129
•
H
ệ
s
ố
mùa d
ị
ch
Với đa số các bệnh truyền nhiễm, dịch có những
diễn biến khá đều đặn theo các tháng trong năm.
Dịch theo mùa chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố
thiên nhiên, nhưng cũng có những can thiệp của các
yếu tố xã hội.
Ch
ỉ
s
ố
m
ắ
c b
ệ
nh trung bình ngày/tháng
HSMD= x 100
Ch
ỉ
s
ố
m
ắ
cân bằng giữa tác nhân gây bệnh và vật chủ, tạo
điều kiện để tác nhân gây bệnh.
130
•
Dạng dịch địa phương có thể cho thấy dịch xảy ra
khi sự cân bằng giữa tác nhân, vật chủ và môi
trường trong một không gian nhất định bị phá vỡ.
Sự khác nhau của điều kiện môi trường sinh thái, có
thể giải thích vì sao bệnh xuất hiện lẻ tẻ ở một vùng
lại là dịch địa phương so với một vùng khác.
•
Dạng dịch lưu hành cho thấy có sự mất cân bằng
trầm trọng có lợi cho “tác nhân” gây bệnh. Sự mất
cân bằng này thường phổ biến khi có một chủng vi
sinh vật mới được sinh ra (thường là đột biến từ
một chủng vi sinh vật nào đó) hay trong sự phơi
nhiễm lần đầu giữa vật chủ và vi sinh vật.
4. Vẽ đồ thị và phân tích dịch lưu hành
•
Ý ngh
ĩ
a và cách v
ẽ
đ
ồ
th
ị
bi
ể
u di
ề
n d
ị
ch
Bước đầu tiên phân tích một dịch bệnh là xác định
điểm xuất phát dịch, sự lan truyền dịch. Giả sử có một
số lượng gia súc lớn phơi nhiễm với một tác nhân gây
bệnh (thức ăn, nước uống bị nhiễm khuẩn…) sẽ sinh
ra một điểm nguồn dịch.
Nếu đường biểu diễn trên đồ thị từ điểm xuất phát
dịch đến quá trình xảy ra dịch có độ dốc lớn chứng tỏ
quá trình bệnh dịch xảy ra nhanh chóng đạt tới đỉnh
điểm, nhưng sau đó cũng giảm nhanh chóng.
Như vậy, nếu đã có một phơi nhiễm “đồng loạt” với
một tác nhân là nguyên nhân gây bệnh, thì đồ thị sẽ
xuất hiện rõ rệt một điểm nguồn dịch.
131
•
Khi một tác nhân gây bệnh được lan truyền trực
tiếp hoặc gián tiếp từ vật chủ bị nhiễm (coi là nguồn
bệnh) tới vật chủ mẫn cảm (động vật cảm thụ), đó
là kết quả của sự lan truyền dịch. Trong trường hợp
này, đường biểu diễn trên đồ thị từ điểm xuất phát
dịch đến quá trình xảy ra dịch có độ dốc ít hơn.
•
Chú ý, trong các bệnh truyền nhiễm có một số bệnh
có thời kỳ nung bệnh rất ngắn, nên có thể coi nó
đầu của dịch bệnh. Nếu thời gian nung bệnh kéo
dài, trong một số bệnh truyền nhiễm, đường biểu
diễn có thể có dạng hình sóng tương ứng với thời
kỳ nung bệnh. Đánh giá độ dài của thời kỳ nung
bệnh có thể giúp cho việc xác định nguyên nhân của
ổ dịch.
Thời kỳ có khả năng lan truyền: do ở giai đoạn này
có liên quan tới số lần phơi nhiễm giữa động vật thụ
cảm với động vật nhiễm bệnh nên nó cũng ảnh
hưởng tới quá trình dịch bệnh.
Khả năng gây nhiễm của tác nhân: những tác nhân
gây bệnh (mầm bệnh) nếu có độc lực cao, sức đề
kháng lớn sẽ làm cho dịch bùng phát nhanh chóng
hoặc ngược lại.
