9
nhằm khai thác mọi khả năng của các thành phần kinh tế. Đảng coi đây là giải pháp
có ý nghĩa chiến lược để giải phóng sức sản xuất và xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý.
• Đổi mới doanh nghiệp Nhà nước
Là thành phần nắm giữ một khối lượng lớn tài sản cố định và vốn lưu động, với gần
3 triệu lao động tạo ra khoảng 35 - 40% tổng sản phẩm xã hội và đóng góp trên 50%
ngân sách Nhà nước. Trong nhiều ngành công nghiệp, các xí nghiệp quốc doanh
chiếm khoảng từ 70 - 100% sản lượng. Tuy nhiên các xí nghiệp quốc doanh gặp rất
nhiều khó khăn, nhiều cơ sở kinh doanh yếu kém và không có hiệu quả thua lỗ hoặc
không có lãi. Vì vậy đổi mới các xí nghiệp quốc doanh (sau này gọi là doanh nghiệp
Nhà nước) là một trong những nội dung quan trọng trong quá trình đổi mới và được
thực hiện từng bước với các biện pháp:
+ Từng bước mở rộng quyền tự chủ cho doanh nghiệp Nhà nước đi đôi với xoá bỏ
chế độ Nhà nước bao cấp tài chính, cung ứng và bao cấp giá vật tư và định giá đối
với hầu hết các sản phẩm do DNNN sản xuất và tiêu thụ. Chế độ quốc doanh cũng
được bãi bỏ thay vào đó là chế độ thuế.
+ Sắp xếp lại DNNN theo hướng giải thể các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả,
thua lỗ kéo dài, sát nhập các doanh nghiệp có liên quan với nhau về công nghệ và
thị trường. Tổ chức lại công ty và các liên hiệp công nghiệp được thành lập trước
đây thành lập các Tổng công ty mới, trong đó Nhà nước bổ nhiệm Hội đồng quản trị
để điều hành và chịu trách nhiệm trước nhà nước về kết quả hoạt động của Tổng
công ty.
+ Chuyển sang các hình thức sở hữu khác, cổ phần hoá DNNN bắt đầu thực hiện thí
điểm từ năm 1992, đến năm 1996 mới có 10 doanh nghiệp đựơc cổ phần hoá.Từ
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
10
năm 1998 đến năm đến nay Nhà nước đã thực hiện nhiều biện pháp thúc đẩy nhanh
• Phát triển kinh tế cá thể, tư nhân và các loại hình sở hữu hỗn hợp.
Trước khi đổi mới khu vực kinh tế tư nhân và cá thể vẫn còn tồn tại ở nước ta,
chiếm tới 29,1% trong tổng sản phẩm xã hội. Nhưng chủ trương của Nhà nước là
hạn chế, cải tạo nên khu vực này từng bước được khôi phục và phát triển theo chủ
trương cải cách của Nhà nước.
Với chủ trương giao ruộng đất cho xã hội hợp tác xã nông nghiệp thì ở nông thôn,
các hộ gia đình đã trở thành đơn vị sản xuất tự chủ hoàn toàn. Sự tan rã của các tập
đoàn sản xuất và các hợp tác xã đã thúc đẩy sự phục hồi rất nhanh của kinh tế cá
thể.
Hiến pháp năm 1992 qui định mọi công dân được tự do kinh doanh theo pháp luật
không hạn chế qui mô vốn là số lao động sử dụng. Sau đó hệ thống luật pháp tiếp
tục được hoàn chỉnh và nhiều chính sách mới được ban hành nhằm khuýến khích
phát triển kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể.
Các hình thức sở hữu, kinh doanh hỗn hợp mới ra đời. Đặc biệt từ năm 1988, khi
Nhà nước ban hành Luật đầu tư nước ngoài thì các liên doanh với nước ngoài phát
triển dưới nhiều dạng khác nhau, như là: doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp
hợp đồng hợp tác kinh doanh doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài… riêng năm
2000 đã có 1063 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2787 doanh nghiệp hỗn
hợp.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
12
Đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH-HĐH) ứng dụng nhanh tiến bộ
khoa học công nghệ trên cơ sở đó phân công lao động xã hội.
Phân công lao động là cơ sở chung của sản xuất và trao đổi hàng hoá vì vậy để phát
triển kinh tế hàng hoá phải đẩy mạnh phân công lao động xã hội mà sự phân công
lao động xã hội do sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định cho nên muốn
mở rộng phân công lao động xã hội còn đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá
đất nước để xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền sản xuất hiện đại.
vững mạnh trên cơ sở đó mà thực hiện tốt sự phân công và hợp tác quốc tế.
