BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT
NGUYỄN HUỲNH HOA
THỰC TRẠNG PHÂN BỐ VÀ KHAI THÁC
KHOÁNG SÉT Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Luận văn tốt nghiệp
Ngành: KHOA HỌ C ĐẤT
Cần Thơ - 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SHƯD
-----o0o-----
Luận văn tốt nghiệp
Ngành: KHOA HỌC ĐẤT
Tên đề tài:
THỰC TRẠNG PHÂN BỐ VÀ KHAI THÁC
KHOÁNG SÉT Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Giáo viên hướng dẫn:
PGS.TS. Võ Quang Minh
Lý lịch cá nhân …………………………………………………………..
vii
Lời cảm tạ………………………………………………………………...
viii
Danh sách hình…………………………………………………………...
x
Danh sách bảng…………………………………………………………..
xi
Tóm lược ………………………………………………………………
xii
Chữ viết tắt …………………………………………………………………...xiv
MỞ ĐẦU ………………………………………………………………….. 1
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU ………………………………… 2
1.1 Đánh giá tổng quan ………………………………………………………2
1.2 Khái niệm khoáng sét…………………………………………………… 2
1.3 Sự hình thành khoáng sét…………………………………….................. 3
1.4 Phân loại khoáng sét …………………………………………................. 4
1.5 Sử dụng khoáng sét…………………………………………. .................. 7
1.6 Tác động của việc khai thác và sử dụng đến môi trường…….................. 13
28
3.4.6 Tỉnh Cà Mau ……………………………………………………………. 29
3.4.7 Tỉnh Long An……………………………………………………………. 30
3.5 Thực trạng khai thác:………………………………… …………………… 32
3.6 Dự báo tình hình tiêu thụ và tiềm năng khai thác tài nguyên sét……...…… 37
3.7 Những giải pháp hạn chế những tác động tiêu cực của vấn đề khai thác tài nguyên
sét đến môi trường và sản xuất nông nghiệp…………………………………. 38
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ…………………………………. 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………….. ………………..… 42
PHỤ CHƯƠNG
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học và làm việc của bản thân. Các
số liệu là do Sở Tài Nguyên và Môi Trường các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Đồng
Tháp,Trà Vinh, Long An,Cà Mau, Vĩnh Long cung cấp, kết quả trình bày trong luận
văn này là trung thực và chưa từng được công bố trước đây.
Tác giả luận văn
Nguyễn Huỳnh Hoa
iii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT
XÁC NHẬN CỦA BỘ MÔN KHOA HỌC ĐẤT
Luận văn tốt nghiệp Kỹ Sư ngành Khoa Học Đất với đề tài :
“HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ VÀ KHAI THÁC KHOÁNG SẢN SÉT
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỮU LONG”
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Huỳnh Hoa
MSSV: 3084084
Lớp: Khoa Học Đất khóa 34
( Thời gian thực hiện đề tài từ 6/2011 – 11/2011 )
Ý kiến của Bộ Môn:
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………….
Cần Thơ, ngày…... tháng…… năm…….
Trưởng Bộ Môn
v
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
I. LÝ LỊCH
Họ và tên : Nguyễn Huỳnh Hoa
Ngày sinh : 19/10/1989 , tại Thới Lai, Ô Môn, Cần Thơ
Nguyên quán: Thới Lai, Ô Môn, Thành Phố Cần Thơ
Thường trú: Vàm Hồ, An Thạnh Nam, Cù Lao Dung, Sóc Trăng
Điện thoại: 0168 25 35 377
Email:
Họ và tên Cha: Nguyễn Văn Út Hậu
Họ và tên Mẹ: Huỳnh Hồng Hảnh
II. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
Năm 1995 – 2000: học trường tiểu học An Thạnh Nam
Năm 2000 – 2004: học trường THCS An Thạnh Nam
Năm 2004 – 2007: học trường THPT An Thạnh 3
Năm 2008 – 2012: sinh viên trường Đại Học Cần Thơ
Ngành Khoa Học Đất - khóa 34 ( 2008 – 2012 ), Khoa Nông Nghiệp và
Sinh Học Ứng Dụng.
vii
LỜI CẢM TẠ
Vậy là quãng thời gian bốn năm học tập ở trường Đại học Cần Thơ đã sắp kết thúc.
Những ngày tháng qua sống dưới mái trường này trong sự chỉ bảo của thầy cô, quan
tâm của bạn bè là những ngày tháng mà em sẽ không bao giờ quên được. Chính ở máy
trường này, em đã tiếp thu được rất nhiều kiến thức bổ ích và quý báo, đó chính là
hành trang quan trọng cho cuộc sống của em sau này.