Tỷ lệ gia súc mẫn cảm trong quần thể: Tỷ lệ động
vật dễ nhiễm trong quần thể cũng ảnh hưởng đến
tốc độ lây lan bệnh rõ rệt. Nếu tỷ lệ này dưới 20-
30% thì thường ít hoặc không thể làm bệnh lây lan.
Nếu gia súc dễ nhiễm tăng dần trong quần thể thì
sự lan truyền của ổ dịch là tất yếu.
132
Mật độ động vật: có liên quan tới số lần phơi nhiễm
và tính hiệu quả của những lần phơi nhiễm, đều có
ảnh hưởng tới sự lan truyền dịch bệnh.
Hiệu quả theo dõi, giám sát: Công việc này cũng
Dịch bệnh muốn xảy ra được cần phải có đủ 3 khâu
của quá trình sinh dịch và sự liên hệ giữa 3 khâu đó.
Nếu thiếu 1 trong 3 khâu, đặc biệt là thiếu nguồn
bệnh thì dịch bệnh không thể xảy ra được. Nếu có
đủ cả 3 khâu nhưng không có sự liên hệ giữa 2
trong 3 khâu thì dịch bệnh cũng không xảy ra.
•
Do vậy nguyên lý của các biện pháp phòng chống
bệnh truyền nhiễm là xoá bỏ một hay nhiều khâu
của quá trình truyền lây hoặc xoá bỏ mối liên hệ
giữa các khâu.
Trên cơ sở phân tích những yếu tố này cho thấy nếu
xoá bỏ được khâu đầu tiên là biện pháp lý tưởng nhất,
tuy nhiên rất khó thực hiện.
Nếu tác động đến động vật thụ cảm tức là đã gián tiếp
tác động đến nguồn bệnh, do vậy nếu giảm được số
lượng động vật cảm thụ sẽ ngăn chặn hoặc hạn chế
quá trình sinh dịch, làm dịch ít hoặc không xảy ra.
Nếu tác động đến cả 3 khâu cùng một lúc thì hiệu quả
phòng chống bệnh sẽ tăng lên.
•
Tuy nhiên chúng ta thấy cả 3 khâu của quá trình sinh
dịch có liên quan ảnh hưởng tới nhau, tác động đến
khâu này sẽ ảnh hưởng đến khâu kia. Cho nên các biện
pháp phòng chống dịch bệnh phải là các biện pháp tổng
hợp để mang lại hiệu quả cao nhất.
II. CÔNG TÁC ĐIỀU TRA DỊCH TỄ HỌC
Khi phải đối phó với một ổ dịch: Đây là một cuộc điều
tra ngắn hạn, tập trung trong một phạm vi hẹp vào
một số ít chủ đề và phải hoàn thành trong một thời
gian ngắn.
Người nghiên cứu thường dựa vào những kết quả của
các cuộc điều tra trước và những dữ kiện thông tin
mới thu được trong quá trình điều tra hiện tại…
Từ đó đưa ra những giả thuyết, những nhận định
ban đầu hoặc những khuyến cáo cần thiết, nhằm hạn
chế trước mắt những tác hại của dịch bệnh, tiến tới
ngăn chặn và dập tắt dịch.
Khi muốn đặt kế hoạch tiêu diệt một bệnh nào đó:
Cuộc điều tra này được tiến hành trên một phạm vi
rộng lớn, trong một thời gian dài, qua nhiều năm,
có tính chất toàn diện.
Nhưng cũng phải tham khảo kết quả của những
cuộc điều tra ngắn hạn trước đó để xây dựng được
một kế hoạch phòng chống bệnh thích hợp, tiến tới
thanh toán và tiêu diệt bệnh.
135
•
Điều tra dịch tễ học phải tiến hành trên 3 mặt chính
về thời gian, không gian và đàn động vật.
Điều tra về thời gian có thể điều tra trong một thời
gian ngắn hoặc kéo dài nhiều năm, thời gian điều
qua triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đặc trưng.
Nếu cần thì phải dùng các xét nghiệm phi lâm sàng
để chẩn đoán.
