Nghiên cứu loại hình học tác gia văn học thiền sư qua thiền uyển tập anh - Pdf 10

Nghiên cứu loại hình học tác gia văn học thiền
sư qua "Thiền uyển tập anh" Phạm Thị Minh Thuận Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn ThS. ngành: Văn học Việt Nam; Mã số: 60 22 34
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Kim Sơn
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Khảo sát, nghiên cứu tập sách “Thiền uyển tập anh” - bản dịch của Ngô
Đức Thọ - Nguyễn Thúy Nga. Nhận diện và xác lập địa vị cho các Thiền sư với tư
cách là một loại hình tác gia văn học của nền văn học Việt Nam. Đánh giá những
đóng góp của các Thiền sư với nền văn học dân tộc và giới thiệu những tác gia
Thiền sư tiêu biểu trong số đó.

Keywords. Tác gia văn học; Văn học Việt Nam; Nghiên cứu văn học

Content
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài:
Đạo Phật du nhập vào Việt Nam từ thiên niên kỉ thứ II, đến nay đã hơn hai
nghìn năm, Việt Nam trở thành quốc gia Phật giáo lâu đời. Trong chiều dài lịch sử phát triển
ấy, dưới thời Lý - Trần, Phật giáo có thể nói là cực thịnh. Đặc biệt trong hai thế kỉ nhà Lý
cầm quyền Phật giáo giữ vị trí độc tôn và trở thành Quốc giáo. Không phủ nhận vai trò của
các tôn giáo khác như Nho giáo, Đạo giáo với sự nghiệp xây dựng nhà nước phong kiến, phát
triển kinh tế - văn hóa - xã hội thời Lý - Trần và lại càng không thể phủ nhận vai trò nhân tố
nòng cốt trong đời sống tư tưởng văn hóa Lý - Trần của Phật giáo. Trong bối cảnh đó, Phật

sư tiêu biểu, trong số đó có các vị Thiền sư đã được ghi chép trong Thiền uyển tập anh như:
Thiền sư Mãn Giác, Thiền sư Viên Chiếu, Thiền sư Dương Không Lộ…
Cuối cùng là những bài viết in trong các sách giáo trình dành cho sinh viên, sách
nghiên cứu… của các tác giả Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân… các bài in trên Tạp chí Văn
học, Tạp chí Nghiên cứu Phật học… của các tác giả: Bùi Văn Nguyên, Kiều Thu Hoạch,
Nguyễn Đổng Chi, Phạm Ngọc Lan, Trần Thị Băng Thanh… phần nào đề cập đến một số tác
gia Thiền sư tiêu biểu trong số các vị Thiền sư của Thiền uyển tập anh và phân tích, đánh giá
một vài tác phẩm của họ.
Như vậy, đa số các tác giả, tác phẩm có mặt trong Thiền uyển tập anh đã được giới
nghiên cứu văn học tìm hiểu dưới góc độ này, góc độ khác. Tuy nhiên chưa có một công trình
nào ghi nhận họ với tư cách là một loại hình tác gia văn học có những đặc điểm chung về
cách nhìn, cách lựa chọn thái độ sống, tư thế ứng xử, quan điểm thẩm mỹ, xu hướng nghệ
thuật khác biệt.
Vì vậy, thực hiện luận văn “Nghiên cứu loại hình học tác gia văn học Thiền sư qua
Thiền uyển tập anh” chúng tôi muốn xác lập địa vị là một loại hình tác gia gần như đầu tiên
của văn học nước nhà cho các Thiền sư.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Luận văn chủ yếu khảo sát, nghiên cứu Thiền uyển tập anh - bản dịch của Ngô Đức
Thọ - Nguyễn Thúy Nga nhằm:
- Nhận diện và xác lập địa vị cho các Thiền sư với tư cách là một loại hình tác gia.
văn học của nền văn học Việt Nam.
- Đánh giá những đóng góp của các Thiền sư với nền văn học dân tộc và giới thiệu
những tác gia Thiền sư tiêu biểu trong số đó.
4. Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp nghiên cứu loại hình học.
-Phương pháp nghiên cứu thi pháp học.
-Phương pháp nghiên cứu liên ngành.
-Phương pháp phân tích văn bản.
5. Đóng góp của luận văn
Khác với những nghiên cứu trước đó về Thiền uyển tập anh, luận văn này của chúng

