ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ VÂN ANH
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÓ TRÌNH ĐỘ CAO
TỪ KINH NGHIỆM CỦA SINGAPORE
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ VÂN ANH
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÓ TRÌNH ĐỘ CAO
TỪ KINH NGHIỆM CỦA SINGAPORE
Chuyên ngành : Luật Kinh Tế
Mã số
: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Ngô Đức Mạnh
1.2.1. Quan niệm chung về nguồn nhân lực có trình độ cao...........................16
1.2.2. Phân loại nguồn nhân lực có trình độ cao.............................................21
1.2.3. Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao ở Việt Nam
hiện nay...........................................................................................................23
Chương 2 - THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ NGUỒN NHÂN LỰC CÓ
TRÌNH ĐỘ CAO Ở VIỆT NAM VÀ SINGAPORE HIỆN NAY..................34
2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về nguồn nhân lực có trình độ cao..............34
2.1.1. Hệ thống văn bản pháp luật về nguồn nhân lực có trình độ cao của
Việt Nam.........................................................................................................34
2.1.2. Hạn chế và nguyên nhân tồn tại của hệ thống pháp luật về nguồn nhân
lực có trình độ cao ở Việt Nam.......................................................................47
2.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của Singapore..............................56
2.2.2. Hệ thống văn bản pháp luật về nguồn nhân lực có trình độ cao của
Singapore.........................................................................................................58
2.2.3. Thực trạng về nguồn nhân lực có trình độ cao ở Singapore hiện nay...62
Tiểu kết chương 2............................................................................................65
Chương 3 - PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÓ TRÌNH ĐỘ CAO
THEO KINH NGHIỆM CỦA SINGAPORE..................................................66
3.1. Kinh nghiệm về phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao ở Singapore
hiện nay...........................................................................................................66
3.1.1. Kinh nghiệm về xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực.........66
3.1.2. Kinh nghiệm về giáo dục – đào tạo.......................................................68
3.1.3. Kinh nghiệm về đào tạo chuyên môn, chuyển giao kiến thức nghề
nghiệp, kỹ năng làm việc cho người lao động theo nhu cầu phát triển của các
ngành kinh tế...................................................................................................69
3.1.4. Kinh nghiệm về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức........................71
3.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về phát triển nguồn nhân
nước CHXHCN Việt Nam.
Luật cán bộ, công chức : Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 của của
Luật giáo dục đại học
Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam.
: Luật giáo dục đại học số 08/2012/QH13 của Quốc
hội nước CHXHCN Việt Nam.
Luật khoa học và công : Luật khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 của
nghệ
Nghị định số 141
Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam.
: Nghị định số 141/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013 của
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
Nghị định số 40
một số điều của Luật giáo dục đại học.
: Nghị định số 40/2014/NĐ-CP ngày 12/05/2014 của
Chính phủ quy định việc sử dụng, trọng dụng cá
Nghị định số 87
nhân hoạt động khoa học và công nghệ.
: Nghị định số 87/2014/NĐ-CP ngày 22/09/2014 của
Chính phủ quy định về thu hút cá nhân hoạt động
khoa học và công nghệ là người Việt Nam ở nước
ngoài và chuyên gia nước ngoài tham gia hoạt động
khoa học và công nghệ tại Việt Nam, có hiệu lực thi
hoá đất nước, vững bước đi lên trên con đường xã hội chủ nghĩa. Những
thành tựu đó tạo điều kiện căn bản và đòi hỏi phải phát triển nguồn nhân lực,
nhất là nguồn nhân lực có trình độ cao (hay còn được gọi là nguồn nhân lực
có chất lượng cao) để đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, nguồn nhân lực có trình độ cao
nước ta có sự phát triển nhanh, đóng góp quan trọng vào những thành tựu to
lớn có ý nghĩa lịch sử của đất nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội. Pháp luật đã góp phần đặc biệt quan trọng quyết định trực tiếp đến sự
phát triển nguồn nhân lực ấy của đất nước. Đại hội XI của Đảng đã xác định
đột phá chiến lược: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là ngồn nhân lực
1
chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục
quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng
dụng khoa học, công nghệ” [19, tr.106].
Phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao tùy thuộc vào nhiều yếu tố,
trong đó vai trò của hệ thống pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trên thế
giới hiện nay, so với Việt Nam, mặc dù là một đất nước nhỏ bé, hầu như không
có tài nguyên thiên nhiên nhưng Singapore lại là quốc gia phát triển trong số
những nước hàng đầu thế giới về thu nhập tính theo đầu người và năng lực
cạnh tranh quốc gia; nguồn nhân lực của Singapore được đánh giá là có trình
độ và chất lượng cao so với các nước khác trong khu vực. Do đó, những kinh
nghiệm quý báu của Singapore trong vấn đề phát triển nguồn nhân lực là rất
hữu ích để Việt Nam có thể tham khảo và học hỏi. Vấn đề cấp bách đặt ra đối
với Việt Nam là muốn phát triển đất nước thì phải có một nguồn nhân lực có
chất lượng và trình độ cao, đáp ứng được các yêu cầu phát triển của quốc gia.
