Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trị giá tính thuế nhập khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT ĐỖ VĂN NHẬT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ NHẬP KHẨU TRONG ĐIỀU KIỆN
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT QUỐC TẾ
MÃ SỐ: 50512

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


2.1. Các quy định của Pháp luật Việt nam về trị giá tính thuế nhập khẩu 36
2.1.1 Trị giá tính thuế nhập khẩu theo quốc gia 37
2.1.2 Trị giá tính thuế nhập khẩu theo nguyên tắc của hiệp định thực hiện điều 7
hiệp định chung về thuế quan và thƣơng mại (trị giá tính thuế theo GATT)
45
2.2 Những hạn chế của pháp luật về trị giá tính thuế nhập khẩu trong điều kiện
hội nhập kinh tế quốc tế. 53
Kết luận chương 2 64

Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ NHẬP KHẨU
TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM 65
3.1 Yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế đối với pháp luật về trị giá tính thuế
nhập khẩu 65
3.2 Căn cứ cho việc hoàn thiện pháp luật trị giá tính thuế nhập khẩu 69
3.2.1 Chính sách hội nhập kinh tế quốc tế 69
3.2.2. Một vài đặc điểm cơ bản của nền kinh tế thị trƣờng ở Việt nam trong điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế liên quan đến vấn đề hoàn thiện pháp luật về trị giá
tính thuế nhập khẩu 71
3.2.3 Lộ trình thực hiện các cam kết trong quá trình thực hiện hội nhập kinh tế
quốc tế 72
3.3. Phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật trị giá tính thuế nhập khẩu trong điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế 74
3.3.1. Bảo đảm sự phù hợp của pháp luật trị giá tính thuế nhập khẩu với hiệp
định trị giá GATT 1994 74
3.3.2. Tăng cƣờng tính thống nhất và minh bạch của pháp luật về trị giá tính thuế
nhập khẩu 77
3.3.3 Kết hợp hoàn thiện pháp luật trị giá tính thuế nhập khẩu với việc thực
hiện các chức năng của hệ thống thuế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
79
3.4 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trị giá tính thuế nhập khẩu 80

khác nhau, trong đó quan trọng nhất là trình độ phát triển kinh tế và thể chế
chính trị, nhiều quốc gia vẫn chần chừ trong việc áp dụng Hiệp định.
Xác định trị giá tính thuế nhập khẩu luôn trở thành một chủ đề đƣợc quan
tâm hàng đầu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Bởi vì, một mặt, nó góp
phần giúp các cơ quan nhà nƣớc có các phƣơng pháp khắc phục các hiện tƣợng
gian lận thƣơng mại qua giá, đảm bảo thu đúng, thu đủ tiền thuế cho ngân sách
nhà nƣớc; mặt khác, nó là công cụ để bảo vệ các nhà kinh doanh trung thực bằng
việc yêu cầu cơ quan hải quan phải chấp nhận trị giá tính thuế là giá ngƣời nhập
khẩu thực sự phải thanh toán trong giao dịch, khuyến khích phát triển sản xuất
nội địa cũng nhƣ duy trì và phát triển quan hệ thƣơng mại, ngoại giao quốc tế.
Ngay từ những năm 40 của thế kỷ trƣớc việc xây dựng một cơ chế xác định trị

