LÚA GẠO VÀ GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ CAO Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - Pdf 19

LÚA GẠO VÀ GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ CAO Ở ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG
Gs.Ts. Nguyễn Thị Lang
Viện lúa ĐBSCL
1. MỞ ĐẦU
Đời sống xã hội ở Đồng bằng sông Cửu Long (?BSCL) gắn liền với con nước thủy
triều và được gọi là một nền văn minh sông nước. Hơn 200 năm qua con người đã
thay đổi toàn bộ c?nh quan từ việc giải tỏa đất đai, xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ
thống nước, đã biến nơi này thành một vùng nông nghiệp sông nước. Những vùng
đất mới đã phát triển mạnh nền sản xuất lúa nhờ chọn lọc canh tác các giống ngắn
ngày năng suất cao. Ở vùng ?BSCL có hai vụ lúa trong năm nhưng cũng có một số
vùng trồng ba vụ lúa cũng được trồng luân canh với các loại cây trồng khác, ở
những khu vực ven biển lúa được trồng vào mùa mưa và khi đến mùa khô người
ta sử dụng các ruộng lúa này để nuôi tôm.
ĐBSCL được mệnh danh là "bát gạo" của Việt Nam, trong năm 2005 vùng này có
sản lượng gạo chiếm 54% sản lượng gạo ? Việt Nam (cung cấp 90% sản lượng
gạo xuất khẩu), Việt Nam là nước xuất khẩu lúa gạo chiếm vị trí thứ hai với kim
ngạch xuất khẩu hàng năm là 4,5 triệu tấn cung cấp 23% thị trường thế giới.
ĐBSCL có thể được chia thành 3 khu vực nông nghiệp thủy lợi, vùng được phân
chia tùy theo loại đất. Thời vụ của lúa khác nhau từ vùng này sang vùng khác và bị
ảnh hưởng nhiều bởi nguồn thủy lợi, đặc biệt là lũ lụt, nguồn nước và độ mặn của
nước.
Khu vực 1: khu vực bị ngập sâu (An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp và một phần
của Cần Thơ). Thời vụ gieo trồng được xác định bởi chế độ nước của sông
Mekong. Trong hai thập kỷ qua người nông dân đã thay đổi lịch gieo trồng để
tránh lũ lụt. Tiến hành xuống giống lúa vào mùa khô và đầu mùa mưa, trước khi
nước lũ tràn về. Về cơ sở hạ tầng (đê bao, đê lấn biển và kênh mương) ở khu vực
đất ruộng và cả khu sinh sống cộng đ?ng cũng đã được xây dựng nhằm tạo điều
kiện thuận lợi cho các thời vụ gieo trồng.
Khu vực 2a: khu vực trung gian/ đất phù sa (Cần thơ, Vĩnh Long, một phần của
An Giang, Hậu Giang và Tiền Giang). Sản xuất trên đất phù sa là nơi cung cấp lúa

nghiệp giảm + thiếu nước trong mùa khô + ảnh hưởng của khủng hoảng lương
thực và năng lượng trên thế giới. Năm 2009 đánh dấu sự kiện 1,002 tỷ người đói
do hạn hán, lũ lụt. Hơn 1 tỷ người rơi vào tình cảnh nghèo khó. Thách thức trước
mắt: đất nông nghiệp giảm, thiếu nước, giá đầu vào tăng (chủ yếu là nhiên liệu và
phân bón), sự thoái hóa đất trồng, đói nghèo và thiếu dưỡng chất.
Khả năng cạnh tranh kém của bộ giống lúa đang sản xuất trên đồng ruộng hiện
nay, độ bạc bụng tăng theo xu hướng ấm lên của trái đất, hàm lượng amylose cao,
giá trị độ bền thể gel thuộc nhóm cứng cơm là thách thức lớn cho nhà chọn giống.
Công nghệ hạt giống (seed technology) ít được chú ý đầu tư và chưa có chính sách
hợp lý để thúc đẩy sự phát triển công nghệ hạt giống.
Sự bộc phát sâu bệnh hại như rầy nâu, bệnh đạo ôn ngày càng nghiêm trọng.