(Amitabha) - vị Phật ngự trị ở Tịnh Độ (Sukavati) tức cõi Tây phương cực lạc. Tịnh Độ tông
cho rằng chỉ cần niệm tên Phật A Di Đà là có thể đến Tây phương cực lạc. Cho nên phái này còn có
tên là Niệm Phật. Sau khi hình thành, Tịnh Độ tông đã phát triển mạnh mẽ ở Trung Quốc và lan
sang các nước khác. Tịnh Độ tông chủ trương tu dựa trên tha lực của Phật A Di Đà. Tha lực
này rất quan trọng đối với căn cơ con người thời nay. Việc tu hành được mở rộng ra những
hành động đơn giản như đi thăm chùa, tụng danh Phật A Di Đà. Nhờ cách như vậy mà Tịnh
Độ tông là tông phái phổ biến khắp cõi Việt Nam.
Mật tông là một tông phái Phật giáo chủ trương sử dụng những phép tu tụng niệm các
mật chú để đạt đến chân lý giác ngộ. Khi vào Việt Nam, Mật tông không tồn tại độc lập như
một tông phái riêng mà nhanh chóng hòa lẫn vào dòng tín ngưỡng dân gian với những truyền
thống cầu đồng, pháp thuật, yểm bùa, trị tà ma, chữa bệnh
Thiền tông (còn được biết là Zen hay Ch'an) là một tông phái Phật giáo do nhà sư Ấn
Độ Bồ Đề Đạt Ma (Boddidharma) sáng lập ra ở Trung Quốc vào đầu thế kỷ thứ IV. "Thiền"
là cách gọi tắt của "Thiền na" (Dhyana), có nghĩa là "Tĩnh tâm", chủ trương tập trung trí tuệ
để quán định (Thiền) nhằm đạt đến chân lý giác ngộ của đạo Phật. Theo Thiền tông, "Thiền"
không phải là "suy nghĩ" vì suy nghĩ là "tâm vọng tưởng", làm phân tâm và mầm mống của
sinh tử luân hồi. Cách tu theo Thiền tông đòi hỏi phải tập trung toàn bộ công sức và thời gian
cộng với phải có khả năng đốn ngộ.
Ngoài ra Phật giáo Việt Nam có những đặc điểm khác biệt so với Phật giáo Ấn Độ và
Trung Hoa như sau:
Tổng hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng truyền thống: người Việt Nam đưa các vị
Thần, Thánh, Mẫu, thành hoàng thổ địa, anh hùng dân tộc
Tổng hợp giữa các tông phái Phật giáo: các tông phái Phật giáo Đại thừa sau khi du
nhập vào Việt Nam trộn lẫn với nhau.
Tổng hợp giữa Phật giáo với các tôn giáo khác: Tín ngưỡng truyền thống đã tiếp
nhận Phật giáo ngay từ đầu Công nguyên. Sau đó Phật giáo cùng tín ngưỡng truyền thống
tiếp nhận Đạo giáo. Rồi tất cả cùng tiếp nhận Nho giáo để làm nên "Tam giáo đồng nguyên"
(cả ba tôn giáo có cùng một gốc) và "Tam giáo đồng quy" (cả ba tôn giáo có cùng một mục
đích).
Tính chất hài hòa linh hoạt: Phật giáo Việt Nam còn có một đặc điểm là rất linh hoạt,