Để được như ngày hôm nay, không phải chỉ do sự nổ lực của riêng em, mà là do sự
quan tâm, giúp đỡ của rất nhiều người.
Đầu tiên, xin gởi lòng tri ân sâu sắc đến với Cha, Mẹ - người đã cho con hình hài này,
chăm sóc, dạy bảo cho con với tất cả tình yêu thương của mình.
1.1
1.2
1.3
1.4
1.5
1.6
1.7
1.8
1.9
1.10
1.11
1.12
3.1
3.2
3.3
3.4
DANH SÁCH HÌNH
Tựa hình
Tầng đất sét ở Estonia
Cấu trúc khoáng sét 1:1
Cấu trúc khoáng sét 2:1
Cấu trúc của Illite
Các lò gạch ven sông Tiền và sản phẩm gạch
Lò làm gốm và sản phẩm gốm đỏ
Hai bức tranh với giá bán 1triệu 2 và 450 ngàn
Hoa từ đất sét
Đất sét nặn cho trẻ em
Mặt nạ từ đất sét
Viên phân chậm tan và ứng dụng trồng hoa, kiểng
Biểu đồ phân bố trữ lượng sét gốm tại các mỏ sét – tỉnh Trà Vinh
3.7
Biểu đồ phân bố trữ lượng sét tại các huyện – tỉnh Kiên Giang
28
3.8
Biểu đồ phân bố trữ lượng khoáng sét tại các huyện – tỉnh Đồng
Tháp
Biểu đồ phân bố trữ lượng khoáng sét tại các điểm sét – tỉnh Cà
Mau
Biểu đồ phần trăm hiện trạng khai thác khoáng sét tỉnh Long An
Biểu đồ phân bố trữ lượng sét tại các điểm sét tỉnh Long An
Sản phẩm gốm đỏ
Sản phẩm gạch và ngói
Biểu đồ phân bố tỉ lệ cơ sở sản xuất tại các huyện – tỉnh An Giang
Sản phẩm nồi đất truyền thống
29
3.5
3.9
3.10
3.11
3.12
3.13
Tên bảng
Kết quả khảo sát nồng độ gây ô nhiểm trong khói lò
nung
Thông tin kết quả số liệu thu thập
Tổng hợp tình hình quản lý cấp phép và khai thác
TNKS sét ở các huyện thuộc tỉnh Vĩnh Long
Trang
14
19
32
xi
CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
amQ22-3
amQ22-3.2
amQ23.1
BXD
C1
C2
CEC
CP
ĐBSCL
ĐTCT
GDP
KS
mQ13.3
Khả năng trao đổi cation
Cation Exchange Capacity
Cổ phần
Đồng Bằng Sông Cửu Long
Điều tra chi tiết
Tổng sản phẩm quốc nội
Gross Domestic Product
Khảo sát
Sét phân bố trong trầm tích hệ tầng
Long Mỹ
Sét phân bố trong trầm tích hệ tầng
Hậu Giang
Nhà nước
Cấp trữ lượng dự báo tài nguyên
Cấp trữ lượng ít triển vọng về trữ
lượng và chất lượng, đáp ứng khai thác
sản xuất gạch ngói
Quyết định
Sở Tài nguyên Môi trường
Thăm dò
Trách nhiệm hữu hạn
Tài nguyên khoáng sản
Thành phố
Thủ Tướng
Thị xã
Ủy ban nhân dân
Thiết bị lưu trữ dữ liệu
Univeral Serial Bus
xii
Kết quả cho thấy trên cơ sở số liệu của Sở Tài Nguyên và Môi Trường các tỉnh, hiện
trạng khai thác sét tương đối ổn định, chủ yếu khai thác theo phương pháp thủ công
nhỏ lẻ, nhằm để cải tạo mặt bằng, sang bằng đất ruộng…, rất ít các cơ sở có quy mô
công nghiệp lớn. Việc khai thác và sản xuất đã tạo công an việc làm cho không ít
người, tăng thu nhập kinh tế cho địa phương nói riêng, cho đất nước nói chung.
Trong quá trình khai thác và sản xuất cũng có tác động ít nhiều ảnh hưởng đến môi
trường, đời sống hệ sinh vật và các hộ gia đình xung quanh nhưng các ảnh huongr
này là không đáng kể.
