“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
PHẦN GIỚI THIỆU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu của quá trình sản xuất kinh doanh. Vì
vậy, việc đảm bảo đủ số lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là việc làm
rất quan trọng trong mỗi cơ quan, tổ chức. Việt Nam được thế giới đánh giá là có lợi
thế về dân số đông, đang trong thời kỳ “dân số vàng” nên lực lượng trong độ tuổi
lao động khá dồi dào. Đây là nguồn lực vô cùng quan trọng để đất nước ta thực hiện
thành công Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020 đã được Đại
hội Đảng XI thông qua ngày 16/2/2011.
Đối với Việt Nam, khi làm chiến lược phát triển kinh tế thường không song
hành với chiến lược phát triển nhân lực. Đây là một hạn chế lớn, ảnh hưởng đến phát
triển nguồn nhân lực nước ta. Và hệ quả của cách làm này cho thấy, dù chi tiêu cho
giáo dục chiếm tỷ trọng lớn của GDP nhưng nguồn nhân lực vẫn không có bước đột
phá, các chiến lược phát triển kinh tế không có đủ nguồn nhân lực cần thiết để thực
hiện. Theo Phó giáo sư – Tiến Sĩ Đức Vượng (Viện trưởng Viện Khoa học nghiên
cứu nhân tài - nhân lực Việt Nam) đã khẳng định “nếu không làm tốt vấn đề tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước, thì khó lòng đạt được mục tiêu đến
năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.
Hiện nay, Đồng bằng Sông Cửu Long có khoảng 85.000 cơ sở sản xuất, khu
công nghiệp, thu hút 300.000 lao động làm việc. Tuy nhiên, toàn vùng chỉ giải quyết
được việc làm cho khoản 170.000 người. Theo tiến sĩ Bùi Thị Thanh (Trường Đại
học Kinh Tế Thành phố Hồ Chí Minh) nhận định: “Môi trường làm việc, chính sách
đãi ngộ để thu hút nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân tài của Đồng bằng Sông Cửu
Long, chậm cải thiện, chưa đủ mạnh và thiếu đồng bộ giữa các địa phương nên
không tạo ra các điều kiện cần thiết kích thích phát triển và thu hút nguồn nhân lực.
Điều đó dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám sang các vùng khác như Thành phố
Hồ Chí Minh, các tỉnh Đông Nam Bộ”.
Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của những vấn đề trên nên việc
Phân tích “Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu
Do thực hiện trong thời gian ngắn, nên đề tài chỉ tập trung vào việc phân tích
thực trạng nguồn nhân lực tại Đồng bằng Sông Cửu Long.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
Do hạn chế về thời gian nên đề tài không sử dụng số liệu sơ cấp mà chỉ sử
dụng số liệu thứ cấp. Các số liệu thứ cấp này được thu thập trên Internet, các trang
web, các bài báo và tạp chí chuyên ngành,…
4.2. Phương pháp phân tích
GVHD: Th.S. Phạm Lê Hồng Nhung
2
SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
Dùng phương pháp thống kê và mô tả để biết được thực trạng nguồn nhân lực
Việt Nam nói chung và thực trạng nguồn nhân lực tại Đồng bằng Sông Cửu Long
nói riêng.
Từ mô tả và phân tích trên sử dụng phương pháp suy luận để đề ra các giải
pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác thu hút nguồn nhân lực có trình độ,
góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Đồng bằng Sông Cửu Long.
GVHD: Th.S. Phạm Lê Hồng Nhung
3
SVTH: Thạch Kim Khánh
gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân. Như vậy, ở đây nguồn
lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn
tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
Nguồn nhân lực được xem xét trên giác độ số lượng và chất lượng. Số lượng
nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân
lực. Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân
GVHD: Th.S. Phạm Lê Hồng Nhung
4
SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
số. Quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng cao thì dẫn đến quy mô và tốc
độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngược lại. Tuy nhiên, mối quan hệ dân số và
nguồn nhân lực được biểu hiện sau một thời gian nhất định (vì đến lúc đó con người
muốn phát triển đầy đủ, mới có khả năng lao động).
Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một “tài nguyên đặc biệt”, một
nguồn lực của sự phát triển kinh tế. Bởi vậy việc phát triển con người, phát triển
Nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển
các nguồn lực. Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho
sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia. Đầu tư cho con người là đầu tư có tinh
chiến lược , là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững.
Phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia: chính là sự biến đổi về số lượng
và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh
thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực . Nói
một cách khái quát nhất, phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử
dụng năng lực toàn diện con người vì sự tiến bộ kinh tế- xã hội và sự hoàn thiện bản
Trong thế giới hiện đại, khi chuyển dần sang nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri
thức và trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt
là nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng thể hiện vai trò quyết định của nó. Các
lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh
và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát
triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong đó động
lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là những con người,
đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, tức là những con người được đầu tư phát
triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo nhằm trở
thành “nguồn vốn - vốn con người, vốn nhân lực”. Bởi trong bối cảnh thế giới có
nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, phần thắng sẽ thuộc về những người có
năng lực thực sự.
1.3. VAI TRÒ CỦA NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO ĐỐI VỚI SỰ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Mối quan hệ giữa nguồn lao động với phát triển kinh tế thì nguồn lao động
luôn luôn đóng vai trò quyết định đối với mọi hoạt động kinh tế trong các nguồn lực
để phát triển kinh tế.
Theo nhà kinh tế người Anh , William Petty cho rằng lao động là cha, đất đai
là mẹ của mọi của cải vật chất; Các-Mác cho rằng con người là yếu tố số một của
lực lượng sản xuất. Trong truyền thống Việt Nam xác định “Hiền tài là nguyên khí
của quốc gia”. Nhà tương lai Mỹ Avill Toffer nhấn mạnh vai trò của lao động tri
thức, theo ông ta “Tiền bạc tiêu mãi cũng hết, quyền lực rồi sẽ mất; Chỉ có trí tuệ
của con người thì khi sử dụng không những không mất đi mà còn lớn lên”.
Thứ nhất là, nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn lực chính quyết định quá
trình tăng trưởng và phát triển kinh tế- xã hội. Nguồn nhân lực, nguồn lao động là
nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác.
Giữa nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa
học công nghệ,… có mối quan hệ nhân quả với nhau, nhưng trong đó nguồn nhân
lực được xem là năng lực nội sinh chi phối quá trình phát triển kinh tế - xã hội của
mỗi quốc gia. So với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trí
thức trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, do đó yêu cầu nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, nhất là trí lực có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và phát triển bền vững. Đảng ta đã
xác định phải lấy việc phát huy chất lượng nguồn nhân lực làm yếu tố cơ bản cho sự
phát triển nhanh và bền vững.
Thứ ba là, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để rút ngắn khoảng cách
tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước nhằm phát triển bền vững.
Thứ tư là, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt là
nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức lớn.
GVHD: Th.S. Phạm Lê Hồng Nhung
7
SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
Chương 2
THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CÓ TRÌNH ĐỘ CAO
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
2.1. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ CAO Ở VIỆT NAM
2.1.1 Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam
Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, dân số Việt Nam vào năm 2010 là 86,82
triệu người. Đến năm 2011, dân số nước ta tăng thêm 1,06% so với năm 2010, đạt
87,84 triệu người. Dân số trung bình cả nước năm 2012 ước tính 88,78 triệu người,
60,42
87,84
43,44
44,40
87,84
27,89
59,95
88,78
43,92
44,86
88,78
28,81
59,97
0,91
0,45
0,46
0,91
1,38
-0,47
Tỷ lệ %
1,05
1,05
1,05
1,05
5,21
-0,78
8
SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
năm 2012. Dân số khu vực thành thị tăng 3,30% so với năm 2011, đạt mức 28,81
triệu người. Dân số khu vực nông thôn cũng tăng thêm nhưng với tỷ lệ thấp là
0,03% so với năm 2011 và đạt 59,97 triệu người
Theo tính toán của Quỹ Dân số Liên hiệp quốc, đến giữa thế kỷ XXI, dân số
Việt Nam (VN) có thể đạt ngưỡng 100 triệu người [10, Tr 1]. Ngân hàng thế giới
(WB) đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay đạt 3,79 điểm
(thang điểm 10), xếp thứ 11 trong số 12 nước ở châu Á tham gia xếp hạng.