năm 580, truyền thừa được 19 thế hệ. Dòng Thiền này chú trọng việc tu luyện Thiền định để
khai thác trí tuệ Bát nhã (trực giác nội quán) và các nội năng kỳ diệu trên cơ sở thuyết tính
không của Trung quán luận. Thiền phái này chủ trương tư duy siêu việt ngôn ngữ, với “tinh
thần không chấp trước,… vô trú nghĩa là không chấp có cũng không chấp không, không trú ở
có, cũng không trú ở không… cảnh giới của Thiền định siêu việt ngôn ngữ văn tự và tư duy
khái niệm”.
Vô Ngôn Thông là Thiền phái thứ hai truyền vào Việt Nam khoảng năm 820, truyền
thừa được 17 thế hệ. Tư tưởng cơ bản của Thiền phái này là tu luyện Thiền định để đạt tới
cảnh giới vô niệm, vô ngôn. Đó là “một thế giới nội tâm hoàn toàn vắng lặng, khi dòng suy
nghĩ miên man, liên tục, lộn xộn của tâm thức được chấm dứt. Khi ấy, trí tuệ vốn có của con
người bừng sáng, thực tại sẽ hiển lộ rõ ràng trước mắt. Đó chính là sự giác ngộ và giải thoát.
Đó chính là Niết Bàn”.
Thảo Đường là Thiền phái thứ ba của Việt Nam, ra đời trong thời Lý, do sư Thảo
Đường sáng lập và truyền đạo cho vua Lý Thánh Tông (thế hệ thứ nhất), vua Lý Anh Tông
(thế hệ thứ năm). Dòng Thiền này chủ yếu phát triển trong Hoàng gia và giới quý tộc có thế
lực thời đó. Do vậy, nó đã có sự tác động trực tiếp đến tư duy của họ trong đường lối trị
nước.
1.2.2 Thiền sư thời Lý
Dưới triều Lý, đạo Phật trở thành Quốc giáo, “dân chúng quá nửa là sư”, tầng lớp
chiếm vị trí quan trọng nhất trong đời sống chính trị - văn hóa - xã hội lúc đó là tăng lữ, trong
đó có những Thiền sư được phong là Quốc sư, có những đóng góp tích cực và to lớn vào sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, củng cố bộ máy nhà nước vững mạnh. Bên cạnh đó các
Thiền sư cũng đóng góp nhiều trong lĩnh vực văn hóa, họ chính là chủ thể sáng tạo ra nhiều
giá trị văn hóa, tinh thần như: thơ, kệ, văn bia,…
Tiểu kết: Chương 1 của luận văn, chúng tôi đã cung cấp những kiến thức cơ bản nhất
về Phật học, Thiền học, Thiền sư đặc biệt là Thiền học và Thiền sư dưới triều Lý. Đạo Phật
với tư cách là một học thuyết lớn và sớm nhất được truyền bá rộng rãi ở các nước phương
Đông với thế giới quan và nhân sinh quan có nhiều điểm tiến bộ, gần gũi với đại đa số quần
chúng nhân dân. Khi truyền vào Việt Nam đạo Phật phát triển qua các giai đoạn chủ yếu là
Phật phái Thiền tông. Thiền tông Việt Nam có sự kết hợp với Mật tông và Tịnh Độ tông, tạo

chiêm nghiệm đạo nghiêm túc thì mới có thể đắc đạo, đạt tới sự quân bình tâm và trí, thấy
được bản thể của chân như.
2.2.Thiền sư tu đạo cầu giải thoát
Đạo Phật ra đời với mong muốn dẫn dắt chúng sinh đi đến cõi Niết Bàn, giải thoát
khỏi mọi khổ đau, phiền não. Các Thiền sư vừa là những người tu đạo cầu giải thoát vừa là
những người trực tiếp thực hiện các công việc hoằng dương Phật Pháp, giáo hóa chúng sinh
theo Phật. Cuộc đời của họ dường như đi theo bước đường đời của bậc sáng tạo đạo Phật với
ba giai đoạn nổi bật: Thời niên thiếu, cuộc đời tu đạo và giờ phút viên tịch.
2.2.1.Thiền sư ra đời và niên thiếu
Khảo sát Thiền uyển tập anh cho thấy phần nói về sự ra đời và thời thơ ấu của các
Thiền sư thường đóng vai trò dẫn chuyện. Ngoài ra chúng cũng được xây dựng theo vài motif
cơ bản như: sinh “lạ”, tư chất “lạ”.
Kể về sự ra đời của các Thiền sư các tác giả không đơn thuần chỉ kể lại hiện tượng
sinh ra đơn thuần mà thường đi ngược về quá khứ, kể lại những việc làm của bậc cha mẹ, ông
bà được coi như là “duyên khởi” dẫn tới sự ra đời của các Thiền sư sau này.
Ngoài việc miêu tả quá trình mang thai và ra đời của các Thiền sư thường kèm theo
các hiện tượng lạ thì một số tiểu truyện khác lại chú ý khắc họa những đặc điểm khác lạ của
các Thiền sư ngay từ buổi đầu thơ ấu.
2.2.2 Thiền sư tu đạo
Khi tìm hiểu về cuộc đời tu hành và giáo hóa của các Thiền sư thời Lý thông qua các
tiểu truyện Thiền sư được chép lại trong Thiền uyển tập anh, chúng tôi sử dụng cách phân
chia của PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn trong chuyên luận “Loại hình tác phẩm Thiền uyển tập
anh” để khảo sát, đó là: Các Thiền sư có phép lạ; Các Thiền sư nhập thế; Các Thiền sư ẩn dật
và các Thiền sư có công hoằng dương Phật giáo.
2.2.2.1 Các Thiền sư có phép lạ
Mặc dù các Thiền sư được miêu tả là những người có phép lạ, có năng lực siêu phàm,
hô phong hoán vũ, bay trên trời, đi trên mặt nước… thì cuối cùng cuộc đời họ vẫn tuân theo
quy luật sinh - diệt như con người bình thường, tô đậm phép lạ là để nhấn mạnh uy danh,
pháp lực của các Thiền sư.
2.2.2.2 Các Thiền sư nhập thế

