“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
PHẦN GIỚI THIỆU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu của quá trình sản xuất kinh doanh. Vì
vậy, việc đảm bảo đủ số lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là việc làm
rất quan trọng trong mỗi cơ quan, tổ chức. Việt Nam được thế giới đánh giá là có
lợi thế về dân số đông, đang trong thời kỳ “dân số vàng” nên lực lượng trong độ tuổi
lao động khá dồi dào. Đây là nguồn lực vô cùng quan trọng để đất nước ta thực hiện
thành công Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020 đã được Đại
hội Đảng XI thông qua ngày 16/2/2011.
Đối với Việt Nam, khi làm chiến lược phát triển kinh tế thường không song
hành với chiến lược phát triển nhân lực. Đây là một hạn chế lớn, ảnh hưởng đến
phát triển nguồn nhân lực nước ta. Và hệ quả của cách làm này cho thấy, dù chi tiêu
cho giáo dục chiếm tỷ trọng lớn của GDP nhưng nguồn nhân lực vẫn không có bước
đột phá, các chiến lược phát triển kinh tế không có đủ nguồn nhân lực cần thiết để
thực hiện. Theo Phó giáo sư – Tiến Sĩ Đức Vượng (Viện trưởng Viện Khoa học
nghiên cứu nhân tài - nhân lực Việt Nam) đã khẳng định “nếu không làm tốt vấn đề
tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước, thì khó lòng đạt được mục tiêu đến
năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.
Hiện nay, Đồng bằng Sông Cửu Long có khoảng 85.000 cơ sở sản xuất, khu
công nghiệp, thu hút 300.000 lao động làm việc. Tuy nhiên, toàn vùng chỉ giải quyết
được việc làm cho khoản 170.000 người. Theo tiến sĩ Bùi Thị Thanh (Trường Đại
học Kinh Tế Thành phố Hồ Chí Minh) nhận định: “Môi trường làm việc, chính sách
đãi ngộ để thu hút nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân tài của Đồng bằng Sông Cửu
Long, chậm cải thiện, chưa đủ mạnh và thiếu đồng bộ giữa các địa phương nên
không tạo ra các điều kiện cần thiết kích thích phát triển và thu hút nguồn nhân lực.
Điều đó dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám sang các vùng khác như Thành phố
Hồ Chí Minh, các tỉnh Đông Nam Bộ”.
GVHD: Th.S. Phạm Lê Hồng Nhung 1 SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của những vấn đề trên nên việc
4.2. Phương pháp phân tích
Dùng phương pháp thống kê và mô tả để biết được thực trạng nguồn nhân lực
Việt Nam nói chung và thực trạng nguồn nhân lực tại Đồng bằng Sông Cửu Long
nói riêng.
Từ mô tả và phân tích trên sử dụng phương pháp suy luận để đề ra các giải
pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác thu hút nguồn nhân lực có trình độ,
góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Đồng bằng Sông Cửu Long.
GVHD: Th.S. Phạm Lê Hồng Nhung 3 SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 KHÁI NIỆM NGUỒN NHÂN LỰC
Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển
kinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người … Trong
các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định
trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay. Một
nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng
không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó
thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và ngày nay trong công cuộc
hội nhập và phát triển nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh”, Đảng ta luôn xác định: Nguồn lao động dồi dào, con người Việt
Nam có truyền thông yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hoá, giáo dục, có
khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng nhất -
nguồn năng lực nội sinh. Vậy nguồn nhân lực là gì?
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực:
- Dưới dưới góc độ của Kinh tế Chính trị: nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực
và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó
kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch
1.2. NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một người
lao động cụ thể có trình độ lành nghề ( về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành
nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định
(Đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề. Giữa chất lượng
GVHD: Th.S. Phạm Lê Hồng Nhung 5 SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Nói đến chất lượng nguồn nhân lực là
muốn nói đến tổng thể nguồn nhân lực của một quốc gia, trong đó nguồn nhân lực
chất lượng cao là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh tuý nhất, có
chất lượng nhất. Bởi vậy, khi bàn về nguồn nhân lực chất lượng cao không thể
không đặt nó trong tổng thể vấn đề chất lượng nguồn nhân lực nói chung của một
đất nước. Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực phải đáp ứng được yêu
cầu của thị trường ( yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước), đó là: có
kiến thức: chuyên môn, kinh tế, tin học; có kỹ năng: kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm,
làm việc an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm
với công việc.
Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là những con người phát triển cả
về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị- xã hội, về
đạo đức, tình cảm trong sáng. Nguồn nhân lực chất lượng cao có thể không cần
đông về số lượng, nhưng phải đi vào thực chất.
Trong thế giới hiện đại, khi chuyển dần sang nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri
thức và trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt
là nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng thể hiện vai trò quyết định của nó. Các
lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh
và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát
triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong đó động
lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là những con người,
đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, tức là những con người được đầu tư phát
Ngày nay một quốc gia có thể không giàu về tài nguyên, điều kiện thiên nhiên
không mấy thuận lợi nhưng nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh và phát triển bền
vững nếu hội đủ bốn điều kiện :
GVHD: Th.S. Phạm Lê Hồng Nhung 7 SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
+ Một là, quốc gia đó biết đề ra đường lối kinh tế đúng đắn.
+ Hai là, quốc gia đó biết tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đó.
+ Ba là, quốc gia đó có đội ngũ công nhân kỹ thuật tay nghề cao và đông đảo.
+ Bốn là, quốc gia đó có các nhà doanh nghiệp tài ba.
Thứ hai là, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết
định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; là quá trình chuyển
đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao
động thủ công là phổ biến sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động được đào
tạo cùng với công nghệ tiên tiến, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại
nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Đối với nước ta đó là một quá trình tất
yếu để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hộ chủ nghĩa. Khi đất nước ta
đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn, tiếp cận kinh tế tri
thức trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, do đó yêu cầu nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, nhất là trí lực có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và phát triển bền vững. Đảng ta đã
xác định phải lấy việc phát huy chất lượng nguồn nhân lực làm yếu tố cơ bản cho sự
phát triển nhanh và bền vững.
Thứ ba là, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để rút ngắn khoảng cách
tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước nhằm phát triển bền vững.
Thứ tư là, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt là
nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức lớn.
GVHD: Th.S. Phạm Lê Hồng Nhung 8 SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
2012, dân số nam 43,92 triệu người, tăng 1,10%; dân số nữ 44,86 triệu người tăng
1,04%. Nhìn chung, tốc độ gia tăng dân số nam cao hơn tốc độ gia tăng dân số nữ
trong giai đoạn 2010 – 2012.
GVHD: Th.S. Phạm Lê Hồng Nhung 9 SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
Xét theo khu vực: Trong tổng dân số cả nước năm 2011, dân số khu vực thành
thị là 27,89 triệu người, tăng 1,38% so với năm trước; dân số khu vực nông thôn là
59,95 triệu người, giảm 0,47%. Tuy nhiên, dân số ở cả hai khu vực đều tăng trong
năm 2012. Dân số khu vực thành thị tăng 3,30% so với năm 2011, đạt mức 28,81
triệu người. Dân số khu vực nông thôn cũng tăng thêm nhưng với tỷ lệ thấp là
0,03% so với năm 2011 và đạt 59,97 triệu người
Theo tính toán của Quỹ Dân số Liên hiệp quốc, đến giữa thế kỷ XXI, dân số
Việt Nam (VN) có thể đạt ngưỡng 100 triệu người [10, Tr 1]. Ngân hàng thế giới
(WB) đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay đạt 3,79 điểm
(thang điểm 10), xếp thứ 11 trong số 12 nước ở châu Á tham gia xếp hạng.
Chỉ số cạnh tranh nguồn nhân lực VN đạt 3,39/10 điểm và năng lực cạnh tranh
của nền kinh tế VN xếp thứ 73/133 nước được xếp hạng [10, Tr1]. Tuổi thọ trung
bình của người VN hiện nay là 75 tuổi.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên và lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm
việc có xu hướng tăng qua các năm. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2011
là 51,40 triệu người, tăng 1,96% so với năm 2010. Trong năm 2012, lực lượng lao
động từ 15 tuổi trở lên đã tăng thêm 1,18 triệu người, tương đương 2,30%, đẩy con
số này lên 52,58 triệu người.