Chỉ số cạnh tranh nguồn nhân lực VN đạt 3,39/10 điểm và năng lực cạnh tranh
của nền kinh tế VN xếp thứ 73/133 nước được xếp hạng [10, Tr1]. Tuổi thọ trung
bình của người VN hiện nay là 75 tuổi.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên và lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm
việc có xu hướng tăng qua các năm. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2011
là 51,40 triệu người, tăng 1,96% so với năm 2010. Trong năm 2012, lực lượng lao
động từ 15 tuổi trở lên đã tăng thêm 1,18 triệu người, tương đương 2,30%, đẩy con
số này lên 52,58 triệu người.
Bảng 2. LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010-2012
ĐVT: Triệu người
Chênh lệch
Lực lượng
lao động
Năm
2010
1,96
1,18
2,30
Lao động từ 15 tuổi
trở lên đang làm việc
49,05
50,34
51,69
1,29
2,63
1,35
2,68
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
Tương tự, lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2011 là 50,34 triệu
người, tăng 2,63% so với năm 2010. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2012
là 51,69 triệu người, tăng 2,26% so với năm 2011.
Cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc biến động với tỷ lệ thấp. Xét
theo thành phần kinh tế, lực lượng lao động khu vực ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng
2010
100,00
10,42
86,06
3,53
100,00
49,50
20,96
29,54
ĐVT: %
2011
2012
100,00 100,00
10,43
10,39
86,20
86,30
3,38
3,31
100,00 100,00
48,39
47,49
21,28
21,11
30,33
31,40
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
khu vực thành thị.
Bảng 4. TỶ LỆ LAO ĐỘNG THẤT NGHIỆP VÀ THIẾU VIỆC LÀM
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010-2012
Năm
Tỷ lệ lao động thất nghiệp
Thành thị
Nông thôn
Tỷ lệ lao động thếu việc làm
Thành thị
Nông thôn
2010
2,88
4,29
2,30
3,57
1,82
4,26
Ở
ĐVT: %
2011
2012
2,27
1,99
3,60
3,25
1,71
SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
công ty mới. Việc giữ chân nhân viên giỏi đang là một vấn đề nhức nhối đối với
nhiều doanh nghiệp, nhất là những ngành yêu cầu trình độ cao.
Xuất phát từ ước mơ thoát nghèo, lao động kĩ thuật cao thường có xu hướng
học tập và làm việc ở môi trường được kỳ vọng là thuận lợi nhất. Từ đó, hiện tượng
chảy máu chất xám ở các nước nghèo và đang phát triển lại càng đáng quan ngại
hơn.
Theo thống kê của Trang Di cư (Bộ Ngoại giao VN) [25, Tr 1] thì cộng đồng
Việt ở nước ngoài đã tăng hơn 4 triệu người, đang học tập, sinh sống và làm việc
trên 103 quốc gia và vùng lãnh thổ. Nếu chỉ nhìn trong ngắn hạn thì điều này đồng
nghĩa với lượng chất xám đang thất thoát ngày càng nhiều. Số liệu thống kê ước tính
có khoảng 400.000 trí thức, trong đó có 25% du học sinh VN đang học tập, sinh
sống tại xứ người. Khảo sát năm 2010 của Viện giáo dục quốc tế IIE thì có đến 6070% du học sinh có ý định ở lại học tập và công tác ở nước ngoài. Đáng lo hơn là số
học sinh du học tự túc chiếm đến 90% tổng số lượng thống kê.
Đề án đào tạo cán bộ tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước (đề án
322) được hình thành từ năm 2000 với mục tiêu là đào tạo cán bộ tại những cơ sở
giáo dục nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước với những ngành mà VN thiếu hoặc
chất lượng chưa đạt chuẩn quốc tế. Đây là đề án được kỳ vọng rất lớn từ phía chính
phủ, nhân dân lẫn người học. Đề án 322 là một chương trình nhận được nguồn kinh
phí rất lớn trong điều kiện đất nước còn nghèo, kéo dài trong một thập kỷ. Theo ông
Nguyễn Xuân Vang, cục trưởng Cục Đào tạo nước ngoài - Bộ GD-ĐT, cho biết kinh
phí đã chi cho việc đào tạo từ năm 2.000 - 2010 là trên 2.500 tỉ đồng, trung bình mỗi
năm chi 228,5 tỉ đồng.