Tuy nhiên, trong thực tế việc khai thác và sản xuất sét gạch ngói đang diễn ra phức
tạp hơn nhiều, tình trạng các làng nghề tự phát đã gây không ít khó khăn cho các nhà
quản lý, cũng như gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống bởi khói bụi, tiếng ồn, ở
xiv
nhiều nơi chính vì việc khai thác đã làm phá vỡ cấu trúc đất, thu hẹp dần đất nông
nghiệp và còn nhiều ảnh hưởng khác đến đời sống con người.
xv
Nguyễn Huỳnh Hoa,2011. “Thực trạng phân bố và khai thác tài nguyên sét ở Đồng
Bằng Sông Cửu Long”. Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Khoa Học Đất, Khoa
Nông Nghiệp Và SHƯD, Trường Đại Học Cần Thơ.
Người hướng dần khoa học: Phó Giáo Sư, Tiến sĩ Võ Quang Minh
MỞ ĐẦU
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một bộ phận của châu thổ sông Mê
Kông gồm 13 tỉnh thành: Cà mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Hậu
Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp, Long An, tiền
ĐBSCL nằm ở vùng cực Nam củ nước Việt Nam, nằm trong vùng từ 8030’110 vĩ độ Bắc và từ 104030 ’-1070 kinh độ Đông. được giới hạn từ biên giới Việt
Nam – Campuchia ở phía Bắc, biển Đông ở phía Nam, vịnh Kiên Giang ở phía Tây
và sông Vàm Cỏ Đông ở phía Đông ( Võ Thị Thu Vân và Lê Phát Quới,2006).
- Khoáng sản:
ĐBSCL có tài nguyên khoáng sản đa dạng. Có triển vọng dầu khí trong thềm
lục địa tiếp giáp thuộc biển Đông và Vịnh Thái Lan gồm các bể trầm tích sau: bể
trầm tích Cửu Long, Nam Côn Sơn, Thổ Chu - Mã Lai. Đá vôi có trữ lượng khoảng
130 đến 440 triệu tấn. Đá Granit, Andesit có khoảng 450 triệu m3. Sét gạch ngói có
trữ lượng đến 40 triệu m3. Cát sỏi có trữ lượng đến 10 triệu m3/năm. Than bùn có
lượng 370 triệu tấn, trong đó U Minh khoảng 300 triệu tấn. Nước khoáng có ở Long
An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Sóc Trăng (Viện Chiến Lược, 2009).
1.2 Khái niệm về khoáng sét:
Khoáng sét theo khái niệm của thỗ nhưỡng là những hạt vô cơ có kích thước
từ 0,001 - 0,002 mm, tạo nên thành phần chính của cấp hạt sét trong đất (Đào Châu
Thu, 2003).
Đất sét hay sét là một thuật ngữ được dùng để miêu tả một nhóm các khoáng
vật phyllosilicat nhôm ngậm nước, thông thường có đường kính hạt nhỏ hơn 2 µm
(micromét). Đất sét bao gồm các loại khoáng chất phyllosilicat giàu các ôxít và
hiđrôxít của silic và nhôm cũng như bao gồm một lượng lớn nước tham gia vào việc
tạo cấu trúc và thay đổi theo từng loại đất sét ( />
2
Hình 1.1: Tầng đất sét ở Estonia
(Nguồn: Wikipedia, 2010)
1.3 Sự hình thành khoáng sét :
Trong quá trình hình thành đất thông qua các tiến trình phong hóa lý học,
hóa học và sinh học của đá hoặc các mẫu chất ban đầu kết quả là các khoáng
nguyên sinh trong đá bị phá hủy để hình thành nên các khoáng thứ sinh, bao gồm:
khoáng oxide, hydroxide Fe, Al như Goethite (FeOOH), Hematite (Fe 2O3), các
Điều kiện tạo khoáng trong đất từ các sản phẩm phong hoá:
- Khi trị số pH cao và sản phẩm phong hoá giàu kiềm và kiềm thổ thì chủ yếu tạo
khoáng 3 lớp, trong đó nếu giàu ion K sẽ tạo thành Illit; còn nếu giàu ion Mg thì
tạo thành Montmorillonit.
- Sự hình thành khoáng sét 3 lớp còn đòi hỏi điều kiện khí hậu khô ráo và địa hình
bằng phẳng, thấp để các chất kiềm và kiềm thổ ít bị rửa trôi, tồn tại lâu trong đất.
- Khi có sự rửa trôi mạnh các cation và axit silicic (sản phẩm phong hoá) làm cho
pH giảm xuống thì hình thành chủ yếu là khoáng 2 lớp, điển hình là Kaolinit.
- Dưới những điều kiện đặc biệt xúc tiến mạnh quá trình phong hoá và rửa trôi như
ở khí hậu ẩm, mưa nhiều hoặc đá mẹ dễ phong hoá thì có thể các axit silic bị rửa
trôi mạnh đến nỗi không còn tạo thành khoáng sét mới được mà đất sẽ giàu oxyt tự
do (oxyt và hydroxyt sắt và nhôm).