Bảng 2. LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010-2012
ĐVT: Triệu người
Lực lượng
lao động
Năm
2010
Năm
ĐANG LÀM VIỆC TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 – 2012
ĐVT: %
Năm 2010 2011 2012
Theo thành phần kinh tế 100,00 100,00 100,00
Nhà nước 10,42 10,43 10,39
Ngoài nhà nước 86,06 86,20 86,30
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 3,53 3,38 3,31
Theo ngành kinh tế 100,00 100,00 100,00
Nông, lâm nghiệp và thủy sản 49,50 48,39 47,49
Công nghiệp và xây dựng 20,96 21,28 21,11
Dịch vụ 29,54 30,33 31,40
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
Số liệu từ Điều tra biến động dân số năm 2011 của Tổng cục Dân số - Kế
hoạch hóa gia đình cho thấy, số lượng người cao tuổi đang tăng nhanh hơn bất kỳ
GVHD: Th.S. Phạm Lê Hồng Nhung 11 SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
nhóm dân số nào khác nên chỉ số già hóa cũng gia tăng nhanh chóng, trong khi đó tỷ
số hỗ trợ tiềm năng lại giảm đáng kể [20, Tr1].
Thời gian để VN chuyển đổi từ cơ cấu dân số già hóa sang cơ cấu dân số già sẽ
ngắn hơn nhiều so với tăng trưởng kinh tế cũng như các chương trình an sinh xã hội
cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của nhóm dân số cao tuổi được coi là nhóm thiệt
thòi và dễ bị tổn thương nhất. Hiện tại, hơn 39% người cao tuổi VN vẫn đang làm
việc.
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi và tỷ lệ thiếu việc làm của lao
động trong độ tuổi của VN giai đoạn 2010-2012 có chiều hướng giảm dần qua các
năm, đây là một dấu hiệu tích cực của thị trường lao động. Tỷ lệ thất nghiệp của lao
động trong độ tuổi năm đã giảm từ 2,88% năm 2010 xuống 1,99% năm 2012. Tỷ lệ
thất nghiệp ở khu vực thành thị luôn cao hơn ở khu vực nông thôn. Trong đó, khu
vực thành thị giảm từ 4,29% năm 2010 xuống 3,25% năm 2012 và khu vực nông
thôn giảm từ 2,30% năm 2010 xuống 1,42% năm 2012. Tỷ lệ thiếu việc làm năm
Chảy máu chất xám (tiếng Anh: human capital flight hoặc brain drain) là thuật
ngữ dùng để chỉ vấn đề di cư quy mô lớn của nguồn nhân lực có kiến thức và kĩ
thuật từ một nước qua những nước khác.
Hiện nay, Chảy máu chất xám còn là cụm từ dùng để chỉ những người không
thỏa mãn với môi trường làm việc, muốn tìm cơ hội thăng tiến và cống hiến ở một
công ty mới. Việc giữ chân nhân viên giỏi đang là một vấn đề nhức nhối đối với
nhiều doanh nghiệp, nhất là những ngành yêu cầu trình độ cao.
Xuất phát từ ước mơ thoát nghèo, lao động kĩ thuật cao thường có xu hướng
học tập và làm việc ở môi trường được kỳ vọng là thuận lợi nhất. Từ đó, hiện tượng
chảy máu chất xám ở các nước nghèo và đang phát triển lại càng đáng quan ngại
hơn.
Theo thống kê của Trang Di cư (Bộ Ngoại giao VN) [25, Tr 1] thì cộng đồng
Việt ở nước ngoài đã tăng hơn 4 triệu người, đang học tập, sinh sống và làm việc
trên 103 quốc gia và vùng lãnh thổ. Nếu chỉ nhìn trong ngắn hạn thì điều này đồng
nghĩa với lượng chất xám đang thất thoát ngày càng nhiều. Số liệu thống kê ước tính
GVHD: Th.S. Phạm Lê Hồng Nhung 13 SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
có khoảng 400.000 trí thức, trong đó có 25% du học sinh VN đang học tập, sinh
sống tại xứ người. Khảo sát năm 2010 của Viện giáo dục quốc tế IIE thì có đến 60-
70% du học sinh có ý định ở lại học tập và công tác ở nước ngoài. Đáng lo hơn là số
học sinh du học tự túc chiếm đến 90% tổng số lượng thống kê.
Đề án đào tạo cán bộ tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước (đề án
322) được hình thành từ năm 2000 với mục tiêu là đào tạo cán bộ tại những cơ sở
giáo dục nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước với những ngành mà VN thiếu hoặc
chất lượng chưa đạt chuẩn quốc tế. Đây là đề án được kỳ vọng rất lớn từ phía chính
phủ, nhân dân lẫn người học. Đề án 322 là một chương trình nhận được nguồn kinh
phí rất lớn trong điều kiện đất nước còn nghèo, kéo dài trong một thập kỷ. Theo ông
Nguyễn Xuân Vang, cục trưởng Cục Đào tạo nước ngoài - Bộ GD-ĐT, cho biết kinh
phí đã chi cho việc đào tạo từ năm 2.000 - 2010 là trên 2.500 tỉ đồng, trung bình mỗi
năm chi 228,5 tỉ đồng.