Trong mười năm hoạt động của Ðề án 322, có 7.129 ứng viên trúng tuyển đã
được gửi đi đào tạo ở các cơ sở giáo dục tiên tiến tại nhiều nước trên thế giới, trong
trước mắt, họ vẫn có thể có những đóng góp quan trọng cho Tổ quốc. Nhưng nếu
một nhà khoa học không vượt qua được thì rất nhiều khả năng giới khoa học sẽ mất
đi một nhà khoa học chỉ sau một khoảng thời gian không tham gia nghiên cứu.
Đánh giá về chính sách thu hút, trọng dụng, đãi ngộ cán bộ khoa học và công
nghệ trong các trường đại học (ĐH), Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn
Quân nhận định: “VN đang rất lãng phí nguồn lực chất xám ở các trường ĐH, nơi
tập trung rất đông nguồn nhân lực trình độ cao với nhiều giáo sư, phó giáo sư, tiến
sĩ” [12, Tr 1].
2.1.3. Hoạt động động đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
Theo Bộ Giáo dục và đào tạo năm học 1999-2000, cả nước có 153 trường ĐH
và cao đẳng (ĐH là 69, cao đẳng là 84), năm học 2004-2005 số trường là 230 (93
trường ĐH, 137 trường cao đẳng), năm học 2011-2012, số trường ĐH và cao đẳng
(CĐ) là 419 (ĐH là 204 trường, số trường CĐ là 215). Như vậy, so với năm học
1999-2000 thì số trường ĐH và cao đẳng tính đến năm học 2011-2012 đã tăng thêm
hơn 2,7 lần. Việc tăng thêm các trường ĐH và CĐ để đáp ứng nhu cầu học tập của
xã hội, góp phần đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước là cần thiết. Song việc mở ồ ạt các trường trong điều kiện cơ sở vật
chất thiếu thốn, đội ngũ giáo viên chưa đủ, đồng thời một cơ chế quản lý lỏng lẻo,
nhiều bất cập thì lại trở thành một điều đáng lo ngại đối với giáo dục nước ta.
Bảng 5. SỐ LƯỢNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG
VÀ SINH VIÊN ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG QUA CÁC NĂM HỌC
Bậc học
Năm học
Hệ cao đẳng
Trường
Sinh viên
GVHD: Th.S. Phạm Lê Hồng Nhung
893.750
2004 – 2005
137
273.460
93
1.046.291
230
1.319.754
2009 – 2010
230
576.880
173
1.358.861
403
1.935.739
(Nguồn: Bộ giáo dục và Đào tạo)
Nếu như số lượng sinh viên vào năm học 1999-200 là 893.754 sinh viên thì
đến năm học 2011-2012 là 2.204.313 sinh viên tăng 1,6 lần. Quy chuẩn về cơ cấu
trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động khu vực châu Á hiện nay là: 1 đại học/4
cao đẳng/10 trung cấp [27, Tr 1] nhưng đối với VN thì con số này là ngược lại. Số
trường ĐH năm 2012 là 204 trường với 1.448.201 sinh viên, trong khi số CĐ chỉ là
215 trường với 756.292 sinh viên. Thay vì 1 đại học/4 CĐ thì chúng ta đã làm ngược
lại: 2 đại học/1 cao đẳng. Cơ cấu ngành nghề đào tạo cũng đang gặp vấn đề: đào tạo
công nhân kỹ thuật còn chiếm tỷ trọng thấp; nhân lực được đào tạo các ngành kỹ
thuật - công nghệ, nông - lâm - ngư chiếm tỷ trọng thấp, còn tỷ trọng các ngành xã
hội, luật, kinh tế, ngoại ngữ lại quá cao, thiếu nhiều công nhân kỹ thuật lành nghề,
trước hết là trong các ngành trọng điểm (cơ khí, điện tử - kỹ thuật điện, hóa chất...).