sát kỹ nhất. Từ đó chúng tôi nhận thấy, trong cuộc đời tu đạo của mình, các Thiền sư không
chỉ xuất thế hướng về thế giới tâm linh, tu luyện chân tâm mà còn tích cực nhập thế trên tinh
thần “hòa quang đồng trần” (hòa cùng ánh sáng của trần thế). Khuynh hướng ứng xử nhập thế
hay xuất thế chỉ mang tính chất phân chia tương đối, có khi nó chỉ thực sự rõ rệt ở một giai
đoạn nào đó trong cuộc đời tu đạo của Thiền sư. Cho nên bên cạnh những công lao trong sự
nghiệp hoằng dương Phật Pháp, các Thiền sư nhiều khi được nhắc đến như là những cá nhân
có đóng góp to lớn cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước, phát triển vương triều phong kiến.

Chương 3: Thiền sư và sáng tác văn học.
3.1 Thiền sư và tác gia Thiền sư
3.1.1 Về các khái niệm tác gia văn học, thi, kệ
Tác giả văn học: Người sáng tạo ra các giá trị văn học mới.
Tác gia, tác giả về bản chất không khác nhau. Gọi tác gia để tôn vinh các Thiền sư đã
có những sáng tác văn học mang tính chất mở đường, tạo dựng một nền văn học mang bản
sắc riêng của nước nhà.
Thi: Thể loại văn vần du nhập từ Trung Quốc.
Kệ: Thể loại văn vần được dùng trong Phật giáo, bắt nguồn từ Ấn Độ.
Thơ Thiền: Dùng miêu tả thiên nhiên, cuộc sống trong cảm quan Phật giáo.
3.1.2 Phật học, Thiền học và văn học
Nhìn chung tôn giáo và văn học gần như tồn tại song song vì cả hai đều có nhu cầu và
cần đến nhau. Cụ thể ngoài viêc gợi cảm hứng, cung cấp nguồn thi liệu, tôn giáo còn có cái
thần linh để kích thích sáng tạo nghệ thuật. Mặt khác bản thân tôn giáo muốn phát triển phải
mượn những phương tiện ngôn ngữ, văn tự và hình thức thể loại của văn học để trình bày,
miêu tả một cách trực diện giáo lý của mình.
Tư duy Phật giáo có ưu thế là kích thích cái không lời, tư duy ấy chứa chất bên trong
sức sống mãnh liệt, thu phục con người một cách toàn diện từ chiều sâu của sự cảm thụ, của
tâm thức. Văn chương cũng đi vào lòng người bằng chiều sâu cảm thụ, tâm thức. Đây là sự
gặp gỡ của Thiền với tâm thức văn chương. Nói cách khác, là chỗ tương đồng của tư duy
Phật giáo với tư duy văn học.
3.1.3 Thiền sư không sáng tác văn học

Các tác gia Thiền sư không hề chủ tâm vịnh cảnh, ngâm thơ nhưng trong khoảnh
khắc tìm về với thiên nhiên, cuộc sống để suy ngẫm Thiền lý, giải đáp những vấn đề của đạo
Phật, các Thiền sư đã có những vần thơ thật giàu màu sắc, âm thanh và tràn đầy sức sống về
thiên nhiên cuộc sống quanh mình như một biểu tượng sinh động cho các giáo lý khô khan.