Chúng ta rất thiếu những nghiên cứu cơ bản về di truyền làm cơ sở cho việc định
hướng sử dụng bố mẹ và chọn lọc con lai, trên cơ sở đa dạng sinh học. Chúng ta
còn thiếu các nghiên cứu tương tác giữa ký chủ và ký sinh, hệ thống truyền tín
hiệu và sự thể hiện gen mục tiêu, tương tác giữa kiểu gen và môi trường, tiêu
chuẩn chọn lọc cần thiết và các thông số di truyền khác như chỉ số chọn lọc, hiệu
quả chọn lọc.
Thiếu thông tin lẫn nhau trên mạng đặc biệt là data base về bảo tồn tài nguyên di
truyền động thực vật. Chúng ta đầu tư nhiều tiền của trong sưu tập, bảo quản,
nhưng thiếu đầu tư cho đánh giá kiểu hình và đánh giá kiểu gen, dẫn đến việc sử
dụng nguồn tài nguyên này rất thấp (thí dụ cây lúa chỉ mới khai thác được 0,03%
ngân hàng gen đang được bảo quản tại ĐBSCL).
Mức thu nhập của người làm ruộng thấp + khả năng thiếu lao động cao trong thời
vụ tập trung + xu hướng di dân ra đô thị, bỏ ruộng đồng.
Bên cạnh đó, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng sẽ đặt ra nhiều cơ hội và
thách thức mới. Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại
thế giới (World Trade Organization - WTO), đang đứng trước sức ép đòi giảm bớt
trợ cấp nông nghiệp và mở cửa thị trường cho hàng hóa nông sản. Nhu cầu tổ chức
lại thị trường trong phạm vi toàn thế giới bắt nguồn từ các nước công nghiệp phát
triển, nơi đó lực lượng sản xuất phát triển ở trình độ cao. Những nước đang phát

Thoạt tiên, nó được xây dựng ở ven đô, sau đó mở rộng ra ở các vùng khác. Nó
tôn trọng qui luật tự nhiên, coi trọng bảo vệ nguồn tài nguyên sẵn có của thiên
nhiên và sau cùng là chất lượng sản phẩm tốt, vệ sinh.
2. Mô hình cung ứng nông sản cho đô thị, cho các thành phố lớn, với hệ
thống quản lý chất lượng sản phẩm được kiểm soát tốt. Với dân số khá khiêm tốn
hiện nay của Tp. Long Xuyên, chúng ta khó có thể xây dựng mô hình này, nhưng
trong tương lai không xa, đây sẽ là mô hình rất phát triển. Mô hình này còn đòi hỏi
một sự chuẩn hóa nghiêm khắc với hệ thống luật lệ khá hoàn chỉnh, một hệ thống
kiểm tra thật tốt.
3. Mô hình quản lý chất lượng đầu ra là mô hình thường được tìm thấy ở
Hà Lan. Người ta xây dựng mạng lưới các chợ rau xanh ở thành phố, kiểm tra chất
lượng sản phẩm chặt chẽ nơi tiêu thụ. Nó giống như mô hình 2, nhưng qui mô
giới hạn trong một sản phẩm, thí dụ rau xanh, hoặc lúa gạo. Điều này tác động tích
cực đến sản xuất, buộc các nhà nông phải không ngừng cải tiến qui trình.
4. Mô hình nông nghiệp công dân là mô hình ở Pháp. Mô hình này giải
quyết rất tốt vấn đề ô nhiễm, bản thân một ngành hàng, một người khó có thể giải
quyết được. Lúc bấy giờ, trách nhiệm thuộc về tất cả mọi công dân không phân
biệt ngành nghề, vị trí xã hội và giới. Họ đứng trong cùng đội ngũ với nông nghiệp
giải quyết các vấn đề đang gặp phải.
Đối với An Giang, chúng tôi nghĩ rằng mô hình số 1 và 3 có tính khả thi
cao. Đặc biệt, sản xuất gạo cung cấp cho các siêu thị không những chỉ phục vụ An
Giang, mà còn cho nhiều thành phố khác như Tp. Hồ Chí Minh,
5. Thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu
khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và
công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp, nhằm nâng cao năng suất,
chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường là mục
tiêu quan trọng hàng đầu trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông
thôn. Trong đó, ĐBSCL còn rất thiếu nội dung cơ khí hóa, công nghệ sau thu
hoạch, ứng dụng công nghệ sinh học hiện đại trong sản xuất.
6. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng

trường vô cùng phức tạp (như tính chống chịu khô hạn, chống chịu mặn, chống
chịu thiếu lân,…). Bên cạnh đó, các vật liệu làm nhiệm vụ bắc cầu với khả năng
tiếp hợp (compatibility) cao cần được xác định trong trường hợp lai xa, lai khác
loài, khác sub-species (dưới loài), hoặc khai thác tính trạng thơm ngon từ cây cổ
truyền, năng suất thấp, vào cây trồng cao sản.
* Chiến lược tạo đột phá về năng suất thông qua khai thác ưu thế lai của cây lúa,
hoặc tạo giống lúa có dạng hình mới đang gặp nhiều thách thức ở ĐBSCL. Đối với
lúa ưu thế lai, ĐBSCL sẽ trở thành nơi sản xuất hạt lai có tiềm năng cho cả nước.
* Chiến lược tạo giống lúa hạt dài, hàm lượng amylose #20%, ít bạc bụng là ưu
tiên số 1, kế đến là mùi thơm. Phương pháp chọn tạo giống truyền thống vẫn còn
nguyên giá trị của nó trong cải tiến giống lúa theo mục tiêu chiến lược này. Tuy
nhiên, nó cần được kết hợp với các phương pháp hiện đại để thúc đẩy hiệu quả tốt
hơn.
* Phát triển công nghệ hạt giống. Cái yếu nhất của ĐBSCL chúng ta là công nghệ
hạt giống, phát triển công nghệ hạt giống có hệ thống bao gồm: (1) kỹ thuật sản
xuất hạt giống, (2) kiểm tra chất lượng hạt giống và cấp chứng chỉ, (3) hệ thống
pháp luật hạt giống (seed legislation), (4) chính sách hạt giống của chính phủ (bao
gồm quyền tác giả, tổ chức sản xuất, quản lý thị trường,…) là những hoạt động cải
tiến có ý nghĩa khả năng cạnh tranh hạt gạo Việt Nam với các quốc gia trong khu
vực.
* Phát triển các nội dung chủ yếu của công nghệ sau thu hoạch bên cạnh những
tiến bộ về giống. Phơi, sấy, bảo quản trong kho, xay chà, đánh bóng, bao bì, dán
nhãn và thương hiệu cần được tiến hành có hệ thống với tiêu chuẩn rõ ràng, kiểm
tra chặt chẽ. Phát triển hệ thống dự báo thị trường, giá cả, cung cầu, giúp nông dân
và doanh nghiệp trong quyết định chọn lựa phương thức sản xuất kinh doanh. Cả
ĐBSCL, hệ thống kho tàng dự trữ lúa gạo của nông dân chỉ có khả năng giữ trung
bình 2 tháng/năm là con số đáng lo ngại.
* Công nghiệp hóa ngành trồng lúa: là tiến trình sản xuất lúa gạo, trong đó đa số
hoạt động được cơ giới hóa, làm tăng năng suất trên đơn vị đất, tăng năng suất lao
động, lợi tức cao. Kinh nghiệm của các nước trồng lúa tiên tiến như Nhật Bản,

quản lý kỹ thuật canh tác). Mô hình đang được tập trung nghiên cứu là:
- Phát triển từ mức độ phân tử của bộ gen đến mức độ cây trồng cụ thể, đến
hệ thống sinh học cây trồng.
- Phát triển cây lúa C3 sang cây C4 theo mô hình GECROS (2008).
- Mô phỏng cầu nối giữa sinh học hệ thống, sinh lý cây trồng, chọn giống
cây trồng và kỹ thuật quản lý thích ứng.
- Từ mô phỏng hệ thống cây trồng đến đánh giá sự tổn thương khi thay đổi
khí hậu.
- So sánh 12 models về khí hậu của hai giai đoạn 2081-2100 với 1981-
2000, nhằm tìm kiếm một sự quản lý tốt đối với rủi ro, tránh đổ lỗi cho khách
quan.
Hiệu quả sử dụng phân đạm đã giảm nghiêm trọng trên nhiều vùng trồng lúa.
