Hiệp định TRIPS WTO và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam về sở hữu trí tuệ trong giai đoạn hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
o0o HIỆP ĐỊNH TRIPS/WTO VÀ VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VIỆT NAM VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ
MÃ SỐ: 60.31.40
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

37
2.1.2. Yêu cầu cụ thể của Hiệp định TRIPS đối với việc thực thi quyền SHTT . 40
2.2. Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam về SHTT trong hệ thống các
cam kết quy chế thành viên 44
2.2.1. Cam kết của Việt Nam với WTO về SHTT 44
2.2.2. Vị trí của cam kết về SHTT trong hệ thống các cam kết gia nhập WTO
của Việt Nam 47

2.3. Tổng quan pháp luật Việt Nam về SHTT và một số nhận xét, đánh giá so
với các yêu cầu của Hiệp định TRIPS 48
2.3.1. Tổng quan pháp luật Việt Nam về SHTT 48
2.3.2. Một số nhận xét và đánh giá pháp luật Việt Nam về SHTT so với yêu cầu
của TRIPS 68
CHƢƠNG III: PHƢƠNG HƢỚNG GIẢI QUYẾT HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT QUỐC GIA THEO YÊU CẦU CỦA HIỆP ĐỊNH TRIPS/WTO 71
3.1. Thực trạng của pháp luật Việt Nam về SHTT 71
3.1.1. Những mặt tích cực/Những kết quả mà Việt Nam đã đạt được trong quá
trình hoàn thiện pháp luật, đáp ứng các yêu cầu của WTO/TRIPS về SHTT 71
3.1.2. Những vấn đề thực thi pháp luật Việt Nam về SHTT 84
3.1.3. Những nguyên nhân của tình trạng trên 89
3.2. Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về SHTT 91
3.2.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về SHTT 91
3.2.2. Kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về SHTT 92
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

AFTA

settlement of disputes
Thỏa thuận về các nguyên tắc và
thủ tục về giải quyết tranh chấp
EC
European commission
Cộng đồng Châu Âu
EFTA
European free trade association
Hiệp hội thương mại tự do Châu
Âu
EU
European Union
Liên minh Châu Âu
FAO
Food Agriculture Orgnization
Tổ chức nông lương quốc tế
GATS
General agreement on trade in
services
Hiệp định chung về thương mại
dịch vụ
GATT
General agreement on tariffs and
trade
Hiệp định chung về thuế quan và
thương mại
IMF
International moneytary foundation
Quỹ tiền tệ quốc tế
ITO

TPRM
Trade policy review mechanism
Cơ chế rà soát chính sách thương
mại
TRIMs
Trade related aspects of investment
measures
Hiệp định các biện pháp đầu tư
liên quan đến thương mại
TRIPS
Trade related aspects of intellectual
property rights
Hiệp định về các khía cạnh liên
quan đến thương mại của quyền
sở hữu trí tuệ
SHTT
Sở hữu trí tuệ
Sở hữu trí tuệ
UN
United Nation
Liên hiệp quốc
UPOV
The International Union for the
Protection of New Varieties of Plants
Liên đoàn quốc tế về bảo vệ thực
vật
WB
World bank
Ngân hàng thế giới
WIPO