3.3 Tác gia Thiền sư và những bài thơ Thiền
3.3.1 Diện mạo thơ Thiền trong Thiền uyển tập anh
Dù hình thức còn ít nhiều mộc mạc nhưng thông qua việc đề cập và lý giải những
phạm trù cơ bản của đạo Phật các tác gia Thiền sư đã bày tỏ niềm tin vào đạo, ngợi ca cuộc
đời tu đạo…
3.3.2 Thơ Thiền của phái Vô Ngôn Thông và Tì Ni Đa Lưu Chi
Dòng Thiền Vô Ngôn Thông nhỉnh hơn về số lượng tác gia, tác phẩm so với dòng
Thiền Tì Ni Đa Lưu Chi.
3.4 Tác gia Thiền sư và hệ thống chủ điểm thơ Thiền trong Thiền uyển tập anh
3.4.1 Quan hệ sinh - tử
Sinh, lão, bệnh, tử là bốn giai đoạn của đời người phải trải qua. Nó nằm trong
“thập nhị nhân duyên”. Xét dưới quan điểm Phật giáo Thiền tông thì cuộc sống từ khi sinh
đến khi chết chỉ là một giai đoạn trong vô vàn đoạn trên con đường đi tới Niết Bàn.
Thơ Thiền xét theo quan điểm luận văn đưa ra hầu như chỉ thuộc hai loại kệ ngộ
giải và kệ thị tịch. Trong đó kệ thị tịch lại chiếm đại đa số, do đó chúng ta hẳn không ngạc
nhiên nhiều khi thấy thơ Thiền của các tác gia Thiền sư thời Lý đề cập nhiều nhất đến quan
hệ sinh - tử.
3.4.2 Quan hệ hữu - vô
Sau “sinh” - “tử” thì “hữu” - “vô” hay “có” - “không”, cũng là hai thái cực rất
quan trọng trong tư tưởng Thiền tông. Người tu hành muốn giải thoát thì phải lìa xa mọi sự
chấp trước, đặt biệt là chấp vào nhị nguyên “hữu” - “vô”, “có” - “không”. Nếu hành giả vẫn
còn chấp vào hai thái cực đó thì vẫn bị nó tiếp tục dẫn dắt trong vòng có - không, vướng vào
tà kiến, chu du trong cõi mộng của luân hồi, giống như chiếc thuyền đưa ta đi khắp bến sông
nhưng không bao giờ cập bến vậy
Như vậy, các chủ điểm được đề cập đến nhiều nhất trong thơ Thiền là: sinh - tử, hữu -

