Tác gia Hoàng đế - Thiền sư
- Thi sĩ Trần Nhân tong Kết thúc khúc ca thành đạo, Trần Nhân Tông lại có bài kệ biểu cảm tâm thức con
người đạt đạo, thấu hiểu lẽ chân như và trở lại hòa nhập trong cuộc sống đời thường:
Cảnh tịch an cư tự tại tâm,
Lương phong xuy đệ nhập tùng âm.
Thiền sàng thụ hạ nhất kinh quyển,
Lưỡng tự thanh nhàn thắng vạn kim.
(Sống yên giữa cảnh lặng lòng không,
Gió mát hiu hiu lọt bóng thông.
Dưới gốc giường thiền kinh một quyển,
Thanh nhàn hai chữ đáng muôn đồng)
(Huệ Chi dịch)
Với tư cách vị tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, Trần Nhân Tông thể hiện khả
năng thâu thái những giá trị tinh thần Phật giáo từ bên ngoài để sáng tạo nên một Thiền
phái bản địa, nội sinh trên cơ sở thực tiễn xã hội và mạch nguồn tư tưởng văn hóa dân
tộc. Trần Nhân Tông cũng là nhân vật lịch sử hiếm hoi kết hợp nhuần nhuyễn cả hai vai
trò vương quyền và thần quyền, vị thế giáo chủ và một thiền sư đắc đạo, nhà truyền giáo
và nhà truyền bá văn hóa bằng chính những trang thơ độc đáo.
4. Về sự nghiệp sáng tác, Trần Nhân Tông còn để lại trên ba mươi tác phẩm, trong
đó có các bài tán, minh, thơ chữ Hán và hai bài phú chữ Nôm. Các sáng tác của Trần
Nhân Tông trải rộng diện đề tài từ dòng thơ chiến trận đến tâm sự buồn vui đời thường,
từ vận mệnh quốc gia đến nỗi niềm người khuê phụ, từ lối thơ xướng họa đến tức sự, từ
thơ bang giao đến vịnh cảnh non sông tươi đẹp, từ tiếng nói bậc đế vương đến sâu thẳm
chất Thiền Chỉ xem qua nhan đề các bài thơ cũng thấy bước chân ông đã trải khắp mọi
miền xứ sở, từ miền quê Thiên Trường (Nam Định) đến động Vũ Lâm (Ninh Bình),
hai, cảnh cuối xuân và ngày xuân tặng bánh cho sứ giả. Cùng viết về mùa xuân nhưng
có khi nhà vua nhập cuộc trong mối lo toan thế sự, nhắc đến điệu múa giá chi, món bánh
rau trong lễ tiết tháng ba và đằng sau đó là ý thức khẳng định truyền thống văn hóa dân
tộc:
Giá chi vũ bãi thí xuân sam,
Huống trị kim triêu tam nguyệt tam.
Hồng ngọc đôi bàn xuân thái bính,
Tòng lai phong tục cựu An Nam.
(Quỹ Trương Hiển Khanh xuân bính)
(Múa giá chi rồi thử áo xuân,
Hôm nay hàn thực buổi thanh thần.
Bánh rau đầy đặn như hồng ngọc,
Nước Việt tục này theo cổ nhân)
(Ngày xuân tặng bánh cho Trương Hiển khanh
- Trần Lê Văn dịch)
Có khi Trần Nhân Tông ngỡ ngàng trước hình ảnh đôi bướm trắng và bản thân
cảnh tượng đó đã làm nên một tứ thơ sinh động:
Thụy khởi khải song phi,
Bất tri xuân dĩ qui.
Nhất song bạch hồ điệp,
Phất phất sấn hoa phi.
(Xuân hiểu)
(Ngủ dậy, mở cửa sổ,
A, xuân về rồi đây!
Kìa một đôi bướm trắng,
Nhằm hoa, phơi phới bay)
(Buổi sớm mùa xuân - Trần Lê Văn dịch)
Có khi trong cảnh cuối xuân, thi nhân ngẫm ngợi câu chuyện kiếp người, bâng
khuâng suy nghiệm về lẽ sắc sắc không không. Vẫn là cảnh xuân, vẫn là trăm hoa năm
nào đấy thôi nhưng dường như bây giờ nhà thơ mới nhận diện được bản chất sự sống,
khói lam chiều, có sự chuyển giao giữa một ngày sôi động với chiều tà tĩnh lặng, có sự
khuất vắng dần của bóng người và tiếp nối sức sống của thế giới tự nhiên, có không gian
bóng chiều và âm hưởng tiếng sáo thanh bình, có hoạt cảnh lũ trẻ dắt trâu về cuối ngõ và
cò trắng xuống đồng Có thể nói kiệt tác Thiên Trường vãn vọng xứng đáng là bài thơ
mở đầu cho dòng thơ đề vịnh làng cảnh thôn quê Việt Nam.
Mở rộng diện đề tài, Trần Nhân Tông không chỉ viết về cây mai, về hoa mai nở
sớm, về gió trăng mà còn tập trung phản ánh nỗi lòng người lính trên đường Tây chinh,
cảm nhận được thế giới tâm linh Tuệ Trung Thượng sĩ, ghi nhớ hình bóng vua cha và
các nhà sư ở chùa Phổ Minh. Đi xa hơn, Trần Nhân Tông tiếp tục bày tỏ niềm cảm
thông với người khuê phụ:
Thụy khởi câu liêm khán trụy hồng,
Hoàng ly bất ngữ oán Đông phong.
Vô đoan lạc nhật Tây lâu ngoại,
Hoa ảnh chi đầu tận hướng Đông.
(Khuê oán)
(Tỉnh giấc rèm nâng ngó cánh hồng,
Hoàng oanh im tiếng giận Đông phong.
Lầu Tây vô cớ vầng dương lặn,
Cả bóng hoa cành ngả hướng Đông)
(Nỗi oán hận của người khuê phụ -
Trần Lê Văn dịch)
Thi nhân nhập thân cùng nỗi sầu khuê phụ, cô đơn trước một cánh hồng rơi rụng,
một tiếng chim vừa dứt, một chiều hoàng hôn mặt trời khuất nẻo và đẩy bóng hình muôn
vật cùng ngả về Đông. Đây cũng là một trong những bài thơ đầu tiên viết về người phụ
nữ, khơi nguồn cho dòng thơ phản ánh nỗi niềm người chinh phụ, cung nữ, thiếu phụ
chờ chồng và bao kiếp đào hoa bạc mệnh giai đoạn sau này
5. Thay lời kết
Trong lịch sử dân tộc, triều đại nhà Trần (1225-1400) nổi lên như một hiện tượng
độc đáo gắn với sự kiện các hoàng đế đều lui về hậu trường làm Thái thượng hoàng, đều
trở thành thiền sư và người ham chuộng Phật giáo, đồng thời cũng là những thi nhân nổi