các doanh nghiệp… hiểu rõ pháp luật và có ý thức đầy đủ về việc bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ. Tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đặc biệt là vi phạm bản quyền
đã trở thành một vấn đề đáng lo ngại, đã gây cho các nhà đầu tư nước ngoài những
lo ngại nhất định trong quá trình hợp tác với Việt Nam. Tình trạng này cũng đặt ra
lý do tại sao cần nghiên cứu các quy định của Hiệp định TRIPS/WTO và thực tiễn
các nước trong vấn đề này.
- 2 -
Việc nghiên cứu nội dung của “Hiệp định TRIPS/WTO và vấn đề hoàn thiện
pháp luật Việt Nam về sở hữu trí tuệ trong giai đoạn hiện nay” là vấn đề cấp bách,
có thể góp phần làm phong phú hơn về lý luận và thực tiễn trong việc hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam về sở hữu trí tuệ, giúp có một cái nhìn sâu sắc và hoàn
thiện hơn về quá trình hội nhập của Việt Nam với toàn cầu. Đó cũng chính là lý do
tại sao tôi chọn đề tài này làm đề tài nghiên cứu tốt nghiệp chương trình cao học của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Pháp luật sở hữu trí tuệ và cơ chế điều chỉnh pháp luật về bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ đã được nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm nghiên cứu.
Ở nước ngoài, nhiều công trình nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của các
văn bản luật, hiệp ước, công ước quốc tế như: Công ước Paris về quyền sở hữu công
nghiệp; Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật; Công ước
Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng; Hiệp
định TRIPS về các khía cạnh liên quan đến thương mại của sở hữu trí tuệ… đã được
công bố. Trong số các công trình đó phải kể đến J. Watal với “Intellectual property
rights in the WTO and developing countries” do Oxford University Press, New Delhi
xuất bản năm 2001; của tác giả Markus Keith E với “Intellectural property rights in the
global economy” do Washington DC. Institute for International Economics xuất bản
năm 2000; Hay của OECD với “Intellectual property practices in the field of
Biotechnology” trên trang web http://www.oecd.org/ech./docs/bio.htm…
Tại Việt Nam, nhiều bài viết, tài liệu về sở hữu trí tuệ cũng được công bố.
Trong số đó đáng chú ý là bài viết của tác giả Nguyễn Bá Diến “Các nguyên tắc cơ bản

phương hướng và giải pháp để hoàn thiện cơ chế pháp luật thực thi quyền sở hữu trí
tuệ ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ:
Để thực hiện được mục tiêu trên, luận văn tập trung vào việc giải quyết các
nhiệm vụ sau:
Hệ thống hóa và phân tích các nội dung cơ bản về quyền sở hữu trí tuệ, bảo
hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Hiệp định TRIPS/WTO;
- 4 -
Phân tích, so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam với các quy định của
Hiệp định TRIPS để xác định, đánh giá mức độ tương thích của chúng;
Nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền sở hữu trí tuệ
trong điều kiện sau khi Việt Nam là thành viên của WTO;
Kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi Hiệp định
TRIPS/WTO tại Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng:
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn thuộc nội dung của
Hiệp định TRIPS/WTO cũng như những giải pháp của Việt Nam nhằm nâng cao
hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo yêu cầu cam kết với WTO.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung vào việc nghiên cứu nội dung Hiệp định TRIPS của
WTO đặc biệt là phần thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo yêu cầu của Hiệp định
TRIPS;
Làm các phân tích, so sánh đối chiếu với các quy định của Hiệp định
TRIPS/WTO với các quy định tương ứng của pháp luật Việt Nam về sở hữu trí tuệ;
Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền sở hữu trí tuệ
trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của WTO.
Luận văn không có ý định và không thể nghiên cứu các vấn đề kỹ thuật trong
thực thi Hiệp định TRIPS; pháp luật và thực tiễn các nước về vấn đề này cũng như
thực tiễn giải quyết tranh chấp về TRIPS tại WTO.