thừa thành tựu của các nhà nghiên cứu trước đó. Chúng tôi tiếp tục khảo sát Thiền uyển tập
anh từ góc độ loại hình để góp phần làm sáng tỏ những đặc điểm của một loại hình tác gia
văn học: Loại hình tác gia văn học Thiền sư. Thông qua ba chương của luận văn, chúng tôi đã
tập trung giải quyết những vấn đề sau:
Một là, cung cấp cái nhìn tổng quan về đạo Phật từ khởi nguồn đến khi truyền vào
Việt Nam và phát triển đến thời Lý. Trong đó chú ý tổng hợp kiến thức cơ bản về thế giới
quan, nhân sinh quan Phật giáo. Tiếp đó là trình bày tới sự ra đời và phát triển của phái Thiền
tông tại Ấn Độ và Trung Quốc cùng với quá trình Thiền tông hình thành và phát triển tại Việt
Nam với những đặc điểm chung và riêng trong loại hình tu đạo, đặc biệt chú trọng đặc điểm
tình hình đạo Thiền và đội ngũ Thiền sư dưới triều Lý.
Hai là, khảo sát cuộc đời của các Thiền sư thời Lý nói chung, các Thiền sư được ghi
danh trong Thiền uyển tập anh nói riêng để hình dung và phác họa con đường tu đạo cũng
như các khuynh hướng ứng xử, các thành tựu của đội ngũ Thiền sư trong cuộc đời và trong
sự nghiệp tu hành, giáo hóa, hoằng dương Phật Pháp.
Ba là, nhìn nhận các Thiền sư trong vai trò mới: tác giả văn học - những chủ thể sáng
tạo ra nền văn học Phật giáo nói riêng, văn học Việt Nam nói chung với những nét khác biệt
về hệ tư tưởng, quan điểm thẩm mỹ, xu hướng nghệ thuật… so với các loại hình tác giả văn
học khác. Từ đó đánh giá ảnh hưởng của những nhân tố nói trên đến quá trình sáng tác cũng
như việc tạo ra nét đặc trưng khác biệt trong hệ thống tác phẩm của họ.
Với số lượng tác gia, tác phẩm khá lớn và mang trong mình những mã hóa không dễ
giải mã, luận văn của chúng tôi mới chỉ là những hình dung bước đầu về loại hình tác gia
Thiền sư, còn rất nhiều vấn đề xung quanh từng tác gia mà chúng tôi chưa có điều kiện đề
cập tới ở đây như: vấn đề tự giác văn học của các tác gia Thiền sư; Tình hình bộ phận tác
phẩm chưa được tuyển vào Thiền uyển tập anh của các Thiền sư; So sánh những nét tương
đồng và khác biệt của bộ phận những tác phẩm của tác gia Thiền sư với các tác gia không
phải Thiền sư của văn học Lý - Trần; Sự khác biệt trong sáng tác của Thiền sư thời Lý với
đội ngũ tác gia Thiền sư thời Trần…
Do khả năng và thời gian có hạn, luận văn của chúng tôi không tránh khỏi những thiếu
sót. Chúng tôi rất mong nhận được những đóng góp, ý kiến để tiếp tục bổ sung, hoàn thiện
luận văn của mình.

văn học, Tái bản, Nxb Giáo dục, Tp. Hồ Chí Minh.
17. Thích Nhất Hạnh, Nẻo vào thiền học, Lá Bối xuất bản.
18. Nguyễn Hùng Hậu (2003), Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội.
19. Nguyễn Duy Hinh (1992), “Phật giáo với văn học Việt Nam”, TCVH, (4, 3), tr.4-6.
20. Nguyễn Duy Hinh (1999), Tư tưởng Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
21. Kiều Thu Hoạch (1965), “Tìm hiểu thơ văn của các nhà sư Lý - Trần”, TCVH, (6),
tr.64-71.
22. Nguyễn Văn Hoàn (1975), “Thơ văn Lý - Trần và hào khí của một thời đại anh hùng”,
TCVH, (1), tr.42-53.
23. Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ X đến thế kỷ XVII (1976), Tập II, Nxb Văn học,
Hà Nội.
24. Nguyễn Phạm Hùng (2008), Các khuynh hướng văn học thời Lý - Trần, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
25. Nguyễn Phạm Hùng (1998), Thơ thiền Việt Nam những vấn đề lịch sử và tư tưởng
nghệ thuật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
26. Lê Văn Hưu, Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội (2008).
27. Đinh Gia Khánh Chủ biên (1980), Lịch sử văn học Việt Nam, Tập I, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội.
28. Đinh Gia Khánh - Bùi Duy Tân - Mai Cao Chương (1978), Văn học Việt Nam thế kỷ X
đến thế kỷ XVIII, Tập I, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
29. Lê Đình Kỵ - Phương Lựu (1983), Cơ sở lý luận văn học, Tập III, Nxb Đại học và
trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
30. Phạm Ngọc Lan (1986), “Chất trữ tình trong thơ thiền đời Lý”, TCVH, (4), tr.92-97.
31. Nguyễn Lang (2000), Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb Văn học, Hà Nội.
32. Đặng Văn Lung (1990), “Thơ sấm thời Lý”, TCVH, (5), tr.48-52.
33. Thích Duy Lực (1995), Danh từ thiền học chú giải, Tp. Hồ Chí Minh ấn hành.
34. Nguyễn Công Lý (1997), Bản sc dân tộc trong văn học Thiền thời Lý - Trần, chuyên
luâ
̣