Nghiên cứu xu hướng năng suất lúa N giảm dần (dự án yield declining) của
Cassman và ctv. 1996 và tài liệu của Li 1991, cho thấy ở Philippines, để sản xuất
được 1kg gạo, cần bón 15-18kg N, ở Trung Quốc là 15-20kg N trong giai đoạn
1958-1963, nhưng giảm xuống 9,1kg N ở giai đoạn 1981-1983, và hiện nay là
5,0kg N.
* Kỹ thuật canh tác mới : những kỹ thuật mang tính chất cơ bản là: (i) cấy mạ non,
tuổi mạ 8-12 ngày, (ii) cây thưa, mật độ 16 cây/m2, nhằm khai thác tiềm năng lớn
nhất của giống lúa. Kỹ thuật canh tác hiện đại phải chú ý hiệu quả sử dụng phân N
và mức độ phục hồi N. Đối với kỹ thuật sạ thẳng, người ta khuyến cáo nội dung áo
bên ngoài hạt thóc bằng một lớp sắt (iron-coated seeds), máy áo hạt sẽ giúp nông
dân thực hiện 500kg hạt trong 2 giờ để trộn với bột sắt. Điều này sẽ làm cho hạt
nặng hơn, chìm sâu xuống đất để tránh chim ăn (đề nghị của Yamauchi và ctv).
Trung tâm Aichi đề xuất kỹ thuật cày hình chữ V để sạ thẳng.
* Nội dung khuyến nông với địa phương nên tập trung vào 9 nội dung phải kiểm
soát trong quá trình canh tác lúa. Đó là: (1) chuẩn bị đất, nền tảng của thành công;
(2) thời gian gieo sạ đúng thời vụ; (3) đảm bảo 150-300 chồi/m2 và đồng đều; (4)
sử dụng thuốc diệt cỏ và thuốc BVTV khi cần thiết; (5) bón phân căn bản, đặc biệt
phân N; (6) bón N đúng lúa nhờ kỹ thuật phân tích cận hồng ngoại (near-infra

Kế hoạch chiến lược với một đội ngũ chuyên gia đa ngành kiến thức và sự hình
thành cầu nối sản xuất và nghiên cứu.
Sự thành thạo thuộc về khoa học được tăng cường và sự công nhận quốc tế.
Khả năng làm vững mạnh và phát triển đội ngũ thông qua đào tạo có bằng cấp và
không bằng cấp.
Sự liên kết và trao đổi kiến thức mạnh mẽ hơn thông qua sự kết nối và cuộc họp
của dự án, đề tài.
Cập nhật kiến thức và kinh nghiệm các kỹ thuật cho nông dân trồng lúa.
* Cuối cùng tăng cường hợp tác quốc tế.
KẾT LUẬN
Nông nghiệp Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng cần chuyển hướng phát
triển theo chiều sâu, trên cơ sở phát triển khoa học nông nghiệp, những tiến bộ kỹ
thuật mới, nhất là lĩnh vực ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ thông tin,
trong chọn tạo giống; bảo vệ cây trồng, vật nuôi; bảo vệ môi trường sinh thái. Mục
tiêu hướng đến nông nghiệp chất lượng cao với nông sản thoả mãn yêu cầu hội
nhập, phục vụ nội tiêu, xuất khẩu, có sức cạnh tranh tốt, tiến đến xây dựng một
nền nông nghiệp bền vững, đa dạng hóa cơ cấu ngành nghề trong nông thôn, giảm
hiện tượng di dân tạo sức ép quá lớn cho thành thị. Sản xuất nông nghiệp cao
không phải chỉ bằng kinh nghiệm của nông dân mà bằng kiến thức khoa học, thực
hiện nội dung "trí thức hóa nông dân" với vai trò vô cùng quan trọng của công tác
khuyến nông. Vùng ĐBSCL có những đặc thù phải bằng con đường công nghệ
cao trong hướng nông nghiệp với quy trình khép kín sẽ có những hướng đặc thù
riêng.
Tài liệu tham khảo
David, C.C. and Otsuka, K., eds. 2006. Modern rice technology and income
distribution in Asia. Lynne Rienner Publisher and International Rice
Research Institute, Boulder, Colorado, and Manila.
FAOSTAT (FAO Statistical Service). 2010. http://faostat.fao.org, Food and
Agriculture Organization of the United Nations. Accessed June 2010.
Hazell, P.B.R. 2010. The Asian Green Revolution. In D. J. Spielman and R.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status