- 6 -
CHƢƠNG I: WTO VÀ HIỆP ĐỊNH TRIPS

1.1. Tổ chức thƣơng mại thế giới và quá trình gia nhập của Việt Nam
1.1.1. Bối cảnh ra đời và một số nội dung cơ bản của Tổ chức thương mại thế
giới
a. Bối cảnh ra đời:
- Ngay từ khi Chiến tranh Thế giới thứ hai chưa kết thúc, các nước đã nghĩ
đến việc thiết lập các định chế chung về kinh tế để hỗ trợ cho công cuộc tái thiết đất
nước sau chiến tranh. Hội nghị Bretton Woods được triệu tập ở bang New
Hampshire (Hoa Kỳ) năm 1944 nhằm mục đích này. Kết quả là sự ra đời của 2 tổ
chức tài chính: Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế (nay được gọi là Ngân hàng
thế giới – WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF). Tại Hội nghị những ý tưởng về việc
thành lập một tổ chức thứ ba phụ trách lĩnh vực thương mại và hợp tác kinh tế quốc
tế tồn tại độc lập với hai thể chế tài chính của Bretton Woods cũng được hình thành
với tên gọi Tổ chức thương mại quốc tế (ITO).
- Hơn 50 nước đã tham gia đàm phán nhằm thành lập ITO. Dự thảo Hiến
chương thành lập ITO đầy tham vọng, ngoài những điều quy định về thương mại
quốc tế, bản dự thảo còn mở rộng ra cả các quy định về việc làm, đầu tư, cạnh tranh,
dịch vụ, vì thế việc đàm phán Hiến chương của ITO diễn ra khá lâu. Khi Chiến
tranh thế giới thứ 2 kết thúc, ngay lập tức 23 trong tổng số 50 nước đã bắt tay ngay

định Thương mại đa phương về Thương mại Hàng hoá. Trong vòng đàm phán
Uruguay các nước đã cho ra Tuyên bố Marrakesh thành lập Tổ chức thương mại thế
giới (WTO), Tuyên bố này có hiệu lực bắt đầu từ ngày 01/01/1995. Đồng thời cũng
tại Vòng đàm phán này, lần đầu tiên các quy định mới điều chỉnh về dịch vụ và
SHTT liên quan đến thương mại đã được ký kết và đi vào thực thi sau một thời gian
dài thảo luận hết sức căng thẳng và đôi khi tưởng chừng như đi vào bế tắc.
b. Các nội dung cơ bản về Tổ chức thương mại thế giới
b.1. Mục tiêu của WTO:
Với mong muốn thành lập một tổ chức quốc tế với quy mô phức tạp nhằm
thực hiện tốt hơn những mục đích đã được nêu ra tại GATT 1947. Bên cạnh lĩnh
vực thương mại hàng hóa, WTO còn điều chỉnh các lĩnh vực khác như: Thương mại
- 8 -
dịch vụ, sở hữu trí tuệ và các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại. Vì vậy có
thể nói với việc thành lập WTO, các quốc gia đã đặt một kỳ vọng rất lớn lao vào vai
trò lãnh đạo của thể chế này. Do đó, WTO được thành lập nhằm đạt ba mục tiêu chủ
yếu sau:
1)Mục tiêu về kinh tế: Mong muốn thúc đẩy tiến trình tự do hóa thương mại,
bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường… Điều này có nghĩa WTO
yêu cầu các thành viên cần phải có một sự áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn, bất kỳ
sự thay đổi nào về chính sách thương mại cũng phải được thông báo trước, đó chính
là yêu cầu về “tính minh bạch”; 2)Mục tiêu chính trị: Các thành viên mong muốn
WTO sẽ là trung tâm trong việc giải quyết và dàn xếp thương lượng các tranh chấp
thương mại phù hợp với những quy tắc chung của pháp luật quốc tế. Bên cạnh đó,
WTO cũng đảm bảo cho những nước đang phát triển mà trong đó đặc biệt là các
nước kém phát triển nhất những ưu đãi trong quan hệ thương mại quốc tế để các
nước này có những điều kiện được thụ hưởng các lợi ích từ sự tăng trưởng của
thương mại quốc tế nhằm phục vụ cho nhu cầu phát triển của mình; và 3) Mục tiêu
xã hội: Đây là mục tiêu được các Bộ trưởng nêu ngay đầu tiên trong Tuyên bố
Marrakesh đó là: nhằm nâng cao mức sống, tạo công ăn, việc làm và thu nhập cho
người dân của các nước thành viên.