Trung tâm Nghiên cứu và Phân tích chính sách thuộc Trường ĐH Khoa học Xã
hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia Hà Nội) tổ chức một cuộc khảo sát với quy mô gần
3.000 cựu sinh viên thuộc năm khóa khác nhau (ra trường từ năm 2006-2010) của ba
ĐH: ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và ĐH Huế, đã
cho thấy những con số báo động. Có đến 26,2% cử nhân cho biết chưa tìm được
việc làm, dù khái niệm việc làm ở đây được hiểu rất rộng là bất cứ công việc gì tạo
ra thu nhập, không nhất thiết phải đúng với trình độ, chuyên ngành đào tạo. Trong số
này, 46,5% cho biết đã đi xin việc nhưng không thành công. 42% lựa chọn một giải
pháp an toàn là tiếp tục học lên hoặc học thêm một chuyên ngành khác. Thậm chí,
có 27% cử nhân được hỏi cho biết, họ rất khó kiếm việc làm do ngành học của mình
không phù hợp với thị trường. Số người rơi vào cảnh nhà tuyển dụng không hiểu về
ngành học cũng chiếm tới 18%. Do đây là khảo sát được thực hiện tại các ĐH quốc
gia, ĐH vùng - những ĐH “đầu tàu” của VN nên thực trạng này ở các trường ĐH
khác có lẽ cũng không khả quan hơn [15, Tr 1].
Theo bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào Tạo Phạm Vũ Luận thì “so với nhu cầu
hiện đại hóa đất nước, chất lượng giáo dục ĐH còn yếu kém. Chính vì vậy Đảng ra
trong năm đó, chỉ riêng các nhà nghiên cứu của Trường ĐH Phúc Đán ở Thượng Hải
đã đăng được 2.286 bài trên các tạp chí quốc tế.
Theo thống kê Viện thông tin khoa học (ISI), trong giai đoạn 1996-2011 Việt
Nam mới có 13.172 ấn phẩm khoa học công bố trên các tập san quốc tế có bình
duyệt, bằng khoảng một phần năm của Thái Lan (69.637), một phần sáu của
Malaysia (75.530), và một phần mười của Singapore (126.881).
Thống kê của Bộ Khoa học – Công nghệ và các chuyên gia cho thấy trong 5
năm (2006 - 2010) cả nước chỉ có khoảng 200 bằng sáng chế, giải pháp hữu ích
được cấp tại Cục Sở hữu trí tuệ và chỉ có 5 bằng sáng chế được đăng ký tại Mỹ,
trung bình mỗi năm có một bằng sáng chế; riêng năm 2011, nước ta không có bằng
sáng chế nào được đăng ký tại đây. Trong khu vực Đông Nam Á, Singapore (4,8
triệu dân) có 647 bằng sáng chế. Đứng thứ hai là Malaysia (27,9 triệu dân) với 161
GVHD: Th.S. Phạm Lê Hồng Nhung
15
SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
bằng sáng chế; Thái Lan (68,1 triệu dân) có 53 sáng chế. Còn một nước có số dân và
trình độ phát triển tương đương nước ta là Philippines cũng có tới 27 bằng sáng chế.
Để giải thích cho tình trạng này là giảng viên VN kém ngoại ngữ. Điều này có
thể chấp nhận như một lời giải thích nhưng khó chấp nhận với thực tế hiện tại, nhất
là trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay, khi mà các hoạt đông nghiên cứu khoa học
ngày càng trở nên có tính toàn cầu trong đó tiếng Anh là ngôn ngữ giao tiếp chính.
Những nhà khoa học không có khả năng kết nối với những xu hướng toàn cầu trong
lĩnh vực của họ chắc chắn sẽ không tham gia vào các nghiên cứu có liên quan.
hành nghiên cứu là ứng dụng những thành tựu của thế giới vào điều kiện cụ thể của
VN. Những vấn đề mà chúng ta chọn làm mục tiêu nghiên cứu đối với thế giới
thường là quá cũ, có khi cũ đến hai, ba hoặc cũng có thể tới bốn chục năm. Tên đề
tài thường chung chung, không có giới hạn cụ thể [28, Tr 1]. Tỷ lệ kết quả nghiên
cứu được ứng dụng vào sản xuất có lẽ chỉ khoảng vài ba phần trăm. Đề cương
nghiên cứu của đề tài thường “rộng”, nhiều nội dung nhưng kết quả đạt được thì quá
khiêm tốn, lặp đi lặp lại, bảo vệ đạt “xuất sắc”. Tuy nhiên, ngoài việc nộp cho Bộ
Khoa học và Công Nghệ và thì đề tài không được ứng dụng. Nghiên cứu khoa học
có thể được thực hiện nhằm được tính điểm công trình để ứng cử vào các chức danh
giáo sư, phó giáo sư. Điều này gây lãng phí lớn hàng chục tỉ đồng cho ngân sách nhà
nước.
