“Phân tích quy chế pháp lý về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Viêt Nam và đưa ra giai pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này trong xu hướng hội nhập.” - Pdf 34

Bài tập cá nhân Tư pháp quốc tế- Nguyễn Thị Tuyết Mai- Lớp K1D

MỤC LỤC

1


Bài tập cá nhân Tư pháp quốc tế- Nguyễn Thị Tuyết Mai- Lớp K1D

MỞ BÀI
Nuôi con nuôi là vấn đề không chỉ được quan tâm ở Việt Nam mà nó còn là
vấn đề cần được quan tâm chung trên toàn cầu. Khi mà thế giới đang ngày càng
hội nhập, quyền con người ngày càng được đề cao. Vấn đề nuôi con nuôi không
chỉ được bó gọn trong mỗi một quốc gia mà còn có sự liên kết giữa các quốc gia
với nhau gọi là hoạt động nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Nuôi con nuôi là
một hoạt động nhân đạo, cần được mở rộng và phát triển nhằm giúp đỡ những
đứa trẻ có cuộc sống không may mắn có được một cuộc sống và gia đình hạnh
phúc. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, người dân có đời sống so với
nhiều quốc gia trên thế giới còn chưa cao, nên việc nhận nuôi con nuôi trong
nước không thể đáp ứng hoàn toàn nhu cầu được nhận nuôi của những trẻ em
mồ côi, những đứa trẻ cần được nhận nuôi. Vì vậy cần tăng cường liên kết, để
ngày càng có nhiều trẻ em, không có điều kiện được nhận nuôi trong nước sẽ
được những người nước ngoài, những kiều bào nhận nuôi và chăm sóc. Trong
khi các hoạt động nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam chưa
thực sự rộng rãi cần được phát triển. Nhận thức đươc tầm quan trọng của đề tài
em xin chọn và làm rõ đề tài: “Phân tích quy chế pháp lý về vấn đề nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài tại Viêt Nam và đưa ra giai pháp hoàn thiện pháp
luật Việt Nam về vấn đề này trong xu hướng hội nhập.”

2



II.
1.

ngoài tại Việt Nam
Theo pháp luật trong nước
Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay được quy
định trong một số văn bản như: Luật nuôi con nuôi năm 2010 và nghị định số

3


Bài tập cá nhân Tư pháp quốc tế- Nguyễn Thị Tuyết Mai- Lớp K1D

19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
nuôi con nuôi.
Theo pháp luật Việt Nam, việc nuôi con nuôi nói chung cũng như nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng phải nhằm gắn bó tình cảm giữa người nuôi
con và con nuôi trong quan hệ cha mẹ, mẹ và con, bảo đảm cho người con chưa
thành niên được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt. Do vậy, pháp luật Việt
Nam coi việc nuôi con nuôi là biện pháp xã hội hữu hiệu nhằm tạo ra mái ấm
gia đình, sự yêu thương, chăm sóc, giáo dục của cha, mẹ nuôi đói với những
đứa trẻ bất hạnh. Để việc nuôi con nuôi được thực hiện theo đúng mục đích tốt
đẹp đã đề ra, đồng thời đảm bảo sự quản lí chặt chẽ của Nhà nước, pháp luật
Việt Nam quy định về các trường hợp nuôi con nuôi, điều kiện nhận nuôi con
nuôi, sự đồng ý làm con nuôi, hệ quả của việc nuôi con nuôi như sau:
Thứ nhất, các trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Theo Điều 28 Luật nuôi con nuôi, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đặt ra
trong các trường hợp sau:
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước

+ Hơn con từ 20 tuổi trở lên;
+ Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở đảm bảo việc chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con nuôi;
+ Có tư cách đạo đức tốt.
Đây là những điều kiện hết sức cần thiết nhằm khẳng định tư cách đạo đức, ý
thức pháp luật, điều kiện về thời gian, kinh tế của người nuôi con nuôi, đảm bảo
cho con nuôi được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục tốt nhất, được lớn lên
trong môi trường gia đình lành mạnh. Vì vậy, về nguyên tắc, khi nhận nuôi con
nuôi, người nhận nuôi con phải có đủ các điều kiện đó.