2
giá hải quan minh bạch, hợp lý, có thể áp dụng trên phạm vi toàn thế giới đã
đƣợc đặt ra nhƣ một yêu cầu tất yếu và đƣợc cộng đồng quốc tế nhiệt liệt ủng hộ.
Tuy nhiên, thiết lập một cơ chế pháp lý xác định giá tính thuế nhập khẩu trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt nam hiện nay là một vấn đề tƣơng đối
phức tạp nhƣng thực sự cần thiết, thể hiện trên một số khía cạnh sau:
Về mặt thực tiễn, giao lƣu quốc tế về thƣơng mại và dân sự diễn ra theo
nhiều hình thức, phƣơng cách đa dạng. Chính sự đa dạng này làm nảy sinh nhiều
vấn đề phức tạp, không thống nhất trong việc xác định trị giá hải quan.Thứ nhất,
nhiều nhà nhập khẩu đã lợi dụng triệt để những hạn chế của pháp luật về xác
định giá tính thuế nhập khẩu hiện nay để gian lận thƣơng mại qua giá, gây thất
thu thuế cho ngân sách Nhà nƣớc. Thứ hai, quy trình, phƣơng pháp xác định trị
giá tính thuế nhập khẩu hiện nay đã bộc lộ nhiều yếu kém, không đáp ứng đƣợc
những đòi hỏi của tình hình mới, về lâu dài có thể gây cản trở cho quá trình giao
lƣu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam.
Về mặt pháp lý, pháp luật điều chỉnh việc xác định giá tính thuế nhập
khẩu là một cơ chế pháp lý khá phức tạp, chia cắt nhỏ lẻ. Bởi vì, trị giá tính thuế
nhập khẩu đƣợc xây dựng trên cơ sở của nhiều bộ phận pháp luật khác nhau nhƣ

và các yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đối với cơ chế xác định giá
tính thuế nhập khẩu
- Làm rõ thực trạng pháp luật hiện hành đối với việc vận hành cơ chế xác
định giá tính thuế nhập khẩu, tính tƣơng thích của pháp luật trong nƣớc về trị giá
tính thuế nhập khẩu với chuẩn mực quốc tế
- Đề xuất các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về trị giá tính thuế nhập
khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
*Đối tƣợng nghiên cứu:

4
- Các văn bản pháp luật liên quan đến cơ chế xác định giá tính thuế nhập
khẩu; các văn bản của các cơ quan chức năng liên quan đến xác định giá tính
thuế nhập khẩu;
- Các số liệu, thông tin thực tiễn về thực hiện pháp luật xác định giá tính
thuế nhập khẩu.
*Phạm vi nghiên cứu:
Dƣới góc độ nghiên cứu luật học, luận văn không nghiên cứu toàn bộ
những vấn đề liên quan đến trị giá hải quan mà giới hạn nghiên cứu đƣợc xác
định trên cơ sở làm rõ lý luận pháp luật điều chỉnh việc xác định trị giá tính thuế
nhập khẩu, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành trên sơ sở đó xây dựng các
giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác định trị giá tính thuế nhập khẩu ở Việt nam
phù hợp với chuẩn mực quốc tế phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ
nghĩa Mác-Lênin và phƣơng pháp phân tích tổng hợp, so sánh, thống kê v.v…
6. Những đóng góp mới của đề tài
- Về lý luận: Củng cố cơ sở lý luận toàn diện về giá tính thuế hàng nhập
khẩu, tạo ra những cơ sở pháp lý của việc xác định trị giá tính thuế nhập khẩu
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

trong nƣớc (thƣờng áp dụng ở những nƣớc kém phát triển ở châu Á, theo phƣơng
pháp này trị giá tính thuế nhập khẩu dựa trên giá bán buôn của hàng hoá nhập
khẩu khi bán ở nƣớc nhập khẩu trừ đi 15%); phƣơng pháp giá thị trƣờng trong
nƣớc hiện hành (đây là một phƣơng pháp do nƣớc Anh đƣa ra vào đầu thế kỷ 19
và đƣợc coi là một phƣơng pháp để bảo hộ hàng hoá đƣợc sản xuất tại Anh và
bán tại các nƣớc thuộc địa. Trị giá tính thuế dựa trên giá bán buôn tại thị trƣờng
nƣớc xuất khẩu; phƣơng pháp giá thị trƣờng hợp lý (phƣơng pháp này tƣơng tự