2.2. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CÓ TRÌNH ĐỘ CAO Ở ĐỒNG
BẰNG SÔNG CỬU LONG
2.2.1. Giới thiệu khái quát Đồng bằng Sông Cửu Long
Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) có diện tích đất tự nhiên là 39.653,2
Km (chiếm 12,50% diện tích đất tự nhiên của cả nước, gồm 13 tỉnh, thành phố:
Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Thành phố Cần
Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau. Đây là
vùng sinh thái, là đồng bằng châu thổ lớn nhất VN, là châu thổ rộng và phì nhiêu ở
Đông Nam Á và thế giới. Đất canh tác hầu hết là đất phù sa, được tưới tiêu bằng hệ
thống sông ngòi, kênh mương chằng chịt do thiên nhiên ban tặng và được xây dựng
qua nhiều thế hệ. Do vậy, ĐBSCL là vùng đất có nhiều tiềm năng về sản xuất nông
nghiệp.
2
ĐBSCL có bờ biển dài trên 700 Km2 và khoảng 360.000 Km2 lãnh hải, là
vùng đặc quyền kinh tế giáp biển Đông và vịnh Thái Lan, do đó rất thuận lợi cho
phát triển kinh tế biển, khai thác, nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, nước lợ, du lịch và
vận tải biển.
Bảng 6. SỰ GIA TĂNG NGUỒN NHÂN LỰC
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
ĐVT: Nghìn người
Chênh lệch
Lực lượng
lao động
Năm
2010
Năm
2011
Năm
2012
2011-2010
+/-
Tỷ
lệ %
2012-2011
+/-
Tỷ
lệ %
Lực lượng lao
động từ 15
Xét theo ngành kinh tế, do có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nến tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng lên và
ngành nông nghiệp giảm xuống. Cụ thể từ năm 2001 đến năm 2011 tỷ trọng khu vực
Nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 65,89% xuống còn 51,72%, giảm bình quân
1,42%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 10,57% lên 16,82%, tức tăng bình
quân 0,63%/năm. Khu vực dịch vụ tăng từ 23,5% lên 31,5%, tức tăng bình quân
0,76%/năm. Tuy nhiên, năm 2012 lại có xu hướng ngược lại do tình hình kinh tế
khó khăn, thị trường bất động sản bị ứ động.
Bảng 7: CƠ CẤU LAO ĐỘNG TỪ 15 TUỔI TRỞ LÊN
THEO NGÀNH KINH TẾ
ĐVT: %
Năm
Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Công nghiệp và xây dựng
Dịch vụ
Tổng
2001
2009
2010
2011
65,89 54,54 52,61 51,72
10,57 16,63 17,24 16,82
23,54 28,83 30,15 31,16
100,00 100,00 100,00 100,00
T9-2012
52,30
16,53
2010
27,58
ĐVT: %
2011
29,34
SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
Nông thôn
Tổng
82,84
100,00
75,17
100,00
72,08
100,00
72,42
100,00
70,66
100,00
của vùng rất thất, chỉ đạt 7,82% vào năm 2008 và đạt 8,57% vào năm 2011. Con số
này thấp nhất trong 07 vùng kinh tế của VN và thấp hơn nhiều so với bình quân cả
nước (14,31% vào năm 2008 và 15,41% vào năm 2011). Dù đã được cải thiện
nhưng nếu so với vùng Đông Nam Bộ thì tỷ lệ lao động được đào tạo chuyên môn
kỹ thuật của vùng Đông Nam Bộ gấp xấp xỉ 3 lần so với ĐBSCL .
Lực lượng lao động có trình độ cao đẳng, ĐH của ĐBSCL chỉ chiếm 4,39%
trong tổng lực lượng lao động, nhỏ hơn rất nhiều so với trung bình chung của cả
nước là 7,90%. Tương tự thì lực lượng lao động được dạy nghề và trung cấp chuyên
nghiệp cũng gần bằng phân nữa so với cả nước. Vì vậy, mà ĐBSCL vẫn được xem
là vùng trũng giáo dục của VN. Và tỷ lệ này cần được cải thiện hơn nữa trong tương
lai. Đặc biệt, ở lĩnh vực nông thôn, tỷ lệ lao động chưa đào tạo hơn 94% cao nhất cả
nước và cao hơn trung bình chung cả nước 3,43%, đây là hậu quả của việc người
dân không chú trọng đến việc đưa con cái đi học, muốn con ở nhà làm ruộng, cày
bừa vì họ cho rằng làm nghề nông không cần phải học. Tỷ lệ lao động có trình độ
ĐH trở lên thường tập trung ở thành thị, con số này gấp bốn lần so với nông thôn, vì
ở thành thị có điều kiện để phát triển cho bản thân những người có trình độ.
