do chế độ ăn uống. Ví dụ
như cho dê ăn nhiều thức ăn bị ôi mốc, chứa nhiều nước, ít xơ và dễ lên men sinh
hơi như dây lang, cây ngô non, cây họ đậu, cỏ non xanh hoặc cho ăn nhiều cỏ khô
rồi thả ra đồng cỏ ướt. Nếu thay đổi đột ngột loại thức ăn từ thức ăn thô sang thức
ăn tinh như hạt ngũ cốc, thức ăn tinh hỗn hợp cũng có thể gây nên chướng hơi.
Nhưng chướng hơi thứ cấp cũng có thể xuất hiện ở dê, khi dê bị cảm lạnh do ướt
nước mưa, viêm ruột, bội thực dạ cỏ, tắc cuống họng do nuốt phải dị vật như quả
táo, cà rốt, hoặc khi dê ốm yếu không được uống nước đầy đủ cũng hay bị nghẹn
thức ăn. Các áp-xe nội tạng cũng có thể tạo nên chướng hơi thứ cấp do chèn ép vào
thực quản.
Về cơ bản, chướng hơi là sự ngăn cản quá trình thoát hơi từ dạ cỏ và thường xảy ra
rất đột xuất. Hơi có thể ở dạng tự do hoặc lẫn với dịch dạ cỏ tạo thành bọt. Nếu
không thoát hơi ra được, dạ cỏ sẽ căng to đè vào cơ hoành, chèn ép phổi gây trở
ngại cho hô hấp và tuần hoàn, có thể làm dê chết do thiếu ôxy trong máu.
Triệu chứng lâm sàng
Chướng hơi do thức ăn có thể xảy ra trong vòng vài giờ sau khi ăn phải các loại
thức ăn không hợp lý. Trong giai đoạn đầu của bệnh, con vật mệt mỏi, khó chịu và
bỏ ăn. Dấu hiệu điển hình nhất là căng bụng, đặc biệt là căng ở bên trái, gõ vào khu
vực đó thì thấy âm trống. Sau khi đầy bụng một thời gian, con vật trở nên khó chịu
hơn, đứng xoạng chân, đi loạng choạng, nhu động dạ cỏ yếu dần và mất hẳn. Giai
đoạn cuối cùng, dê chảy dãi, mắt trợn ngược và chuyển động tròn, niêm mạc mắt,
mồm chuyển từ đỏ hồng sang tím tái, thể hiện cơ thể thiếu ô xy và sắp chết.
0
C), mạch đập tăng. Nếu không điều trị kịp dê có thể chết.
Điều trị và phòng bệnh
Nếu bệnh ở giai đoạn đầu, có thể tiêm ven chậm 15 - 30 ml/ngày dung dịch can xi
clorua (CaCl
2
) 10% hoặc 50-100 ml/ngày dung dịch calcium gluconate 30% trong
vòng 3 ngày liên tục.
Nên phòng bệnh sốt sữa cho dê bằng cách thường xuyên treo tảng liếm khoáng,
muối (70% bột khoáng can-xi, phốt-pho, 15% muối và 15% xi măng) bên thành
lồng, đặc biệt cần bổ sung thêm vào khẩu phần cho dê cái có chửa can-xi, phốt-pho
để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của chúng.
Chương VI:
Cách thịt dê và chế biến sản phẩm dê
Nhà xuất bản nông nghiệp - Hà Nội 2000
TS. Đinh Văn Bình - TS. Nguyễn Quang Sức
I. Cách thịt dê
Tuỳ theo mục đích sử dụng da dê mà chúng ta chọn phương pháp giết thịt phù hợp.
Nếu lấy cả bộ da để thuộc thì phải lột da. Nếu sử dụng da dê làm thực phẩm thì
phải cạo lông hoặc đốt lông bằng đèn khò sau khi đã mổ moi hết nội tạng.
Dù thịt dê bằng phương pháp nào, trước tiên đều phải trói 4 chân lại rồi treo 2 chân
sau lên cao vừa tầm để chọc tiết. Dùng dao nhọn bản rộng 1 -1,5 cm để chọc tiết.
Một tay cầm cuống họng kéo ra, tay kia cầm dao chọc xuyên qua da ngay dưới
cuống họng, tiết chảy hết thì dê chết. Nếu sử dụng tiết để đánh tiết canh hay để làm
dược phẩm thì phải cắt lông, sát trùng da chỗ chọc tiết. Cách thịt dê phổ biến nhất
là cạo lông, tiến hành theo các bước sau đây:
Cạo lông: Dùng nước sôi ngâm hoặc dội ướt tận da. Dùng dao không sắc để cạo
lông.
Mổ bụng: Cắt cuống họng rồi thắt chặt cuống họng và khí quản bằng dây để tránh
chất chứa dạ cỏ trào ra ngoài. Khoét quanh hậu môn sao cho lỗ hậu môn dính liền
chanh, vừng.
Cách làm: Thịt dê thái thành miếng vuông hình quân cờ. Dùng hạt tiêu, ớt, giềng,
xả, tương, đường, mì chính mỡ nước, húng líu trộn đều với thịt, bóp thật nhuyễn