6
nhƣ phƣơng pháp giá thị trƣờng trong nƣớc hiện hành nhƣng đƣợc coi là có tính
linh hoạt hơn trong việc xác định giá nào đƣợc coi là giá thị trƣờng hợp lý);
phƣơng pháp giá tối thiểu (đây thực sự là phƣơng pháp mang tính áp đặt, theo
phƣơng pháp này cơ quan hải quan đƣa ra giá tối thiểu cho tất cả các mặt hàng
hoá nhập khẩu mà nó không phản ánh giá thực tế của hàng hoá-phƣơng pháp này
thƣờng đƣợc áp dụng ở các nƣớc kém phát triển) … Các phƣơng pháp này đã tạo
ra những mâu thuẫn nghiêm trọng trong quan hệ buôn bán quốc tế. Dần dần,
thông qua các cuộc đàm phán, giữa các quốc gia đã đạt đƣợc những kết quả đáng
khích lệ, đặc biệt là đƣa ra những thoả thuận chung về mặt thuế suất hợp lý.
Thực tế cũng cho thấy rằng, để những Hiệp định về thuế quan đƣợc thực hiện có
hiệu quả thì phải thay đổi các tiêu chuẩn xác định trị giá. Bởi vì nếu duy trì hệ
thống xác định trị giá hiện hành thì từng quốc gia có thể đƣa ra những phƣơng
pháp xác định trị giá riêng, làm mất đi tính hiệu quả của các mức thuế suất đã
thoả thuận. Hơn nữa, các thƣơng nhân, ngoài mặt thuế suất, còn muốn biết đƣợc
trị giá lô hàng cần trao đổi là bao nhiêu để có thể chủ động hơn trong kinh
doanh.
Do vậy, đầu thế kỷ 20, một trong những lĩnh vực đƣợc nhiều nƣớc quan
tâm, nghiên cứu là sự thay đổi hệ thống xác định trị giá tùy tiện ở các quốc gia
bằng một hệ thống xác định trị giá quốc tế có hiệu quả, nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho thƣơng mại quốc tế.
Sau nhiều cố gắng, dƣới sự bảo trợ của một số quốc gia, lần đầu tiên

thành một Liên minh Hải quan Châu âu.
Đặc biệt nhóm nghiên cứu này đã đƣa ra một định nghĩa về trị giá Hải
quan đƣợc áp dụng ở tầm cỡ quốc tế, đó là định nghĩa Brussels (viết tắt là BDV).
Định nghĩa này đƣợc nêu lên trong Công ƣớc về xác định trị giá Hải quan ký tại
Brussels ngày 15.12.1950 và có hiệu lực từ ngày 28.7.1953.

8
Định nghĩa này chủ yếu dựa vào hệ thống xác định trị giá đã đƣợc áp
dụng thành công ở các nƣớc thành viên qua vài năm, đồng thời tính đến những
nguyên tắc xác định trị giá Hải quan thời kỳ đó mới đƣợc đƣa vào Hiệp định
GATT.
Nội dung của Định nghĩa đã đƣa ra một khái niệm lý thuyết về trị giá Hải
quan, trong đó đề cập đến các yếu tố về giá cả, thời gian, địa điểm, số lƣợng và
cấp độ thƣơng mại. Đặc biệt sau khi xuất bản tập chú giải năm 1960 thì Định
nghĩa này nhận đƣợc sự ủng hộ từ khắp nơi trên thế giới, số lƣợng các nƣớc ký
kết Hiệp định lên tới 33 nƣớc và khoảng 70 nƣớc khác công nhận áp dụng Hiệp
định vào những năm đầu của thập kỷ 70.
c. Giai đoạn thứ 3: Geneve 1973 - 1979 và tới nay
Một thời kỳ mới trong lịch sử về xác định trị giá Hải quan đƣợc bắt đầu
vào những năm 1973 - 1979 thông qua các cuộc đàm phán thƣơng mại đa
phƣơng diễn ra tại Geneve, trung tâm của GATT, sau khi vòng đàm phán Tokyo
đƣa ra những chính sách thƣơng mại quốc tế lớn nhất trong thời đại chúng ta,
nhằm mục đích tự do hoá mậu dịch ngày càng lớn giữa các nƣớc khác nhau, loại
bỏ những trở ngại trong buôn bán quốc tế.
Một trong những biện pháp nhằm đạt đƣợc mục đích này là việc đƣa ra
đƣợc một hệ thống quốc tế về xác định trị giá Hải quan để áp dụng thống nhất
trên toàn thế giới. Đó là việc thông qua Hiệp định liên quan đến việc thực hiện
Điều 7 của GATT. Hiệp định đƣợc thông qua vào năm 1979 và có hiệu lực từ
01.01.1981, gọi tắt là Hiệp định giá Hải quan GATT. Hiệp định này quy định
một hệ thống các phƣơng pháp xác định trị giá Hải quan trên cơ sở trị giá giao