hàng hoá, sau khi WTO ra đời thì nó được mở rộng cả sang thương mại dịch vụ, các
khía cạnh liên quan đến thương mại của SHTT, tuy nhiên mức độ áp dụng của quy
tắc này trong các lĩnh vực là khác nhau.
Trong thương mại hàng hoá: MFN và NT được áp dụng tương đối toàn diện
và triệt để;
Trong thương mại dịch vụ: MFN và NT cũng được áp dụng với những lĩnh
vực mà một thành viên đã cam kết mở cửa thị trường, với những lĩnh vực dịch vụ
còn duy trì hạn chế thì việc dành MFN và NT tuỳ thuộc vào kết quả đàm phán các
cam kết cụ thể;
Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ: các đãi ngộ quốc gia trên đã được thể chế hoá
cụ thể và phổ biến trong các công ước quốc tế liên quan đến sở hữu trí tuệ.
- Nguyên tắc thứ hai: Tạo dựng một nền tảng ổn định cho thương mại
- 10 -
Các nước thành viên WTO có nghĩa vụ đảm bảo tính ổn định cho thương
mại quốc tế, thông qua việc các nước ràng buộc thuế quan của mình. Các nước chỉ
có thể tăng thuế quan sau khi đã tiến hành đàm phán lại và đã đền bù thoả đáng cho
lợi ích các bên bị thiệt hại do việc tăng thuế đó.
Để đảm bảo nguyên tắc này, các nước thành viên WTO có nghĩa vụ phải
minh bạch hoá các quy định thương mại của mình, phải thông báo mọi biện pháp
đang áp dụng và ràng buộc chúng.
- Nguyên tắc thứ ba: Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán
WTO đảm bảo thương mại giữa các quốc gia ngày càng tự do hơn thông qua
quá trình đàm phán hạ thấp các hàng rào thương mại để thúc đẩy buôn bán. Kể từ
năm 1948 đến nay, GATT - mà nay là WTO, đã tiến hành 8 vòng đàm phán để giảm
thuế quan, dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan và mở cửa thị trường. Để thực hiện
nguyên tắc này, WTO đảm nhận chức năng là diễn đàn đàm phán thương mại đa
phương để các nước có thể liên tục thảo luận về vấn đề tự do hoá thương mại.
- Nguyên tắc thứ tư: Tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng
WTO là một hệ thống các nguyên tắc nhằm thúc đẩy cạnh tranh tự do, công
bằng và không bị bóp méo. Tất cả các Hiệp định của WTO như về nông nghiệp,

thương mại của các nước thành viên.
Với mục tiêu nhằm đạt được sự thống nhất lớn hơn trong quá trình hoạch
định chính sách toàn cầu, WTO, khi cần thiết sẽ hợp tác với IMF, WB và các cơ
quan trực thuộc hệ thống Liên Hợp quốc nhằm giúp các thành viên tiếp cận và xử lý
được các vấn đề kinh tế toàn cầu.
b.4. Cơ cấu tổ chức của WTO: Hiện nay, WTO có 153 nước thành viên (tính
đến ngày 23/07/2009)
1

Tổ chức thương mại thế giới là một tổ chức “do chính các thành viên của
mình điều hành” vì các quyết định đều được đưa ra trên cơ sở sự đồng thuận của tất
cả các chính phủ thành viên.
Có thể chia cơ cấu tổ chức của WTO theo các cấp độ dưới đây:
- Cấp độ thứ nhất: Hội nghị Bộ trưởng (MC) là cơ quan quyền lực cao nhất,
cơ quan lãnh đạo chính trị cao nhất của WTO