1.4 Phân loại khoáng sét :
Thành phần khoáng vật sét ở ĐBSCL theo kết quả phân tích của Lê Văn
Khoa (2000) như sau: trên 43 mẫu phân tích đất thì 50% thành phần sét là illite, 1/3
là kaolinite, 1/6 là smectite, và một phần rất nhỏ smectite biến đổi thành chloride,
không tìm thấy vermiculite. Hàm lượng illite rất ít khác biệt.
Trong các nguồn tài liệu khác nhau, người ta chia đất sét ra thành ba hay bốn
nhóm chính như sau: kaolinit, montmorillonit-smectit, illit và chlorit (nhóm cuối
cùng không phải lúc nào cũng được coi là một phần của đất sét và đôi khi được
phân loại như là một nhóm riêng, trong phạm vi phyllosilicat). Có khoảng 30 loại
đất sét 'nguyên chất' khác nhau trong các nhóm này, nhưng phần lớn đất sét 'tự
nhiên' là các hỗn hợp của các loại khác nhau này, cùng với các khoáng chất đã
phong hóa khác ( />
4
Từ các tài liệu khoa học cũng như giáo trình khoáng sét học khác nhau thì
khoáng sét chủ yếu được chia ra làm các loại sau. (Nguyễn Mỹ Hoa, 2009)
Khoáng sét 1:1
Các lá sét thuộc nhóm này có thể trương nở khi ướt do các phân tử nước có
thể xâm nhập vào giữa các lá sét làm các lá sét bị tách rời ra do đó có thể trương nở.
Khoáng sét chủ yếu trong nhóm này là: Montmorillonite. Ngoài ra còn có khoáng
beidelite, nontronite, sapronite.
Trong khoáng 2:1, lớp Si kết hợp với lớp Al bởi cầu nối 0-0 và giữa các
phiến sét ( 1 lá sét gồm 2 lớp Si kẹp 1 lớp Al ở giữa) kết hợp với nhau bằng các cầu
nối O-O yếu. các cation và phân tử hấp thụ ở mặt trong giữa các lá sét làm cho sét
2:1 có thể trương nở. Sự thay thế đồng hình khác chất ( isomorphous substitution)
và một ít ở lớp tứ diện Si làm cho nhóm smectite tích điện âm lớn và do đó có CEC
cao, 20-30 lần cao hơn nhóm Kaolinite.
Nhóm khoáng trương nở có giới hạn ( chủ yếu là Vermiculite):
Trong nhóm này lớp bát diện chiếm chủ yếu là Al ( dioctahedral). Sự thay
thế đồng hình khác chất xảy ra nhiều ở lớp bát diện và tứ diện do đó có CEC cao
nhất, cao hơn cả nhóm Montmorillonite. Ở mặt trong các lá sét, ion Mg2+ thường
được hấp phụ chủ yếu ngoài ra còn coa các phân tử nước, nhưng trong trường hợp
này chúng có tác dụng như một cầu nối giữa các lá sét hơn là làm chúng tách xa
nhau do đó khoáng Vermiculite trương nở giới hạn.
6
Nhóm khoáng không trương nở ( chủ yếu là Illite):
Hình 1.4: Cấu trúc của Illite
(nguồn: )
Mica là nhóm khoáng nguyên sinh có trong thành phần cát và thịt. Khoáng
Mica khi bị phong hóa lý học có kích thước mịn hơn được tìm thấy trong thành
phần sét được gọi là khoáng Mica có kích thước mịn hoặc Illite.
Sự thay thế đồng hình khác chất ở lớp tứ diện của nhóm khoáng này cac hơn
cả nhóm Vermicullite. Làm cho lớp này tích điện tích âm rất cao. Do đó để cân
măng, gốm sứ và các bộ lọc hóa học ( />Dưới đây là một số sản phẩm từ đất sét:
- Sản xuất gạch từ đất sét:
Cùng với các ngành sản xuất vật liệu xây dựng khác, ngành sản xuất gạch
đang phát triển nhanh chóng nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng ngày càng cao của
quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng dân dụng.
(Công ty cổ phần gạch ngói Kiên Giang, 2009)
Ở đồng ĐBSCL chủ yếu có 4 địa điểm tập trung sản xuất gạch tương đối nổi
tiếng là Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang, lưu vực sông Vàm Cỏ Đông thuộc các
tỉnh Long An - Tây Ninh.(Phạm Tiến Dũng, 2006).
Hình 1.5: Các lò gạch ven sông Tiền và sản phẩm gạch ( nguồn: )
8