Quân nhận định: “VN đang rất lãng phí nguồn lực chất xám ở các trường ĐH, nơi
tập trung rất đông nguồn nhân lực trình độ cao với nhiều giáo sư, phó giáo sư, tiến
sĩ” [12, Tr 1].
2.1.3. Hoạt động động đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
Theo Bộ Giáo dục và đào tạo năm học 1999-2000, cả nước có 153 trường ĐH
và cao đẳng (ĐH là 69, cao đẳng là 84), năm học 2004-2005 số trường là 230 (93
trường ĐH, 137 trường cao đẳng), năm học 2011-2012, số trường ĐH và cao đẳng
(CĐ) là 419 (ĐH là 204 trường, số trường CĐ là 215). Như vậy, so với năm học
1999-2000 thì số trường ĐH và cao đẳng tính đến năm học 2011-2012 đã tăng thêm
hơn 2,7 lần. Việc tăng thêm các trường ĐH và CĐ để đáp ứng nhu cầu học tập của
xã hội, góp phần đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước là cần thiết. Song việc mở ồ ạt các trường trong điều kiện cơ sở vật
chất thiếu thốn, đội ngũ giáo viên chưa đủ, đồng thời một cơ chế quản lý lỏng lẻo,
nhiều bất cập thì lại trở thành một điều đáng lo ngại đối với giáo dục nước ta.
GVHD: Th.S. Phạm Lê Hồng Nhung 15 SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
Bảng 5. SỐ LƯỢNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG
VÀ SINH VIÊN ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG QUA CÁC NĂM HỌC
Bậc học
Năm học
Hệ cao đẳng Hệ đại học Tổng
Trường Sinh viên Trường Sinh viên Trường Sinh viên
1999 – 2000 153 173.910 69 719.840 222 893.750
2004 – 2005 137 273.460 93 1.046.291 230 1.319.754
2009 – 2010 230 576.880 173 1.358.861 403 1.935.739
2010 – 2011 173 726.219 188 1.435.887 414 2.162.106
2011 – 2012 215 756.290 204 1.448.021 419 2.204.313
Ghi chú: - Đơn vị tính cột Trường là: Trường
- Đơn vị tính cột Sinh viên là: Sinh viên
(Nguồn: Bộ giáo dục và Đào tạo)
không kiểm soát chất lượng giảng dạy và cấp bằng tùy tiện hiển nhiên là làm giảm
thấp uy tín của giáo dục VN. Bằng chứng là chất lượng của các trường ĐH hàng đầu
VN bị xuống cấp nghiêm trọng, không có khả năng cạnh tranh quốc tế, và trên thực
tế không thể lọt vào nhóm 200 trường đầu bảng xếp hạng các trường ĐH trên thế
giới.
2.1.4. Hoạt động nghiên cứu khoa học
Theo thống kê của Bộ Khoa học - Công nghệ, tính đến tháng 12-2012 cả nước
có 24.300 tiến sĩ và 101.000 thạc sĩ. So với năm 1996 đội ngũ này tăng trung bình
11,6%/năm, trong đó TS tăng 7%/năm, thạc sĩ tăng 14%/năm [28, Tr 1]
Theo Phó Giáo Sư – Tiến Sĩ Phạm Bích San, Phó tổng thư ký Liên hiệp Các
hội khoa học và kỹ thuật VN (VUSTA) nhận định “Số Giáo sư, Tiến sĩ chúng ta
nhiều nhất Đông Nam Á nhưng không có trường ĐH VN nào được đứng trong bảng
xếp hạng 500 trường ĐH hàng đầu thế giới. Số lượng các bài báo công bố quốc tế
của cả nước gần 90 triệu dân trong một năm chỉ bằng số lượng của một trường ĐH ở
Thái Lan” [28, Tr 1]. Theo Báo cáo Harvard, trong năm 2006, 2.830 giảng viên của
trường ĐH Chulalongkorn của Thái Lan đăng được 744 công trình nghiên cứu trên
GVHD: Th.S. Phạm Lê Hồng Nhung 17 SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
các tạp chí quốc tế. Trong khi đó, 3.360 giảng viên của hai trường ĐH Quốc gia Hà
Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đăng được tổng cộng 36 công trình.