-

Về điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi là trẻ em Việt Nam

5


Bài tập cá nhân Tư pháp quốc tế- Nguyễn Thị Tuyết Mai- Lớp K1D

Điều 8 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định độ tuổi của người được nhận
làm con nuôi như sau:
+ Trẻ em dưới 16 tuổi;
+ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp
sau đây: (Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi; Được cô, cậu, dì, chú,
bác ruột nhận làm con nuôi.)
Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai vợ
chồng,
Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi,
Thứ ba, về sự đồng ý cho làm con nuôi.

Hiệp định hợp tác nuôi con nuôi giữa Việt Nam và các nước
Nguyên tắc nuôi con nuôi: các nước ký kết cam kết thực hiện nhưng biện pháp
hợp tác để đảm bảo cho việc nuôi con nuôi được tiến hành một cách tự nguyện
trên tinh thần nhân đạo, phù hợp với pháp luật của mỗi nước, tôn trọng Công
ước của Liên hợp quốc ngày 20/11/1989 về quyền trẻ em, bảo đảm những lợi

-

ích tốt nhất cho trẻ em.
Cơ quan có thẩm quyền và tổ chức được cấp phép.
Cơ quan trung ương về con nuôi quốc tế của các nước là cơ quan đầu mối
trong việc thi hành hiệp định. Cơ quan trung ương, về phía Việt Nam là Cục
Con nuôi- Bộ Tư pháp, về phía các nước ký kết khác là: cơ quan nuôi con nuôi
quốc tế thuộc Bộ ngoại giao (Pháp); Vụ gia đình- Bộ gia đình và tiêu dùng (Đan
Mạch); Ủy ban Con nuôi quốc tế đặt tại văn phòng Chủ tịch hội đồng bộ trưởng

-

(Italia);…
Luật áp dụng và thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi
Điều kiện đối với trẻ em được nhận làm con nuôi và việc xác định cá nhân,
tổ chức có quyền đồng ý cho trẻ em làm con nuôi. Cũng như hình thức sử dụng
sự đồng ý đó tuân theo pháp luật của nước gốc. Việc quyết định cho nhận trẻ em
làm con nuôi thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nhà nước ký kết mà trẻ
em đó là công dân. Quyết định này sẽ được công nhận tại nước nhận nếu phù
hợp với quy định của pháp luật nước gốc và của Hiệp Định.

-

Về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi.

Tính đến năm 2012 đã có 82 quốc gia và vùng lãnh thổ là thành viên của
Công ước. công ước đề cập đến một số vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất: về nguyên tắc cơ bản giải quyết nuôi con nuôi. Những nguyên tắc
cơ bản của công Ước Lahay 1993 được coi là những quy định bắt buộc, có giá
trị rằng buộc chung đối với tất cả các quốc gia thành viên. Những nguyên tắc cơ
bản được ghi nhận bao gồm:
-

Tôn trong bà bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ em là được cha mẹ đẻ chăm sóc;

8


Bài tập cá nhân Tư pháp quốc tế- Nguyễn Thị Tuyết Mai- Lớp K1D
-

Nếu vì lý do nào đó mà trẻ em không được cha mẹ đẻ chăm sóc thì cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền có trách nhiệm bảo vệ trẻ em và xem xét tất cả các giải
pháp khác nhau để trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng tại quốc gia mình; nếu
các giải pháp này không thực hiện được thì có thể tìm kiếm giải pháp thay thê

-

như nuôi con nuôi, giám hộ hoặc chăm sóc ở trung tâm bảo trợ xã hội;
Chỉ cho phép những người ngoài gia đình ruột thịt của trẻ em nhận làm con nuôi
nếu không có khả năng tìm thấy một nơi ở phù hợp cho trẻ em ngay từ gia đình