50. Phước Sơn - Trì Liên Chủ biên (2002), Thơ Thiền Việt Nam, Nxb Tp.HCM.
51. Trần Đình Sử (1995), “Thời trung đại cái tôi trong các học thuyết, trong đời sống và
trong văn học”, TCVH, (7), tr.1-7.
52. Trần Đình Sử (2005), Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội.
53. Trần Thị Băng Tâm (1992), “Thử phân định hai mặt cảm hứng trong dòng văn học Việt
Nam mang đậm dấu ấn Phật giáo trong trung đại”, TCVH, (4), tr.30-35.
54. Thích Thiện Tâm (1998), Tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo, Nxb Tp. Hồ Chí Minh.
55. Bùi Duy Tân (1997), Giáo trình văn học Việt Nam, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.
56. Bùi Duy Tân (1976), “Vấn đề thể loại trong văn học Việt Nam thời cổ”, TCVH, (3),
tr.70- 80.
57. Bùi Duy Tân (1992), “Mối quan hệ về thể loại giữa Văn học Trung Quốc và Văn học
Việt Nam thời trung đại: Tiếp nhận – Cách tân – Sáng tạo”, TCVH, (1), tr.9-12.
58. Hà Văn Tấn (1992), “Vấn đề văn bản học các tác phẩm Văn học Phật giáo Việt Nam”,
TCVH, (4), tr.7-12.
59. Trần Thị Băng Thanh (1972), “Một vài tìm tòi bước đầu về văn bản Thơ văn Lý- Trần”,
TCVH, (5), tr.57-69.
60. Nguyễn Bá Thành (1995), Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam, Nxb Văn học,
Hà Nội.
61. Lê Mạnh Thát (1976, 1999), Thiền uyển tập anh dịch và chú thích, chuyển sang ấn bản
điện tử bởi Lê Bắc (2001).
62. Lê Mạnh Thát (2005), Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, Nxb Phương Đông, Tp. Hồ
Chí Minh.
63. Lê Mạnh Thát (2005), “Thơ thiền Việt Nam một con đường tiếp cận với văn hóa trong
quá khứ”, Tạp chí Văn hóa Phật giáo, (4), tr. 50-52.
64. Lê Mạnh Thát (2006), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Tập II, Nxb Tổng hợp Tp. Hồ Chí
Minh.
65. Nguyễn Đăng Thục (1974), Phật giáo Việt Nam, Nxb Mặt Đất, Tp.HCM.
66. Nguyễn Đăng Thục (1997), Thiền học Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, Tp.HCM.
67. Nguyễn Đăng Thục (1997), Thơ Thiền Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, Tp.HCM.

85. Trần Ngọc Vương (1999), Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội.
86. Trần Ngọc Vương (2010), Thực thể Việt nhìn từ các tọa độ chữ, Nxb Tri thức, Hà Nội.
87. Trần Ngọc Vương (1999), Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội.
88. Suzuki (2005), Thiền luận, (Trúc Thiên dịch), Quyển thượng, tái bản, Nxb Tổng hợp
Tp. Hồ Chí Minh.
89. Suziki (2005), Thiền luận, (Trúc Thiên dịch), Quyển trung, tái bản, Nxb Tổng hợp Tp.
Hồ Chí Minh.
90. Suzuki (2005), Thiền luận, (Trúc Thiên dịch), Quyển hạ, tái bản, Nxb Tổng hợp Tp. Hồ
Chí Minh.
91. Tiêu Lệ Hoa (Giáo sư, Khoa Văn học Trung Quốc, Đại học Quốc gia Đài Loan.), “So sánh “tự giác văn
học” của thi tăng Đinh, Lê, Lý và thi tăng Đường, Tống”
(http://www.vientriethoc.com.vn/?vientriet=articles_deltails&id=1203&cat=52&pcat=)
92. Kimura Taiken, Đại Thừa Phật giáo Tư Tưởng Luận, Hán Dịch: Thích Diễn Bồi - Việt
Dịch: Thích Quảng Độ , Xuất bản: Viện Đại Học Vạn Hạnh 1969 - Phật Học Viện
Quốc Tế, USA 1986 (http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-70_4-3418_5-50_6-
1_17-153_14-1_15-1/)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status