1
http//:www.wto.org – Danh sách các thành viên của WTO
- 12 -
+ Hội nghị Bộ trưởng họp ít nhất một lần trong hai năm. Đây là cơ quan đưa
ra quyết định đối với mọi vấn đề của bất kỳ hiệp định cụ thể nào. Thông thường,
Hội nghị Bộ trưởng đưa ra các đường lối, chính sách chung để các cơ quan cấp dưới
tiến hành triển khai.
- Cấp độ thứ hai: Đại hội đồng (GC), GC bao gồm thành viên là đại diện của
tất cả các thành viên, có nhiệm vụ báo cáo lên MC. GC tiến hành các công việc
hàng ngày của WTO trong thời gian giữa các MC. GC hoạt động thay mặt cho MC
giải quyết tất cả các công việc liên quan đến WTO. Cơ quan này đồng thời thực
hiện chức năng của Cơ quan Giải quyết Tranh chấp (DSB) và Cơ quan Rà soát
Chính sách Thương mại (TPRB) của các nước. Như vậy trên thực tế ba cơ quan:
GC, DSB và TPRB là một cấp độ, tùy theo từng trường hợp cụ thể mà GC nhóm

đến việc diễn giải các quy định, luật lệ của WTO;
Hỗ trợ kỹ thuật trong quá trình đàm phán gia nhập của các nước.
1.1.2. Quá trình gia nhập của Việt Nam vào WTO
Việc gia nhập của Việt Nam vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO) được
sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam cũng như sự ủng hộ của các
nước thành viên WTO.
- Có thể chia quá trình gia nhập WTO của Việt Nam thành 4 giai đoạn chính
như sau:
+ Giai đoạn một: Minh bạch hóa chính sách hay còn gọi “hãy nói cho chúng
tôi Anh là ai”. Ở giai đoạn này chính phủ các nước xin gia nhập WTO phải trình
bày cụ thể các quy định pháp luật và chính sách thương mại và kinh tế của mình có
liên quan đến các hiệp định của WTO cho Ban công tác (WP) về việc gia nhập
WTO.
Đối với Việt Nam, ngày 24/09/1996, Việt Nam nộp bản Bị vong lục về Chế
độ Ngoại thương. Đây là tài liệu chính thức đầu tiên trình bày một cách toàn diện
các quy định pháp luật, chính sách, thương mại liên quan đến hàng hóa dịch vụ,
thuế quan, đầu tư và SHTT của Việt Nam. Sau khi nghiên cứu “Bị vong lục về Chế
độ ngoại thương”, nhiều thành viên đã đặt câu hỏi yêu cầu Việt Nam trả lời nhằm
làm rõ pháp luật, chính sách, bộ máy quản lý và thực thi pháp luật, chính sách của
Việt Nam. Trong quá trình đàm phán đa phương ta đã trả lời khoảng 4.000 câu hỏi
- 14 -
mà các nước đã đưa ra cho Việt Nam [22. tr.70]. Bên cạnh đó Việt Nam cũng phải
cung cấp nhiều thông tin khác theo các biểu mẫu do WTO quy định về hỗ trợ nông
nghiệp, trợ cấp trong công nghiệp, thủ tục hải quan, hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ
sinh dịch tễ… Kết thúc phiên đàm phán thứ sáu, ông chủ tịch Ban công tác về việc
Việt Nam gia nhập WTO đã tuyên bố kết thúc giai đoạn một, Việt Nam cần chuẩn
bị tài liệu cho giai đoạn hai.
+ Giai đoạn hai: Tiến hành đàm phán mở cửa thị trường hay còn gọi là “Anh
hãy cùng với từng thành viên WTO thảo luận về những điều anh muốn cam kết”.
Tháng 10/2003, Việt Nam đã trình ra WP các Bản chào đầu tiên về hàng hóa