Mà muốn có được nguồn nhân lực trình độ cao như vậy thì phải xây dựng một
hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất các văn bản pháp luật cụ thể quy định
“Lược khảo về kinh nghiệm phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài trong lịch
sử Việt Nam”.
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Chủ nghĩa
xã hội khoa học (2010), Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài khoa học
cấp cơ sở năm 2010, “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu
cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức”.
TS. Nguyễn Hữu Dũng (2002), Tạp chí Lý luận chính trị số 8 T8/2002,
“Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế”.
PGS.TS. Đàm Đức Vượng (2008), “Báo cáo khoa học tại Hội thảo
quốc tế Việt Nam học lần thứ ba với chủ đề: Việt nam, Hội nhập và phát triển,
Thực trạng và giải pháp về phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam”,
T12/2008.
3
Tác giả Nguyễn Tiến Dũng, Đỗ Văn Dạo, Tạp chí Lao động và xã hội,
số 329 tháng 2/2008, “Vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở
nước ta hiện nay”.
GS.TS. Hoàng Văn Châu (2009), Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 38/2009,
“Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho hội nhập kinh tế - vấn đề cấp
bách sau khủng hoảng”.
GS.TS. Nguyễn Văn Khánh, TS Hoàng Thu Hương (2010), Tạp chí
nghiên cứu con người số 1/2010, “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở
Việt Nam hiện nay: Thực trạng và triển vọng”.
Thượng tướng, VS.TS. Nguyễn Huy Hiệu (2011), Tạp chí Tổ chức Nhà
nước số 6/2011, “Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đáp
ứng yêu cầu và nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN theo
tinh thần nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI”.
thiện pháp luật Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao.
* Phạm vi nghiên cứu
Với khuôn khổ của Luận văn, luận văn sẽ tập trung đi sâu phân tích các
vấn đề lý luận về pháp luật phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao, thực
trạng pháp luật Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao và kinh
nghiệm phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao của Singapore.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở vận dụng các phương pháp luận
duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm
của Đảng cộng sản Việt Nam. Luận văn cũng sử dụng những phương pháp
nghiên cứu luật học truyền thống như phương pháp phân tích, phương pháp
tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử,
tư duy logic, phương pháp quy nạp, diễn giải … nhằm làm sáng tỏ nội dung
và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
4. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận pháp luật về
nguồn nhân lực có trình độ cao, phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao và
tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao ở Việt Nam
hiện nay.
5
Luận văn phân tích, đánh giá được thực trạng pháp luật Việt Nam về
phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao và kinh nghiệm phát triển nguồn
nhân lực có trình độ cao của Singapore.
Luận văn đề xuất một số phương hướng và giải pháp mang tính lý luận
và thực tiễn theo kinh nghiệm của Singapore nhằm hoàn thiện hệ thống pháp
luật Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao.
5. Kết cấu của luận văn
nhân lực là gì? Hiện nay, trong quá trình nghiên cứu trên thế giới và trong
nước, có nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến khái niệm NNL dưới các
góc độ khác nhau.
Theo Từ điển Tiếng Việt: Nguồn là nơi phát sinh, nơi cung cấp. Nhân
lực là sức của con người bao gồm: sức lực cơ bắp (thể lực), trình độ tri thức
được vận dụng vào quá trình lao đọng của mỗi cá nhân (trí lực), những ham
muốn, hoài bão của bản thân người lao động hướng tới một mục đích xác
định (tâm lực). Nhân lực với ý nghĩa đầy đủ của nó bao gồm ba yếu tố: Thể
7
lực, trí lực và tâm lực. Ba yếu tố đó có quan hệ biện chứng với nhau, trong đó
trí lực giữ vai trò quyết định, nhưng thể lực và tâm lực cũng đóng vai trò quan
trọng như điều kiện cần thiết không thể thiếu đối với sự phát triển của NNL.
Nguồn nhân lực được hiểu là nơi phát sinh, nguồn cung cấp sức của con
người trên đầy đủ các phương diện cho lao động sản xuất và quản lý.
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành
nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế
hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” [27, tr.3].
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: Nguồn nhân lực của một
quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động.
Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực
là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con
người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có
thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao
động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các
nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản
xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động,
là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình
động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần
của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả
năng đem ra sử dụng và quá trình phát triển xã hội.
Từ những quan niệm trên có thể hiểu rằng Nguồn nhân lực là tổng thể
số lượng và chất lượng con người với các tiêu chí về thể lực, trí lực và tâm
lực tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy
động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.