-

gốc của mình;

nhập cảnh và thường trú tại quốc gia đó.
9


Bài tập cá nhân Tư pháp quốc tế- Nguyễn Thị Tuyết Mai- Lớp K1D
-

Về điều kiện đối với con nuôi:
Công ước quy định việc nuôi con nuôi được áp dụng đối với trẻ em dưới 18
tuổi (Điều 3). Khả năng trẻ em được cho làm con nuôi ở độ tuổi thấp hơn, ví dụ
từ 15 tuổi trở xuống thì pháp luật nước gốc sẽ được áp dụng mà không tính đến
Điều 3 của Công ước.
Theo Điều 5 của Công ước thì điều kiện để trẻ em được cho làm con nuôi do
cơ quan có thẩm quyền của nước gốc quy định và xác nhận.
Thứ ba, về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi
Về nguyên tắc, viêc nhận nuôi con nuôi giữa công dân của hai nước kí kết
được nhà chức trách có thẩm quyền của nước ký kết nơi thực hiện chứng nhận
là phù hợp với Công ước thì phải được công nhận có giá trị pháp lý ở nước kí
kết kia. Song quốc gia hữu quan có quyền từ chối trong trường hợp việc nuôi
con nuôi đó được xác định là giả dối hoặc thể hiện sự trái ngược với chính sách
công của nước kí kết kia.
Điều 26 Công ước quy định cụ thể hệ quả của việc nuôi con nuôi, bao gồm
việc công nhận mối quan hệ pháp lý cha mẹ- con giữa trẻ em là cha mẹ nuôi;
trách nhiệm của cha mẹ nuôi dối với trẻ em; công nhận việc cắt đứt hay không
mối liên hệ tồn tại trước đó giữa trẻ em và cha mẹ đẻ theo pháp luật của nước
nơi thực hiện nuôi con nuôi.
Thứ tư, về cơ quan có thẩm quyền và trình tự thủ tục giải quyết việc nuôi
con nuôi

-

nuôi theo chuẩn mực quốc tế, góp phần tăng cường bảo vệ quyền lợi của trẻ em,
cha mẹ nuôi. Các quy định của công ước được xây dựng theo hướng đơn giản
hóa các thủ tục hành chính và hạn chế tối đa các trẻ em vô gia cư.
Các yêu cầu về thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi được quy định tại
Chương IV của công ước liên quan đến trách nhiệm của cơ quan trung ương và
những cơ quan đại diện của nó. Các cơ quan này phải lập báo cáo bao gồm
những thông tin về cả cha mẹ nuôi và con nuôi, về trình tự thủ tục giải quyết ,
việc xuất cảnh từ nước gốc và nhập vào nước nhận, việc sắp xếp giao nhận con
nuôi, trao đổi thông tin trong trường hợp diễn ra không đảm bảo vì lợi ích tốt

11


Bài tập cá nhân Tư pháp quốc tế- Nguyễn Thị Tuyết Mai- Lớp K1D

nhất cho trẻ. Các quy định của công ước thể hiện ý tưởng về sự hợp tác giữa
nước nhận và nước gốc, sự phối hợp trong việc chăm sóc trẻ em cũng như thực
hiện chính sách xuất nhập cảnh.
Cơ quan trung ương có trách nhiệm kiểm tra các điều kiện để được nhận con
nuôi nếu những người xin con nuôi đáp ứng được các điều kiện thích hợp để
nuôi con nuôi thi cơ quan này phải làm một báo cáo gồm những thông tin về
người xin nhận con nuôi và sự phù hợp để nuôi con nuôi và sự phù hợp để
nuôi con nuôi, về khả năng đảm nhận việc nuôi con nuôi quốc tế cũng như các
đặc điểm của trẻ em mà họ thấy thích hợp để nhận nuôi con nuôi. Báo cáo đó
phải được chuyển cho cơ quan trung ương của nước gốc.
Sự hạn chế trong các quy định của pháp luật và hạn chế trong việc thực thi