đổi và xây dựng mới 50 luật và pháp lệnh, trong đó có các đạo luật mới được ban
hành như: Luật cạnh tranh năm 2004, Luật đầu tư 2005, Luật sở hữu trí tuệ 2005,
Bộ Luật dân sự 2005, Luật doanh nghiệp 2005, Pháp lệnh chống bán phá giá năm
2004, Pháp lệnh chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu 2004, …
Nhận thức rõ những giá trị, vai trò và tác động to lớn của SHTT trong
thương mại, Việt Nam đã có những chuẩn bị cần thiết trong lĩnh vực này để đáp ứng
các yêu cầu của các Công ước quốc tế cũng như các quy định về SHTT của WTO.
Việt Nam đã tiến hành phiên đàm phán về SHTT đầu tiên vào ngày 26/06/2000.
Đồng thời Việt Nam là một trong những nước cam kết đồng ý tuân thủ và áp dụng
các quy định của WTO ngay khi trở thành thành viên của WTO mà không cần bất
cứ thời gian chuyển tiếp nào.
Ngay từ những ngày đầu khi Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO, hệ thống
bảo hộ quyền SHTT của Việt Nam cơ bản đã đáp ứng các yêu cầu của WTO. Việt
Nam đã có các văn bản như: Pháp lệnh Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (1989) và
Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả (1994), Phần 6 Bộ Luật dân sự 1995 về quyền sở
hữu trí tuệ. Tuy vậy, cũng có một số vấn đề được đề cập trong Hiệp định TRIPS
nhưng Việt Nam chưa có quy định cụ thể để bảo hộ chẳng hạn như: Thông tin
không được tiết lộ; Thiết kế bố chí mạch tích hợp; Quyền chống cạnh tranh không
lành mạnh…
Để nhanh chóng đưa hệ thống pháp luật về SHTT phù hợp với các quy định
của Hiệp định TRIPS/WTO, Việt Nam đã trình ra WP một Chương trình hành động
tổng thể về SHTT với mục tiêu làm cho hệ thống SHTT Việt Nam phù hợp với các
yêu cầu của TRIPS/WTO trước khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO.
+ Giai đoạn ba: Thỏa thuận quy chế thành viên hay còn gọi “Hãy cùng
chúng tôi soạn thảo điều kiện về tư cách thành viên của anh”. Đây chính là giai
đoạn xây dựng và hoàn thiện Bộ hồ sơ gia nhập WTO.
- 16 -
Bộ hồ sơ văn kiện pháp lý về việc Việt Nam gia nhập WTO đã được chính
thức khởi thảo từ Phiên 7 của Ban công tác. Đến ngày 26/10/2006, Bộ hồ sơ văn
kiện về việc Việt Nam gia nhập WTO đã được hoàn tất để trình lên Đại hội đồng

sách thương mại và phải thông báo cho WTO biết những luật lệ hiện hành và các
biện pháp được áp dụng trong nước, song với các báo cáo định kỳ của Ban thư ký
về chính sách thương mại của các nước
Hệ thống các hiệp định của WTO bao gồm khoảng 60 hiệp định, phụ lục,
quyết định và bản ghi nhớ [32, tr.54]. Các hiệp định này được xây dựng theo một
cấu trúc đơn giản, gồm sáu phần bao gồm: Hiệp định khung (Hiệp định thành lập
WTO); Các nguyên tắc cơ bản của WTO nằm trong các hiệp định điều chỉnh ba lĩnh
vực lớn liên quan đến thương mại là: hàng hóa, dịch vụ và sở hữu trí tuệ; Các quy
định cụ thể về thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và SHTT; Các quy định bổ
sung cho ba lĩnh vực đó; Giải quyết tranh chấp; và Cơ chế rà soát pháp luật chính
sách thương mại của chính phủ các nước.
Đôi khi có những khác biệt lớn về nội dung chi tiết, nhưng các hiệp định điều
chỉnh hai lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ đều được xây dựng theo cùng một mô hình
ba cấp như sau:
+ Chúng đều bắt đầu bằng phần nêu các nguyên tắc cơ bản. Tương tự như
vậy với lĩnh vực SHTT liên quan đến thương mại (TRIPS).
+ Tiếp đến là các hiệp định bổ sung và các phụ lục bao gồm các điều khoản
đặc biệt liên quan đến những ngành hoặc những vấn đề chuyên biệt.
+ Cuối cùng là danh mục dài và chi tiết các cam kết của mỗi nước mở cửa thị
trường nội địa của mình cho các nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ nước ngoài.
SHTT là một lĩnh vực mới so với các lĩnh vực khác. Các nước tham gia vòng
đàm phán Uruguay đã ký kết Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến
quyền SHTT (TRIPS) điều chỉnh quyền tác giả và các quyền có liên quan; nhãn
hiệu; chỉ dẫn địa lý; kiểu dáng công nghiệp; sáng chế; thiết kế bố trí mạch tích hợp;
bảo hộ thông tin bí mật và hạn chế chống cạnh tranh trong các hợp đồng chuyển
giao quyền sử dụng. Hiệp định quy định nghĩa vụ của các thành viên trong việc đưa
ra các quy định bảo hộ tối thiểu với từng lĩnh vực cụ thể. Đồng thời mỗi nội dung
bảo hộ được xác định rõ: đối tượng được bảo hộ; các quyền chuyển giao, một số
- 18 -
ngoại lệ đối với các quyền này và thời hạn bảo hộ tối thiểu. Các bên cũng đồng ý sử