Các thuật ngữ trị giá tính thuế, giá tính thuế, trị giá hải quan, cơ bản là
đồng nghĩa. Mặc dù trong nhiều trƣờng hợp, việc sử dụng chúng thay thế cho
nhau không hẳn đã hoàn toàn chính xác nhƣng nhìn chung cũng không gây ra
những nhầm lẫn lớn. Lai lịch của những thuật ngữ này ở Việt nam đƣợc tóm tắt
là: 1- Giá tính thuế, đƣợc ghi nhận lần đầu trong Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu

10
1997, là một thuật ngữ có ý nghĩa pháp lý sử dụng để phản ánh mọi loại giá của
hàng hoá nhập khẩu, xuất khẩu đƣợc xác định theo các phƣơng pháp định giá mà
pháp luật quy định, không tính tới sự khác biệt về tính chất giữa các phƣơng
pháp; 2- Trị giá hải quan đƣợc du nhập vào Việt nam cùng quá trình tham gia
vào hội nhập kinh tế quốc tế khoảng nửa đầu những năm 1990 để chỉ phƣơng
pháp xác định trị giá hàng hoá xuất, nhập khẩu theo điều 7 của hiệp định chung
về thuế quan và thƣơng mại; 3- Trị giá tính thuế lần đầu tiên xuất hiện trong nghị
định 60/2002/NĐ-CP ngày 06/06/2002 quy định về việc xác định trị giá tính thuế
theo nguyên tắc của GATT, cho nên trị giá tính thuế và trị giá hải quan có nhiều
nét gần nhau. Nhƣng tóm lại việc xác trị giá tính thuế hay trị giá hải quan nhằm
mục đích tính thuế và thống kê đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Trị giá của hàng hoá nhập khẩu chƣa bao giờ là câu chuyện riêng của ngƣời
nhập khẩu. Sự tồn tại của chủ quyền quốc gia trong hoạt động kinh tế đối ngoại
thông qua thuế quan đã làm cho vấn đề có thêm những sắc thái chính trị pháp lý,
xã hội bên cạnh ý nghĩa kinh tế tự thân. Hệ thống thuế quan sử dụng trị giá tính
thuế nhập khẩu nhƣ một công cụ pháp lý tác động trực tiếp vào các quan hệ giá
cả của hàng hoá nhập khẩu phù hợp với mục đích của bản than hệ thống thuế
quan nhƣ thu ngân sách và/hoặc bảo vệ sản xuất. Khi mức độ thuế suất đƣợc cắt
giảm theo các cam kết của hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống thuế quan phải đặt
trọng tâm điều chỉnh vào việc xác định trị giá tính thuế nhập khẩu. Việc quy định
trị giá tính thuế nhập khẩu có ý nghĩa rất quan trọng, bởi lẽ, nó không chỉ có
quan hệ trực tiếp với nguồn thu ngân sách, bảo vệ sản xuất nội địa mà còn ảnh
hƣởng trực tiếp tới mối quan hệ thƣơng mại, ngoại giao giữa các nƣớc [19,17] .

vì trong đa số các trƣờng hợp, nhập khẩu chỉ là khâu đầu tiên của một quá trình
kinh doanh nên khi các hoạt động kinh doanh sản xuất đƣợc tiến hành trong nội
địa cho chúng ta cơ hội đƣợc tìm kiếm những bằng chứng xác thực về giá trị thật
sự của hàng hoá nhập khẩu. Thông thƣờng khi nhập khẩu, ngƣời nhập khẩu có
xu hƣớng khai không đúng số lƣợng, chất lƣợng, trị giá hàng hoá để giảm thiểu