1.1.2. Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực
Sự phát triển nói chung được coi là quá trình vận động theo khuynh
hướng đi lên từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện
9
hơn. Đó là sự biến đổi cả về số lượng và chất lượng của sự vật theo hướng ngày
càng hoàn thiện ở trình độ cao hơn. Quan điểm mácxit về sự phát triển, vận dụng
vào nghiên cứu con người đã nhấn mạnh yếu tố phát triển con người, lấy con
người làm trung tâm. Lịch sử phát triển của nhân loại suy cho cùng là lịch sử
phát triển con người. Phát triển con người vừa là mục tiêu của phát triển kinh tế xã hội, vừa là phương tiện tốt nhất để thúc đẩy sự phát triển.
Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một “tài nguyên đặc
biệt”, một nguồn lực của sự phát triển kinh tế. Bởi vậy việc phát triển con
người, phát triển NNL trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống
phát triển các nguồn lực. Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm
chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia. Đầu tư cho
con người là đầu tư có tinh chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát
triển bền vững. Phát triển con người hay phát triển NNL ở đây chính là sự gia
tăng các giá trị về thể chất, trí tuệ, năng lực của từng cá nhân trong điều kiện
phát triển kinh tế - xã hội. Đó cũng chính là quá trình mở rộng cơ hội lựa
chọn nhằm nâng cao năng lực, trí tuệ và cuộc sống của con người, phù hợp
với nhu cầu lợi ích mà họ mong muốn.
và tinh thần, mở rộng tầm hiểu biết, cập nhật thông tin, mở rộng các mối liên
hệ xã hội, tạo ra điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của NNL. Chất lượng
cuộc sống được cải thiện là khi con người thoải mái và hạnh phúc hơn, họ sẽ
làm việc hăng say và tạo ra năng suất lao động cao hơn, góp phần làm cho xã
hội phát triển hiệu quả và bền vững.
Có quan điểm cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị
cho con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như
kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những
năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và
ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Một số tác giả khác lại quan niệm: Phát triển là quá trình nâng cao năng
lực của con người về mọi mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử
11
dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lực thông qua hệ thống
phân công lao động và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế- xã hội.
Phát triển NNL được coi “là quá trình biến đổi về số lượng, chất lượng
và cơ cấu NNL để ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội” [16, tr.20]. Quá trình này bao gồm sự phát triển về thể lực, trí lực, khả
năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề, tính năng động xã hội và sức
sáng tạo của con người. Trong đó, nền văn hóa, truyền thống lịch sử dân tộc
góp phần quan trọng trong việc hun đúc nên bản lĩnh, ý chí của mỗi người.
Như vậy, phát triển NNL là quá trình nhằm hoàn thiện và nâng cao chất
lượng từng con người lao động (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý- xã hội)
đáp ứng đòi hỏi về NNL cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
Các phương diện thể hiện phát triển NNL bao gồm: Phát triển về số
lượng và chất lượng.
Về số lượng được thể hiện ở quy mô dân số, cơ cấu về giới và độ tuổi.
hình thành NNL và quan hệ giữa tốc độ tăng dân số và tốc độ tăng nguồn lao
động là quan hệ thuận. Mối quan hệ đó được biểu hiện sau một thời gian nhất
định, tùy thuộc vào quy định độ tuổi lao động của mỗi quốc gia. Tăng, giảm
dân số cơ học là kết quả của sự di chuyển, xuất nhập cư của dân số từ một
vùng, địa phương đến một vùng, địa phương khác, hoặc từ khu vực này đến
khu vực khác làm giảm dân số đầu đi và tăng dân số nơi tiếp nhận. Quá trình
di chuyển, nhập cư dân số bao gồm cả nhập cư lao động, đo đó dẫn đến giảm
quy mô NNL đầu đi và tăng quy mô NNL của đầu đến.
- Mức độ phát triển của giáo dục, đào tạo:
Giáo dục, đào tạo tác động đến số năm đi học của người lao động. Khi
hệ thống giáo dục, đào tạo phát triển ở mức độ cao thì tỷ lệ dân cư tham gia
vào học tập tăng lên, số năm đi học của mỗi người tăng lên. Đồng thời, các
chính sách của Chính phủ hướng vào kích thích xã hội, hỗ trợ phát triển hệ
thống giáo dục, đào tạo thì sẽ có nhiều người đi học hơn, NNL tương lai sẽ có
chất lượng cao hơn, song trước mắt tốc độ phát triển quy mô NNL sẽ chậm lại
vì số lượng người đi học đông. Giáo dục nâng cao trình độ học vấn, chuyên
môn, kỹ thuật và cũng sẽ làm thay đổi nhận thức về sinh đẻ, về số con người
13
và thời điểm sinh con của các cặp vợ chồng, cuối cùng sẽ tác động đến quy
mô NNL tương lai của quốc gia.