Năm 2006, các nhà nghiên cứu của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
(VAST) đăng được 41 bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế [13, Tr 1]. Cũng
trong năm đó, chỉ riêng các nhà nghiên cứu của Trường ĐH Phúc Đán ở Thượng
Hải đã đăng được 2.286 bài trên các tạp chí quốc tế.
Theo thống kê Viện thông tin khoa học (ISI), trong giai đoạn 1996-2011 Việt
Nam mới có 13.172 ấn phẩm khoa học công bố trên các tập san quốc tế có bình
duyệt, bằng khoảng một phần năm của Thái Lan (69.637), một phần sáu của
Malaysia (75.530), và một phần mười của Singapore (126.881).
Thống kê của Bộ Khoa học – Công nghệ và các chuyên gia cho thấy trong 5
năm (2006 - 2010) cả nước chỉ có khoảng 200 bằng sáng chế, giải pháp hữu ích
công nghệ đóng vai trò quan trọng thúc đẩu tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm mới và
chất lượng. Đổi mới công nghệ cũng là yếu tố quan trọng hàng đầu để tăng sức cạnh
tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, chỉ số này luôn thấp hơn các nước Malaysia,
Singapore và Thái Lan.
GVHD: Th.S. Phạm Lê Hồng Nhung 19 SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
Chất lượng của các nghiên cứu khoa học còn thấp. Đề tài mà chúng ta tiến
hành nghiên cứu là ứng dụng những thành tựu của thế giới vào điều kiện cụ thể của
VN. Những vấn đề mà chúng ta chọn làm mục tiêu nghiên cứu đối với thế giới
thường là quá cũ, có khi cũ đến hai, ba hoặc cũng có thể tới bốn chục năm. Tên đề
tài thường chung chung, không có giới hạn cụ thể [28, Tr 1]. Tỷ lệ kết quả nghiên
cứu được ứng dụng vào sản xuất có lẽ chỉ khoảng vài ba phần trăm. Đề cương
nghiên cứu của đề tài thường “rộng”, nhiều nội dung nhưng kết quả đạt được thì quá
khiêm tốn, lặp đi lặp lại, bảo vệ đạt “xuất sắc”. Tuy nhiên, ngoài việc nộp cho Bộ
Khoa học và Công Nghệ và thì đề tài không được ứng dụng. Nghiên cứu khoa học
có thể được thực hiện nhằm được tính điểm công trình để ứng cử vào các chức danh
giáo sư, phó giáo sư. Điều này gây lãng phí lớn hàng chục tỉ đồng cho ngân sách nhà
nước.
2.2. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CÓ TRÌNH ĐỘ CAO Ở ĐỒNG
BẰNG SÔNG CỬU LONG
2.2.1. Giới thiệu khái quát Đồng bằng Sông Cửu Long
Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) có diện tích đất tự nhiên là 39.653,2
Km
2
(chiếm 12,50% diện tích đất tự nhiên của cả nước, gồm 13 tỉnh, thành phố:
Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Thành phố Cần
Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau. Đây là
vùng sinh thái, là đồng bằng châu thổ lớn nhất VN, là châu thổ rộng và phì nhiêu ở
Đông Nam Á và thế giới. Đất canh tác hầu hết là đất phù sa, được tưới tiêu bằng hệ
thống sông ngòi, kênh mương chằng chịt do thiên nhiên ban tặng và được xây dựng
tốc độ tăng lực lượng lao động, thì tốc động tăng trưởng lực lượng lao động 0,95%.
Đây là một tiềm năng lớn cho phát triển nguồn nhân lực của vùng, nhưng cũng tạo
nên sức ép lớn về giải quyết việc làm và các vấn đề xã hội khác.
Bảng 6. SỰ GIA TĂNG NGUỒN NHÂN LỰC
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
ĐVT: Nghìn người
Lực lượng
lao động
Năm
2010
Năm
2011
Năm
2012
Chênh lệch
2011-2010 2012-2011
GVHD: Th.S. Phạm Lê Hồng Nhung 21 SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
+/-
Tỷ
lệ %
+/-
Tỷ
lệ %
Lực lượng lao
động từ 15
tuổi trở lên
10046,10 10128,70 10238,40
82,60
0,82
cấu lao động. Hệ quả là một bộ phận lao động ở nông thôn được chuyển sang thành
GVHD: Th.S. Phạm Lê Hồng Nhung 22 SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
thị hoặc được chuyển sang làm việc trong các ngành công nghiệp, làm giảm tỷ lệ lao
động ở khu vực nông thôn. Tỷ lệ lao động khu vực thành thị đã tăng từ 17,16% năm
2001 lên 29,34% năm 2011. Tương ứng, tỷ lệ lao động khu vực nông thôn đã giảm
từ 82,84% năm 2001 xuống còn 70,66% năm 2011.