12
thuế nhập khẩu. Nhƣng đến khi bán hàng, khi hạch toán kinh doanh, chủ hàng
buộc phải tính đúng các chi phí đầu vào để giảm số thuế phải nộp trong nội địa.
2. Trị giá tính thuế nhập khẩu chỉ liên quan và phụ thuộc vào hàng hoá
nhập khẩu.
Bởi vậy, khi làm rõ khái niệm trị giá tính thuế nhập khẩu đặt ra việc xem
xét nội dung của vấn đề hàng hoá nhập khẩu.
Thứ nhất, đặc tính nhập khẩu của hàng hoá. Hàng hoá đƣợc coi là nhập
khẩu nếu nó đƣợc đƣa từ một quốc gia khác đến quốc gia tiếp nhận hàng hoá
(trong trƣờng hợp hàng hoá từ khu chế xuất vào tiêu thụ trong nƣớc cũng đƣợc
coi là nhập khẩu). Xác định chính xác không gian và thời gian của hành vi nhập
khẩu có ý nghĩa thực tế cho việc xác định trị giá nhập khẩu. Không gian và thời
điểm nhập khẩu tác động tới việc tính toán chi phí phát sinh của hàng hoá nhƣ
phí vận chuyển, kho bãi, bảo hiểm, tỷ giá. Thực tiễn pháp lý quốc tế cho thấy, có
sự không thống nhất về cách hiểu hành vi nhập khẩu. Chẳng hạn, theo luật hải
quan 1995 của Cộng hoà Indonexia thì nhập khẩu là các hoạt động đƣa hàng hoá
vào lãnh thổ hải quan, trong đó lãnh thổ hải quan đƣợc hiểu là vùng đất, vùng
trời, vùng nƣớc, các địa điểm đặc biệt trong các vùng đặc quyền kinh tế và thềm
lục địa. Trong khi đó ở Philippin điều 102 của Bộ luật hải quan xác định công
việc nhập khẩu bắt đầu khi tầu thuyền, máy bay, vận tải hàng hoá bắt đầu vào
khu vực thẩm quyền để dỡ hàng xuống đó [17].
Ở Việt nam, Luật hải quan 2001 - đạo luật điều chỉnh trực tiếp các quan hệ
xuất khẩu, nhập khẩu – không đƣa ra một định nghĩa chính thức về hành vi nhập
khẩu. Vì vậy, có những biểu hiện không logic trong việc xác định trị giá nhập

Cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền thu thuế thƣờng có xu hƣớng xác định thuế
nhập khẩu theo trị giá chủ quan này vì nó tạo ra một căn cứ tính thuế loại bỏ
đƣợc những giả định về mối liên hệ bên trong giữa ngƣời xuất khẩu và ngƣời
nhập khẩu cũng nhƣ tác động bên ngoài (phạm vi, thời điểm bán hàng hoặc thủ
đoạn kinh doanh) làm biến dạng giá trị thực tế của hàng hoá. Về mặt khách quan,
trị giá của hàng hoá nhập khẩu phản ánh một mức giá giao dịch cụ thể giữa
ngƣời nhập khẩu và ngƣời xuất khẩu. Về nguyên tắc, ngƣời nhập khẩu có xu