III.
1.


UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương - nơi thường trú của người
được nhận làm con nuôi quyết định cho người đó làm con nuôi. Trường hợp trẻ
em ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì UBND cấp tỉnh - nơi có trụ
sở của cơ sở nuôi dưỡng trẻ em quyết định cho trẻ em đó làm con nuôi.
Sở Tư pháp thực hiện đăng kí việc nuôi con nuôi nước ngoài sau khi có
quyết định của UBND cấp tỉnh.
Bộ Tư pháp là đầu mối trong việc đảm bảo thực thi, tạo điều kiện trao đổi
thông tin với các nước.
Có thể thấy rằng, ở Việt Nam, có quá nhiều cơ quan tham gia vào việc giải
quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Cục con nuôi thuộc Bộ Tư pháp với
tư cách là cơ quan Trung ương về nuôi con nuôi quốc tế của Việt Nam chưa
phát huy được chức năng của mình, chưa có đầy đủ khả năng và thẩm quyền
cần thiết giống như các nước thành viên Công ước Lahay. Trên thực tế, Cục con
nuôi mới chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực nuôi con
nuôi và tham gia một số khâu trong quá trình giải quyết hồ sơ mà chưa được
trao quyền quyết định việc cho nhận con nuôi. Do vậy, trong trường hợp ý kiến
của Cục con nuôi quốc tế khác với ý kiến của Sở Tư pháp và của UBND cấp
tỉnh thì sự việc trở nên phức tạp hơn.
Cục con nuôi chưa xứng tầm với Cơ quan Trung ương theo Công ước Lahay.
Để tăng cường vị thế, vai trò của Cơ quan Trung ương của Việt Nam khi tham
gia Công ước này, Cục con nuôi phải được tăng thẩm quyền, kiện toàn tổ chức
và hoạt động.
Thứ ba: Về thời gian thử thách đối với bố mẹ nuôi
Điều 21 Công ước Lahay quy định: Trong thời gian thử thách, nếu cơ
quan Trung ương của nước nhận cho cha mẹ nuôi tương lai tiếp tục chăm sóc
trẻ không còn đáp ứng một cách tốt nhất lợi ích của trẻ thì cơ quan này sẽ đưa

13



thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền và
nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường
thiệt hại, quản lí, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi”.
Với quy định này, về nguyên tắc, quyền và nghĩa vụ làm cha mẹ được
chuyển từ cha mẹ đẻ sang cha mẹ nuôi kể từ ngày việc nuôi con nuôi được pháp

14


Bài tập cá nhân Tư pháp quốc tế- Nguyễn Thị Tuyết Mai- Lớp K1D

luật công nhận. Cha mẹ đẻ không còn quyền cha mẹ đối với con đã cho làm con
nuôi. Tuy nhiên, không phải mọi quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ và con đều
đương nhiên chấm dứt mà chỉ những quyền và nghĩa vụ nào được quy định rõ
tại khoản 2 Điều 24 Luật nuôi con nuôi là chấm dứt thì mới chấm dứt. Điều đó
cũng có nghĩa là về nguyên tắc, quan hệ pháp lí giữa cha mẹ đẻ và con đẻ đã
cho làm con nuôi chấm dứt trước pháp luật khi việc nhận nuôi con nuôi có hiệu
lực nhưng quan hệ thừa kế giữa người con đó với cha mẹ đẻ và gia đình huyết
thống lại không đương nhiên chấm dứt, mà vẫn tồn tại, vì quan hệ thừa kế này
không được liệt kê trong quy định trên là sẽ chấm dứt. Như vậy, người con đã
cho làm con nuôi vẫn có quyền thừa kế theo luật đối với cha đẻ, mẹ đẻ và
những người họ hàng huyết thống khác trong gia đình gốc như trước khi đi làm
con nuôi và ngược lại, cha đẻ, mẹ đẻ và những người họ hàng huyết thống vẫn
là người thừa kế theo luật của người được nhận làm con nuôi khi người này
chết. Điều này được thể hiện cụ thể tại điểm a Khoản 1 Điều 676 BLDS năm
2005: “Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ
nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”. Điều này không phù hợp với bản chất
và thực tế thực hiện quan hệ nuôi con nuôi, kể cả quan hệ nuôi con nuôi trong
nước và đặc biệt là trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, điều này
là không phù hợp với quy định của Công ước Lahay về hệ quả pháp lí.