GVHD: Th.S. Phạm Lê Hồng Nhung
20
SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
Bảng 10. CƠ CẤU LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG THEO TRÌNH ĐỘ
CHUYÊN MÔN CỦA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG NĂM 2011
Không có trình độ
4,25
5,81
1,82
2,92
8,43 15,42
100,00 100,00
ĐVT: %
Nông Thôn
Cả
ĐB
SCL
Nước
94,26 90,83
1,23
2,88
1,85
2,81
0,79
1,31
1,87
2,17
100,00 100,00
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
Về đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở cấp tỉnh, huyện trong vùng, thì 70% có trình độ
ĐH, hai phần ba trong số họ có bằng cử nhân luật, kinh tế chính trị; một phần ba còn
lại là cử nhân chuyên ngành kinh tế và kỹ thuật. Phần lớn cán bộ quản lý được đào
tạo trong cơ chế cũ, nên một bộ phận không nhỏ còn xa lạ và thiếu hiểu biết về kinh
Nhiệm vụ của giáo dục nói chung là đào tạo con người là mở mang và nâng
cao dân trí, trong đó giáo dục ĐH đóng vai trò rất quan trọng, có thể nói một cách
khẳng định rằng, cả bề mặt và chiều sâu của một nền giáo dục được thể hiện qua nền
giáo dục ĐH. Tiến sĩ Võ Hùng Dũng, Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp
VN (VCCI) chi nhánh Cần Thơ khẳng định: “Yếu kém về học vấn và đào tạo
chuyên môn được xem là điểm yếu, ảnh hưởng rất lớn tới phát triển kinh tế xã hội
của khu vực ĐBSCL”.
ĐBSCL là vùng đất trù phú, là vựa lúa của cả nước, nhưng nói đến Giáo dục –
đào tạo, thì nơi đây còn nhiều yếu kém. Người ta ví nơi đây giàu lương thực nhưng
nghèo con chữ là vì vậy. Ðể giáo dục ĐBSCL phát triển, tiến bước cùng các vùng
khác trong cả nước, xứng tầm yêu cầu nhiệm vụ, Chính phủ, các ngành, các cấp đã
vào cuộc, có những giải pháp quyết liệt. Ngân sách các tỉnh ĐBSCL dành cho giáo
dục cũng tăng từ 13% lên 18%/năm. Nhiều giải pháp phấn đấu để đạt mục tiêu đến
năm 2015 đưa tỷ lệ lao động được đào tạo lên 40% với 445.000 người/năm; đưa số
trường CĐ nghề và trung cấp nghề lên 57 trường; nâng tỷ lệ 190 sinh viên/10.000
dân; nâng cấp, lập mới 10 - 12 trường ĐH, 11 trường CĐ.
Hiện tại, ĐBSCL có 12 trường ĐH, một phân hiệu trường ĐH và 27 trường
CĐ. Việc xã hội hoá giáo dục với nhiều trường ĐH, CĐ ngoài công lập luôn được
chú trọng, đi đầu là ĐH Cửu Long, ĐH Tây Đô,… Trong tương lai là ĐH Kinh tế
Hàng hải, ĐH Đồng Bằng Sông Cửu Long, ĐH Mê Kông. Trước mắt là chung tay
đào tạo nguồn nhân lực trình độ ĐH có chất lượng theo nhu cầu xã hội vùng ĐBSCL
tầm nhìn đến năm 2020.