14
hƣớng sử dụng trị giá khách quan vì nó phản ánh trực tiếp chi phí mà họ đã bỏ ra
để có hàng hoá. Thực chất tính hai mặt khách quan-chủ quan của giá trị hàng hoá
nhập khẩu là mối quan hệ giữa giá thị trƣờng với giá trị cá biệt, giữa lao động xã
hội với lao động tƣ nhân, giữa lao động trừu tƣợng với lao động cụ thể.
Thứ hai, trị giá thuế nhập khẩu là kết quả của quá trình định giá hàng hoá
nhập khẩu. Định giá là một thủ tục do các bên liên quan (hải quan, ngƣời nhập
khẩu) áp dụng nhằm xác định trị giá của hàng nhập khẩu. Nhƣ là hệ quả của tính
hai mặt nêu trong trị giá hàng nhập khẩu. Chẳng hạn nhƣ định giá hàng nhập
khẩu theo giá hàng sẽ đƣợc tiêu thụ trong nội địa hoặc theo giá phản ánh trong
quan hệ thanh toán giữa ngƣời xuất khẩu và ngƣời nhập khẩu. Việc lựa chọn
phƣơng pháp định giá tuỳ thuộc vào mục đích quản lý xuất nhập khẩu của từng
quốc gia. Tuy nhiên, xu hƣớng hội tụ các phƣơng pháp xác định giá giữa các
quốc gia ngày càng đƣợc khẳng định rõ nét thông qua quá trình tự do hoá thƣơng
mại toàn cầu. Mặt khác, việc định giá cũng xác lập trình tự thủ tục, các quyền và
nghĩa vụ của các cơ quan thuế và ngƣời nhập khẩu. Các trình tự và thủ tục định
giá xét về tính chất là các quan hệ hành chính. Mặc dù chỉ là những quan hệ hình
thức nhƣng chính những thủ tục này khai đƣợc quy định hợp lý sẽ là cơ sở để
xác định đúng đắn giá nhập khẩu, bảo đảm đƣợc quan hệ bình đẳng và dân chủ
giữa ngƣời nhập khẩu và cơ quan hải quan.
Thứ ba, khi phân tích nội dung trị giá tính thuế hàng nhập khẩu cần phân
biệt với khái niệm giá trị và giá cả. Có thể phân biệt ba khái niệm này qua mô tả

khách quan, khoa học được đối tượng nộp thuế và cơ quan nhà nước có thẩm
quyền thu thuế xác định và chấp nhận

1.2.2 Khái niệm pháp luật trị giá tính thuế nhập khẩu
Trị giá tính thuế nhập khẩu là một quan hệ xã hội tƣơng đối phức tạp và đặc
thù. Quan hệ này chịu sự tác động trực tiếp của các yếu tố kinh tế đa dạng không
chỉ các yếu tố kinh tế vi mô nhƣ giá cả trong những giao dịch cụ thể mà còn cả
các yếu tố kinh tế vĩ mô nhƣ tỷ giá hối đoái, mức độ điều tiết của thuế quan. Các

16
yếu tố này đã làm cho mối quan hệ lợi ích giữa các chủ thể trong mối quan hệ
càng trở nên phức tạp. Mục đích của quan hệ buôn bán ngoại thƣơng là xuất và
nhập khẩu hàng hoá. Mục đích của thuế quan là giữ một số quyền trong việc
quản lý xuất nhập khẩu để làm lợi cho nhà nƣớc. Vậy thì nhà nƣớc phải trung lập
giữa thƣơng mại và thuế quan, khiến cho hai phía này không chồng chéo nhau.
Có nhƣ vậy mới hƣớng đƣợc cái lợi của tự do thƣơng mại. Bên cạnh đó, cũng
cần thấy rằng, sự hình thành và thực hiện các quan hệ xã hội về trị giá tính thuế
nhập khẩu không chỉ vì mục đích tự thân của chúng. Trên thực tế, việc xác lập
quan hệ về trị giá tính thuế nhập khẩu là nhằm thực hiện các quan hệ xã hội về
thu thuế nhập khẩu hoặc để quản lý nhà nƣớc về hải quan. Nhƣ vậy, quan hệ xã
hội về giá tính thuế nhập khẩu không chỉ vận động bởi các nhân tố kinh tế bên
trong mà nó còn vận động trong mối liên hệ với các yếu tố bên ngoài nhƣ thủ tục
hải quan. Từ khía cạnh này, có quan điểm nhìn nhận trị giá tính thuế nhập khẩu
chỉ là một bộ phận của quan hệ xã hội về thuế quan. Thực ra điều này không
hoàn toàn chính xác. Bởi vì trong quan hệ thuế nhập khẩu đƣợc sử dụng làm căn
cứ tính thuế chỉ là kết quả đã đƣợc lƣợng hoá từ một quá trình trong đó diễn ra
việc phân tích, xác định các yếu tố tạo nên trị giá nhập khẩu phù hợp với yêu cầu
của nhà nƣớc. Nội dung cơ bản của quá trình này là thực hiện phƣơng pháp thích
hợp nhất có thể có để xác định trị giá tính thuế nhập khẩu. Sự tồn tại của nhiều
hệ thống phƣơng pháp xác định trị giá tính thuế nhập khẩu, tự thân nó đòi hỏi