hóa công nghệ cao đều bắt nguồn từ những sáng chế, những công trình nghiên cứu
khoa học. Phim ảnh, các băng ghi âm, ghi hình, sách báo, tạp chí phần mềm máy
tính đã mang lại cho con người không giản đơn chỉ là những giá trị tinh thần mà còn
cả những khoản nguồn thu nhập khổng lồ. Nhiều sản phẩm khoa học công nghệ trí
tuệ (IT) đã được đưa ra thị trường dưới nhiều hình thức khác nhau.
Những người sáng tạo ra những sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hoặc các
loại hình sáng tạo khác có quyền ngăn ngừa những người khác sử dụng những sản
phẩm sáng tạo do mình làm ra. Những quyền này tồn tại dưới các hình thức khác
nhau, ví dụ một cuốn sách, một bức tranh hoặc một bộ phim có thể được bảo hộ
dưới quyền tác giả; một sáng chế có thể được bảo hộ dưới một văn bản bảo hộ
(patents); một logos sản phẩm có thể được bảo hộ dưới một nhãn hiệu sản phẩm
thương mại được đang ký đúng pháp luật
Để bảo hộ được các quyền này, tại Vòng đàm phán Uruguay diễn ra từ năm
1986 – 1994 người ta đã ký được Hiệp định TRIPS (Agreement on Trade Related
Aspects of Intellectural Property Rights). Khi có tranh chấp liên quan đến quyền
SHTT thì hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO sẽ được áp dụng.
Hiệp định TRIPS đề cập tới 5 nội dung chính:
- Các nguyên tắc cơ bản của hệ thống thương mại và các Điều ước quốc tế
khác về SHTT có thể áp dụng;
- Các quy định tiêu biểu về bảo hộ quyền SHTT trên phạm vi toàn cầu;
- Các quy định về việc thực thi quyền SHTT theo Hiệp định TRIPS tại các
nước thành viên;
- Giải quyết tranh chấp về quyền SHTT giữa các nước thành viên WTO;
- Các quy định quá độ trong thời gian chuyển sang cơ chế mới theo Hiệp
định TRIPS
Các nguyên tắc cơ bản : đối xử quốc gia, đối xử tối huệ quốc và bảo hộ cân
bằng.
Giống như các Hiệp định khác của WTO, Hiệp định TRIPS cũng nhấn mạnh
tới nguyên tắc không phân biệt đối xử (đối xử quốc gia) (bình đẳng đối xử giữa
người trong nước và người nước ngoài) và đối xử tối huệ quốc (bình đẳng đối xử

Công ước Berne từ Điều 1 đến Điều 21 và Phụ lục kèm theo. Tuy nhiên, Hiệp định

Trích đoạn Có tính phức tạp và có dấu hiệu phổ biến. Những nguyên nhân của tình trạng trên Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về SHTT Kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về SHTT HIỆP ĐỊNH MARAKESH THÀNH LẬP TỔ CHỨC THƢƠNG MẠI THẾ GIỚI Các Bên Ký Kết Hiệp định này
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status