Khó khăn trong việc triển khai thực hiện luật nuôi con nuôi
Phản ánh của các địa phương cho thấy, khó khăn lớn nhất trong việc triển
khai thực hiện Luật Nuôi con nuôi là ở khâu lập dự toán để sử dụng khoản chi
phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài theo quy định của Luật Nuôi con nuôi
và Nghị định số 19/2011/NĐ-CP. Ngoài ra, theo phản ánh của Làng thiếu niên
Thủ Đức TP. Hồ Chí Minh hiện công tác xác minh nguồn gốc trẻ là một khó
khăn rất lớn trong quá trình giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại cơ
sở nuôi dưỡng. "Thời gian qua, số lượng trẻ ở các cơ sở nuôi dưỡng cần xác
minh nguồn gốc, phục vụ cho việc tìm gia đình thay thế ở nước ngoài rất đông
trong khi cơ quan công an không trực tiếp đi xác minh mà chỉ gửi phiếu đề nghị
xác minh đến công an các địa phương qua đường bưu điện, dẫn đến việc rất
nhiều trường hợp không nhận được phản hồi. Điều này đã làm kéo dài thời gian
giải quyết việc nuôi con nuôi, tác động đến tâm lý chờ đợi của cha mẹ nuôi
cũng như ảnh hưởng đến quyền lợi của trẻ, nhất là với trẻ mang các căn bệnh
nghiêm trọng cần được điều trị sớm” – đại diện Làng thiếu niên Thủ Đức phản
ánh.

-

Trẻ



hoàn

cảnh

đặc



chăm

sóc

trong

môi

trường

gia

đình

phù

hợp.

Tuy nhiên, một số địa phương vẫn chưa chủ động báo cáo Cục Con nuôi danh
sách, hồ sơ những trường hợp trẻ bị khuyết tật, mắc các bệnh hiểm nghèo. Vì
vậy, thời gian tìm gia đình người nước ngoài đồng ý nhận đích danh trẻ em
khuyết tật, mắc bệnh hiểm nghèo thường bị kéo dài, ảnh hưởng đến quyền và
lợi ích của trẻ em. Cá biệt đã có trường hợp trẻ em không còn cơ hội sống đến
ngày được xác định đủ điều kiện pháp lý cho làm con nuôi nước ngoài. Trong
khi đó, thống kê của Bộ LĐ-TB&XH cho biết, cả nước hiện có khoảng 1,5 triệu
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần được chăm sóc, giúp đỡ bằng nhiều biện pháp
khác nhau, trong đó có biện pháp tìm gia đình thay thế cho trẻ em ở trong nước
và ở nước ngoài. Trong bối cảnh thực tế số lượng trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt không giảm, nhiều ý kiến phát biểu tại hội nghị cho rằng,

thách thức không nhỏ và là khó khăn mà Việt Nam phải tiếp tục phải vượt qua
để đảm bảo công tác giải quyết việc NCN được thực hiện trên tinh thần nhân
đạo, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

1.

Giải pháp hoàn thiện
Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về nuôi con nuôi có

-

yếu tố nước ngoài
Cần hoàn thiện các quy định về điều kiện nuôi con nuôi

IV.