Ngành nghề ưu tiên đào tạo là giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, điều dưỡng,
cán bộ y tế cộng đồng, y tế dự phòng, bác sỹ, dược sỹ. Trong lĩnh vực nông nghiệp,
ưu tiên đào tạo ngành công nghệ sau thu hoạch, nuôi trồng, khai thác và chế biến
thủy hải sản; thủy lợi, động lực và cơ khí nông nghiệp, tài nguyên môi trường. Trong
lĩnh vực công nghiệp - xây dựng, ưu tiên đào tạo các ngành cơ khí chế tạo, sửa chữa,
điện, điện tử viễn thông, công nghệ thông tin, xây dựng cầu đường, kiến trúc, xây
dựng dân dụng và công nghiệp, giao thông vận tải. Trong ngành kinh tế, ưu tiên đào
tạo về quản trị kinh doanh, kinh tế phát triển, quy hoạch, kế hoạch, tái chính, ngân
cao khi được tuyển dụng và làm việc tại các ngân hàng và doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh [4, Tr 278].
Khi thực hiện so sánh giữa yêu cầu/nhu cầu về chất lượng đào tạo của doanh
nghiệp và thực tế chất lượng sinh viên được đánh giá bởi doanh nghiệp trong khu
vực để đo lường mức độ đáp ứng chất lượng đào tạo nguồn nhân lức ĐBSCL. Theo
tác giả Quang Minh Nhật và cộng sự, tuy có chút ít sự cách biệt giữa yêu cầu và
thực tế đáp ứng về chất lượng, nhưng sinh viên tốt nghiệp từ các trường ĐH trong
khu vực đã đáp ứng tương đối cao những yêu cầu của doanh nghiệp và xã hội. Nhìn
chung chất lượng đào tạo được đánh giá khá tốt và đáp ứng được những yêu cầu
trong công việc thực tiễn [4, Tr 279].
2.2.4. Nhu cầu nguồn nhân lực có trình độ ở một số lĩnh vực trong tương lai
2.2.4.1. Nhu cầu nguồn nhân lực lĩnh vực thuỷ sản
Ngành thủy sản đóng vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế nước ta, đặc
biệt trong tiến trình phát triển và hội nhập với kinh tế thế giới. ĐBSCL là một vùng
kinh tế quan trọng của Việt Nam. Đồng bằng này được xem như là vùng có những
GVHD: Th.S. Phạm Lê Hồng Nhung
23
SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
điều kiện thuận lợi cho phát triển thủy sản nhờ vào tiềm năng diện tích mặt nước
biển, ven biển và nội đồng rất lớn cũng như các điều kiện khác về tự nhiên và kinh
tế - xã hội.
Vai trò quan trọng và tiềm năng to lớn của ngành thủy sản ở ĐBSCL không
những chỉ thể hiện ở diện tích mặt nước biển lớn mà còn cả ở nhiều loại hình diện
tích mặt nước ven biển và nội đồng rất phong phú. Nhu cầu cho phát triển của vùng
24
SVTH: Thạch Kim Khánh
“Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long”
Theo Quyết định 153/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì đến năm 2010,
ĐBSCL phải đạt tỉ lệ 7 bác sĩ/10.000 dân và 01 dược sĩ đại học/10.000 dân. Tuy
nhiên, đến thời điểm này, toàn vùng chỉ mới đạt 5,27 bác sĩ/10.000 dân và 0,73 dược
sĩ đại học/10.000 dân, đáp ứng chỉ mới được khoảng gần 75% số bác sĩ, dược sĩ
phục vụ nhu cầu điều trị, chăm sóc sức khỏe cho người dân. Thành phố Cần Thơ là
địa phương duy nhất của vùng đạt 7 bác sĩ/10.000 dân, kế đến là cà mau với 6,26
bác sĩ. Tỷ lệ thấp nhất là tại Sóc Trăng chỉ có 3,7 bác sĩ/10.000 dân; tiếp đến là Hậu
Giang 4,05 bác sĩ/10.000 dân. Ở Kiên Giang, nhiều xã đảo, huyện đảo đang rất thiếu
bác sĩ, có khu vực hoàn toàn không có bác sĩ.
Trước nhu cầu chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh của người dân ngày
càng nâng cao, việc thiếu bác sĩ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và thái độ phục
vụ. So với tiêu chuẩn thì hiện tại ĐBSCL còn thiếu 3.048 bác sĩ và 655 dược sĩ trong
hệ thống y tế công lập và ngoài công lập. Các tỉnh thiếu bác sĩ nhiều nhất là An
Giang với 508 bác sĩ, Sóc Trăng 458 bác sĩ, Tiền Giang 363 bác sĩ [18, Tr 1].
GVHD: Th.S. Phạm Lê Hồng Nhung
25
SVTH: Thạch Kim Khánh