- Môi trường xã hội:
Các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến quy mô NNL bao gồm: An ninh, trật
tự an toàn xã hội; bình đẳng xã hội; an toàn giao thông; an toàn vệ sinh thực
phẩm; môi trường sống… Đây là những yếu tố tác động đến tình trạng tham
gia lao động của NNL, là một trong những nguồn gốc quan trọng để đảm bảo
NNL có sự phát triển ổn định và bền vững, đáp ứng nhu cầu sức lao động của
nền kinh tế.
thực phẩm và các chất dinh dưỡng khác mà cơ thể cần hấp thụ để duy trì sức
khỏe. Thiếu dinh dưỡng dẫn đến thể lực ốm yếu, khả năng miễn dịch kém… làm
cho năng suất lao động thấp và như thế thu nhập thấp, nguy cơ dẫn đến đói nghèo.
Sự phát triển, tính hiệu quả của hệ thống y tế và khả năng tiếp cận của dân
cư với hệ thống này có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của các thế hệ nguồn
lao động. Thông qua chăm sóc sức khỏe sinh sản, chăm sóc sức khỏe trẻ em, tư
vấn về dinh dưỡng… tạo ra khả năng đảm bảo cho thế hệ lao động tương lai có
thể lực, trí lực tốt. Cơ chế, chính sách y tế phù hợp sẽ tạo cơ hội cho các tầng lớp
dân cư, người lao động đều có khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế, kể cả các
dịch vụ tư vấn chăm sóc về dinh dưỡng và phòng bệnh thường xuyên và do đó
sẽ có tác động đến chất lượng NNL ở phạm vi rộng lớn.
- Trình độ phát triền giáo dục đào tạo:
Mức độ phát triển của giáo dục, đào tạo là một trong những yếu tố quan
trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng NNL, bởi nó không chỉ quyết định trình
độ văn hóa, chuyên môn – kỹ thuật của người lao động mà còn tác động đến
sức khỏe, tuổi thọ của người dân, thông qua các yếu tố thu nhập, nhận thức và
xử lý thông tin kinh tế - xã hội, thông tin khoa học… Các tác động chính của
phát triển giáo dục, đào tạo đối với chất lượng NNL bao gồm:
+ Mức độ phát triển của giáo dục và đào tạo càng cao thì quy mô NNL
chuyên môn – kỹ thuật càng mở rộng.
+ Mức độ phát triển của giáo dục và đào tạo càng cao thì càng có khả
năng nâng cao chất lượng theo chiều sâu của NNL.
+ Đầu tư cho giáo dục, đào tạo đúng hướng, hiệu quả sẽ đem lại những
lợi ích to lớn, lâu dài cho cá nhân và xã hội. Trong đó người lao động là
những đối tượng trực tiếp được thụ hưởng.
- Các chính sách của nhà nước:
15
Ở Việt Nam cho đến nay, thuật ngữ NNL có trình độ cao (hay còn gọi
là NNL chất lượng cao) chưa thấy xuất hiện trong từ điển Bách Khoa Việt
Nam cũng như các từ điển tiếng Việt hay từ điển kinh tế khác, mặc dù trong
thực tiễn phát triển kinh tế của đất nước, nó được dùng khá phổ biến. Kể từ
khi nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì thuật ngữ này
được đề cập khá nhiều và chính thức được nhắc đến trong Văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam để khẳng định sự
hiện diện của một bộ phận nhân lực đầu tàu trong quá trình phát triển đất
nước: “Thông qua việc đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam”[17, tr.34].
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng ta lại khẳng định: “Phát triển,
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là
một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước”
[19, tr.41]. Từ quan điểm trên cho thấy nhận thức của Đảng ta về NNL có
trình độ cao ngày càng đầy đủ và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại,
coi NNL có trình độ cao chính là khâu đột phá để đưa Việt Nam sớm thoát
khỏi tình trạng nước kém phát triển và vươn lên trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Cùng với quan điểm của các nhà kinh điển và Đảng Cộng sản Việt Nam,
khái niệm NNL chất lượng cao hay NNL có trình độ cao được bàn luận khá sôi
nổi, song cho đến nay vẫn chưa có được một khái niệm thống nhất. Mỗi tác giả,
tùy theo góc độ tiếp cận của mình đưa ra các quan niệm khác nhau.
Theo GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn cho rằng: “Nguồn nhân lực chất
lượng cao – một nguồn nhân lực mới, là một lực lượng lao động có học vẫn,
có trình độ chuyên môn cao và nhất là có khả năng thích ứng nhanh với
những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất” [12, tr.185].
GS.VS. Phạm Minh Hạc cho rằng:
18