để đảm bảo hạn chế gian lận trị giá tính thuế nhập khẩu thì mọi quy định về xác
định trị tính thuế nhập khẩu đều đƣợc xây dựng ở cấp độ văn bản luật và với
mức độ chi tiết cao. Theo đó, doanh nghiệp hoàn toàn có khả năng áp dụng trực
tiếp các quy định vào hoạt động thực tế. Trong trƣờng hợp có vƣớng mắc, khó
khăn khi xác định trị giá tính thuế nhập khẩu, doanh nghiệp sẽ liên hệ trực tiếp
với cơ quan hải quan để nhận đƣợc hƣớng dẫn cụ thể, đồng thời các quyết định
của cơ quan hải quan phải đƣợc công bố bằng văn bản tới nhà nhập khẩu. Khi có
tranh chấp thì toà án quốc gia sẽ là cấp giải quyết cuối cùng. Để chống gian lận
thƣơng mại qua giá luật pháp New Zealand đã trao quyền rất rộng cho lực lƣợng
kiểm tra sau thông quan. Theo đó phạm vi kiểm tra sau thông quan mà hải quan

18
tiến hành là toàn bộ hoạt động của nhà nhập khẩu. Đồng thời Luật pháp cũng đặt
ra các cơ sở pháp lý hỗ trợ cho kiểm tra sau thông quan nhƣ hoá đơn của hàng
hoá nhập khẩu phải đƣợc lƣu giữ trong thời gian tối thiểu là 10 năm. Những
chứng từ giải trình dù dƣới dạng giấy, băng đĩa từ hay điện tử khi đƣợc xuất
trình cho cơ quan hải quan phải đƣợc nhà nhập khẩu lƣu trữ cẩn thận [21]. Nói
rộng ra, tuy công cụ pháp luật không đƣa lại hiệu quả tức thời nhƣ các biện pháp
tổ chức, kỹ thuật nghiệp vụ, song ngƣợc lại, nó tạo dựng nền tảng vững chắc,
thống nhất và ổn định cho việc mô hình hóa hành vi xử sự của các bên trong quá
trình xác định trị giá tính thuế. Mô hình pháp lý này phản ánh những phƣơng
thức mà các bên có thể tiến hành để xác định trị giá tính thuế.
Những dẫn giải trên đây cho thấy nội dung cơ bản của quan hệ xã hội về trị
giá tính thuế nhập khẩu là mối quan hệ giữa cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền
với ngƣời nhập khẩu trong việc áp dụng phƣơng pháp xác định trị giá tính thuế
nhập khẩu và nhu cầu tất yếu của việc điều chỉnh bằng pháp luật quan hệ đặc thù
này. Từ đó ta có thể đƣa ra một khái niệm pháp luật về trị giá tính thuế nhập
khẩu nhƣ sau:
Pháp luật trị giá tính thuế nhập khẩu là một bộ phận pháp luật điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và

1.3.1.2. Điều kiện thị trường
Điều 2 nêu lên các chỉ dẫn, giải thích về các vấn đề đối với “việc mua bán
hàng hoá đƣợc thực hiện trong điều kiện cạnh tranh gay gắt và giữa ngƣời mua
với ngƣời bán độc lập với nhau”. Điều này đề cập đến việc mua bán thực hiện
trên thị trƣờng một cách tự do nâng giá, tức là vấn đề giá hàng hoá không bị ảnh
hƣởng đến các điều kiện, các mối liên hệ giữa ngƣời bán và ngƣời mua. Nhƣ vậy
các vấn đề Định nghĩa nêu lên hoàn toàn mang tính chất lý thuyết.
1.3.1.3. Các chi phí
Điều 3 chỉ rõ rằng trị giá Hải quan đối với trƣờng hợp có các chi phí về
bằng phát minh sáng chế, thiết kế mẫu mã và mác, nhãn sản xuất hoặc nhãn hiệu