Bảng 8. CƠ CẤU LAO ĐỘNG TỪ 15 TUỔI TRỞ LÊN THEO KHU VỰC
ĐVT: %
Năm 2001 2006 2009 2010 2011
Thành thị 17,16 24,83 27,92 27,58 29,34
Nông thôn 82,84 75,17 72,08 72,42 70,66
Tổng 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
2.2.3. Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ ở Đồng bằng Sông Cửu Long
2.2.3.1. Khái quát về nguồn lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long
Hiện nay vùng ĐBSCL đang đối diện với thực trạng chất lượng nguồn nhân
lực chưa theo kịp với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng.
Bảng 9. TỶ LỆ LAO ĐỘNG ĐÃ QUA ĐÀO TẠO GIAI ĐOẠN 2008 - 2011
ĐVT: %
Năm 2008 2009 2010 2011
Đồng bằng Sông Cửu Long 7,82 7,91 7,93 8,57
Đông Nam Bộ 22,45 19,59 19,48 20,73
Cả nước 14,31 14,82 14,59 15,41
. (Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
Tỷ lệ lao động được đào tạo chuyên môn kỹ thuật trong cơ cấu nguồn nhân lực
của vùng rất thất, chỉ đạt 7,82% vào năm 2008 và đạt 8,57% vào năm 2011. Con số
này thấp nhất trong 07 vùng kinh tế của VN và thấp hơn nhiều so với bình quân cả
nước (14,31% vào năm 2008 và 15,41% vào năm 2011). Dù đã được cải thiện
nhưng nếu so với vùng Đông Nam Bộ thì tỷ lệ lao động được đào tạo chuyên môn
Dạy nghề 1,82 4,03 3,94 6,67 1,23 2,88
Trung cấp chuyên nghiệp
2,36 3,66 4,25 5,81 1,85 2,81
Cao đẳng 1,01 1,79 1,82 2,92 0,79 1,31
Đại học trở lên 3,38 6,11 8,43 15,42 1,87 2,17
Tổng 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
Về đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở cấp tỉnh, huyện trong vùng, thì 70% có trình độ
ĐH, hai phần ba trong số họ có bằng cử nhân luật, kinh tế chính trị; một phần ba còn
lại là cử nhân chuyên ngành kinh tế và kỹ thuật. Phần lớn cán bộ quản lý được đào
tạo trong cơ chế cũ, nên một bộ phận không nhỏ còn xa lạ và thiếu hiểu biết về kinh
tế thị trường. Kết quả khảo sát thực tế cho thấy, có khoảng 20%-50% cán bộ quản lý
nhà nước trong vùng chưa được đào tạo các kỹ năng làm việc trong điều kiện mới và
năng lực tổ chức, quản lý còn hạn chế. Nhưng đáng nói hơn, chỉ có 12,6% cán bộ
GVHD: Th.S. Phạm Lê Hồng Nhung 24 SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
quản lý tự nhận thấy cần bổ sung thêm kiến thức về quản trị kinh doanh và 31,2 có
nhu cầu kiến thức quản lý hiện đại [1, Tr 58].
Về đội ngũ quản lý trong các doanh nghiệp của vùng, đặc biệt là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn, mặc dù được đánh giá là nhân tố đóng vai trò quan
trọng trong việc thay đổi, cải tiến công nghệ, áp dụng tri thức vào nơi sản xuất, kinh
doanh và quản lý, thế nhưng một tỷ lệ khá lớn trong số họ lại có trình độ học vấn
thấp và đáng lo ngại hơn là hầu hết đều thiếu những kiến thức về quản trị doanh
nghiệp. Theo kết quả điều tra, chỉ có 30% số chủ doanh nghiệp ở nông thôn đã qua
đào tạo kiến thức về quản trị kinh doanh, 25% hiểu biết về luật doanh nghiệp, 44%
hiểu biết về luật thuế, 25% hiểu biết về luật lao động, 8% hiểu biết về luật đầu tư
dẫn đến chất lượng và hiệu quả quản lý doanh nghiệp của các chủ doanh nghiệp ở
nông thôn ĐBSCL rất thấp [1, Tr 59].
Thực trạng trên phản ánh nguồn nhân lực ĐBSCL hiện còn nặng về lao động
giản đơn, ít được đào tạo và mất cân đối trong cơ cấu và không hợp lý trong phân