• Đặc điểm của công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước ta hiện nay.
Thứ nhất, công nghiệp hoá - hiện đại hoá phải gắn liền với hiện đại hoá sở dĩ như
vậy là vì trên thế giới đang diễn ra được cách mạng và khoa học công nghệ hiện đại,
một số nước phát triển đã bắt đầu chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri
thức nên phải tranh thủ ứng dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học
công nghệ, tiếp cận kinh tế tri thức để hiệnd dại hoá những ngành, những khâu,
những lĩnh vực có điều kiện nhảy vọt.
Thứ hai, công nghiệp hoá nhằm mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, công
nghiệp hoá là tất yếu với tất cả các nước chậm phát triển nhưng với mỗi nước , mục
tiêu và tính chất của công nghiệp hoá có thể khác nhau ở nước ta, công nghiệp hoá
nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, tăng cường sức mạnh
để bảo vệ nền độc lập dân tộc.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
14
Thứ ba, công nghiệp hoá trong điều kiện cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà
nước. Điều này làm cho công nghiệp hoá trong giai đoạn hiện nay có sự khác biệt,
nó không xuất phát từ chủ quan của Nhà nước mà nó đòihỏi phải vận dụng các qui
luật khách quan mà trước hết là các qui luật thị trường.
Thứ tư, công nghiệp hoá trong điều kiện "chiến lược" kinh tế mở có thể đi nhanh
nếu chúng ta biết tận dụng, tranh thủ được thành tựu của thế giới và sự giúp đỡ của
quốc tế. Tuy nhiên nó cũng gây không ít trở ngại do những tác động tiêu cực của
nền kinh tế thế giới, mà các nước tư bản phát triển thiết lập không có lợi cho các
nước nghèo, lạc hậu. Vì thế, công nghiệp hoá - hiện đại hoá phải đảm bảo xây dựng
nước ta một nền kinh tế độc lập tự chủ.
• Những nội dung cơ bản của CNH - HĐH ở Việt Nam
Phát triển lực lượng sản xuất - cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội trên cơ
sở thực hiện cơ khí hoá nền sản xuất xã hội và áp dụng những thành tựu khoa học
thu hút vốn và kỹ thuật nước ngoài, từng bước gắn nền kinh tế quốc gia với nền
kinh tế thế giới, thị trường trong nước với thị trường quốc tế trên nguyên tắc bình
đẳng và cùng có lợi, đảm bảo độc lập, chủ quyền dân tộc và an ninh quốc gia.
• Về ngoại thương, cải cách ngoại thương được thực hiện theo hướng từng bước mở
cửa và hội nhập quốc tế.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
16
Chủ trương của Đảng và Nhà nước là: Đẩy mạnh xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu
nhập khẩu, coi xuất khẩu là một trong 3 chương trình trọng điểm của chặng đường
đầu tiên, là hướng ưu tiên của kinh tế đối ngoại trong suốt thời kỳ đổi mới. Các giải
pháp cụ thể là:
+ Nhà nước xoá bỏ bao cấp bù lỗ trong kinh doanh xuất nhập khẩu đối với các
DNNN từ cuối năm 1987 các doanh nghiệp này phải tự hạch toán kinh doanh sao
cho có hiệu quả.
+ Nhà nước bỏ nguyên tắc độc quyền ngoại thương (từ năm 1990)
+ Điều chỉnh tỷ giá hối đoái để khuyến khích xuất khẩu. Từ năm 1991 chế độ 2 tổ
quốc được xoá bỏ, chuyển sang thực hiện tỷ giá linh hoạt có quản lý củ Nhà nước.
• Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước nogài
Năm 1987, Nhà nước ban hành luật đầu tư nước ngoài, sau đó được bổ sung và sửa
đổi nhiều lần nhằm hấp dẫn các nhà đầu tư.
Nhà nước tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài như đơn giản hoá
thủ tục hành chính, xây dựng các khu chế xuất, cơ sở hạ tâng thuận tiện.
Những chính sách trên nhằm đẩy mạnh hoạt động thương mại quốc tế và thu hút
đầu tư của nước ngoài, kết hợp các nguồn lực bên trong và bên ngoài để phát triển
kinh tế.
d. Xoá bỏ triệt để cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, hoàn thiện cơ chế quản lý
kinh tế của Nhà nước