Trước hết, cần phải quy định độ tuổi của trẻ em cho tương đồng với pháp luật
các nước và phù hợp với quy định của Công ước Lahay 1993, khi nước ta đang
trong tiên trình hội nhập. Có thể quy định độ tuổi đó là tư 18 tuổi trở xuống, bởi
vì đây là độ tuổi vị thành niên cần được sự bảo vệ, chăm sóc của toàn xã hội.
Thực tế cho thấy, việc nhận con nuôi chỉ hợp lý, cần thiết và có ý nghĩa nhân
đạo khi người được nhận làm con nuôi là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khan
18


Bài tập cá nhân Tư pháp quốc tế- Nguyễn Thị Tuyết Mai- Lớp K1D

không cso sự chăm sóc của cha mẹ đẻ. Vì vậy bên cạnh quy đinh về độ tuoir,
pháp luật cẫn có những quy didhj cụ thể hơn về hoàn cảnh người được cho làm
con nuôi. Điều này xuất phát từ phong tục tập quán, phù hợp với quy dịnh

không có quyenf và nghĩa vụ kể cả thừa kế theo pháp luật. Tuy nhiên, việc nhận

19


Bài tập cá nhân Tư pháp quốc tế- Nguyễn Thị Tuyết Mai- Lớp K1D

nuôi con nuôi vẫn có thể chấm dứt khi quyền lợi ích của người con nuôi bị xâm
phạm nghiêm trọng.
-Về thời điểm người mẹ được cho trẻ em làm con nuôi
Công ước Lahay 1993 quy định:” Người mẹ chỉ có thể đồng ý cho trẻ em làm
con nuôi sau khi đứa trẻ ra đời”. Việt Nam cũng cần quy đĩnh rõ thời điểm nào
thì người mẹ bắt đầu có quyền được cho trẻ em làm con nuôi, sao cho phù hợp
với công ước Lahay và dễ dàng trong việc áp dụng pháp luật.
2.

Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Cần tạo ra sự gắn kết/liên thông giữa nuôi con nuôi trong nước và nuôi con
nuôi quốc tế, trong đó ưu tiên tìm mái ấm gia đình trong nước cho trẻ em; việc
cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài chỉ được coi là giải pháp thay thế cuối
cùng, khi không thể tìm được mái ấm gia đình trong nước cho trẻ em. Muốn
vậy, cần tăng cường hơn nữa công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật,
đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong nhân dân
nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vấn đề nuôi con nuôi trong nước,
từ đó hướng đến mục tiêu bảo vệ, chăm sóc trẻ em.
Hoàn thiện cơ chế minh bạch về thủ tục, trình tự giải quyết việc nuôi con
nuôi, nhất là sự minh bạch về các vấn đề tài chính có liên quan đến nuôi con
nuôi quốc tế để có thể kiểm soát được từ trung ương xuống địa phương, chống
sự lạm dụng vì mục đích vụ lợi.

khắc phục những khó khăn bất cập trong vấn đề nuôi con nuôi, nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài, để càng ngày, càng có nhiều những đứa trẻ được nhận nuôi
và chăm sóc, sẽ không còn những đứa trẻ mồ côi phải sống như những mảnh
đời bất hạnh.
Do nhận thức còn hạn chế, trong bài viết khó tránh khỏi những sai sót, mong
thầy cô góp ý để bài viết của em được hoàn thiện, em xin chân thành cám ơn.

21


Bài tập cá nhân Tư pháp quốc tế- Nguyễn Thị Tuyết Mai- Lớp K1D

Danh mục tài liệu tham khảo
Công ước Lahay 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con
nuôi quốc tế.
2 Bộ luật Dân sự năm 2015
3 Luật nuôi con nuôi năm 2010
4 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
5 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21/3/2011 về Quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật nuôi con nuôi
6 TS. Nguyễn Phương Lan, Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi theo Luật
nuôi con nuôi Việt Nam, Tạp chí Luật học số 10/2011, năm 2011, trang từ 20
– 29
7 Lưu Thị Phượng, Luận văn "Thực hiện công ước lahay và vấn đề nuôi con
nuôi có yếu tố nc ngoài ở Việt Nam”
8 TS. Bùi Xuân Nhự, Giáo trình tư pháp quốc tế, Trường Đại học Luật Hà
Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội – 2013
9 />
de-con-nuoi-co-yeu-to-nuoc-ngoai-3933


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status