20
thƣơng mại nƣớc ngoài của hàng hoá thì các chi phí đó cũng đƣợc cộng vào giá
trị thông thƣờng của hàng hoá. Điều này khẳng định trên cơ sở nguyên tắc của
Điều 1 nêu trên. Phần liệt kê các khoản thuế để phân tích, xem xét, đánh giá
không đƣợc triệt để. Nhƣng do Định nghĩa Brussels có thêm phần chú giải, giải
thích nhằm đảm bảo thống nhất áp dụng, nên rõ ràng hơn và thuận tiện hơn cho
việc thực hiện có hiệu quả hơn.
Nhƣ vậy, Định nghĩa Brussels dựa trên cơ sở khái niệm về trị giá lý
thuyết, bao gồm một tiêu chuẩn đánh giá duy nhất là giá thông thƣờng của hàng
hoá. Giá thông thƣờng này có thể nhận thấy đƣợc ngay cả khi không có giao
dịch bán hàng thực tế.
Với vai trò là một điều ƣớc quốc tế đa phƣơng đầu tiên đề cập một cách
chi tiết đến việc xác định trị giá Hải quan, Định nghĩa Brussels cũng đã đạt đƣợc
một số thành công đáng kể, đó là các quy định trong Định nghĩa cũng đã đi gần
với thực tiễn thƣơng mại, các yếu tố nhƣ số lƣợng hàng hoá, các chi phí có liên
quan cũng đƣợc xem xét khi xác định trị giá Hải quan, nhƣng do tồn tại các
khái niệm mơ hồ nên trong quá trình áp dụng các nƣớc đã đƣa ra các cách xác
định riêng làm mất đi tính thống nhất và xuất hiện việc can thiệp quá mức cần
thiết của các cơ quan quản lý vào quá trình xác định trị giá tính thuế. Thực tế cho

- Nếu trị giá thực không đƣợc xác định theo nguyên tắc trên thì trị giá theo
mục đích Hải quan sẽ đƣợc tính trên cơ sở trị giá tƣơng đƣơng gần nhất.
Ngoài ra, tại các phần chú giải của điều 7 đã giải thích thêm về “trị giá
thực” đƣợc hiểu là trị giá ghi trong hoá đơn thƣơng mại cộng thêm các khoản chi
phí hợp lý, hợp pháp chƣa đƣợc tính vào trị giá, những khoản chi phí này là các
bộ phận cấu thành của trị giá thực.
Theo quy định của Hiệp định, để bảo vệ nền kinh tế trong nƣớc, các quốc
gia chỉ có thể điều tiết về mặt thuế suất đối với từng loại hàng hoá theo từng mức
thuế suất để hạn chế hoặc khuyến khích nhập khẩu đối với loại hàng hoá đó.

Trích đoạn Quy định của pháp luật về giá tính thuế nhập khẩu theo quốc gia chƣa phản ánh đầy đủ trị giá giao dịch Pháp luật về giá tính thuế nhập khẩu theo quốc gia vẫn duy trì một số công cụ quản lý hành chính can thiệp vào việc xác định trị giá tính Phạm vi áp dụng các quy định trị giá tính thuế theo GATT còn hạn chế, mang tính thử nghiệm, chƣa phù hợp với nguyên tắc đối xử bình Pháp luật về trị giá tính thuế theo GATT chƣa xác lập đƣợc công cụ pháp lý để cơ quan chức năng đấu tranh hiệu quả với các hiện Pháp luật về trị giá tính thuế theo GATT chƣa xác lập đƣợc công cụ pháp lý để cơ quan chức năng đấu tranh hiệu quả với các hiện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status