136
Xác định xem đã ở mức độ dịch hay chưa: bằng
cách căn cứ vào số động vật mắc bệnh ở thời điểm
đó so với mức độ mắc ở thời gian trước. Một bệnh
được coi là gây thành dịch khi chỉ trong một thời
gian ngắn đã có tỷ lệ mắc vượt quá tỷ lệ mắc bệnh
trung bình của địa phương đó trong nhiều năm liền.
Mô tả dịch theo góc nhìn quen thuộc của dịch tễ:
sau khi chẩn đoán và mức độ dịch đã được xác
định. Cần mô tả dưới dạng các tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết,
tuổi, giống, loài, thời gian, thời điểm phát bệnh (vẽ
đường cong biểu diễn dịch), địa điểm phát xảy ra
dịch (bản đồ ấn ghim).
Hình thành các giả thuyết: giả thuyết về sự xuất
hiện và lan tràn của dịch, về dạng dịch, bệnh dịch
gì, quần thể có nguy cơ, nguy cơ cao nhất, nguồn
truyền nhiễm, nguồn nhiễm, nguyên nhân nghi ngờ
của dịch, phương thức bị nhiễm hoặc phương thức
lây lan, với các mức độ khác nhau nếu có thể được.
Kiểm định các giả thuyết vừa được nêu: có thể
kiểm định bằng cách chọn một nhóm đối chứng để
có thể so sánh với nhóm bệnh rồi tính nguy cơ
đã áp dụng để kiểm soát và hạn chế dịch, đồng
thời đề xuất những biện pháp phòng chống dịch
sau này.
III. CÁC BIỆN PHÁP TRONG VIỆC KIỂM SOÁT VÀ
THANH TOÁN BỆNH TRUYỀN NHIỄM
•
Kiểm soát bệnh truyền nhiễm là khái niệm mới
được dùng một cách tổng quát tương ứng với khái
niệm “phòng ngừa” trước đây và “giám sát” hiện
nay. Tuy nhiên cần phân biệt rõ:
Kiểm soát bệnh truyền nhiễm bao gồm một tập hợp
các biện pháp đối với cả cá thể và quần thể nhằm
ngăn chặn các đường truyền nhiễm, để đạt tới mục
tiêu là giảm tối thiểu được tỷ lệ hiện mắc của một
bệnh xuống đến mức thấp nhất không còn là vấn
đề đáng lo ngại cho sức khoẻ của quần thể.
Giám sát bệnh truyền nhiễm là một phương pháp
nghiên cứu liên tục trên các khía cạnh dịch tễ về tác
nhân gây nhiễm khuẩn, về các cá thể và về các yếu
tố của môi trường đối với một bệnh, mà công tác
nghiên cứu đó được tiến hành thường xuyên liên
tục, không phụ thuộc gì tình trạng của dịch. Mục
tiêu của giám sát là phòng ngừa sự xuất hiện
những vụ dịch mới.
Còn thuật ngữ thanh toán bệnh truyền nhiễm bao
gồm các biện pháp nhằm loại trừ chọn vẹn bệnh
trong quần thể (thí dụ: thanh toán bệnh Đậu mùa,
đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm
Chẩn đoán lâm sàng và điều trị đặc hiệu hoặc
không đặc hiệu, phát hiện cá thể bị bệnh trong các
nhóm quần thể có nguy cơ
Cách ly có chọn lọc các cá thể bị bệnh trong thời kỳ
có lây của bệnh
Vệ sinh tẩy uế trong và sau quá trình dịch
139
Tiêu diệt côn trùng, tiết túc, loài gặm nhấm có hại
Ngăn cách chọn lọc: các biện pháp bắt buộc với
người, động vật, phương tiện vận chuyển, dụng cụ
chăn nuôi, biện pháp bắt buộc khi nuôi chung nhiều
loại động vật
Gây miễn dịch và điều tra miễn dịch trong quần thể
Giám sát các loài động vật mang mầm bệnh và có
biện pháp phòng chống thích hợp
Thực hiện các biện pháp lý, hoá, sinh học làm trong
sạch môi trường
Kiểm tra vệ sinh thức ăn, nước uống, đồng cỏ, khu
vực chăn nuôi
bệnh có thêm động vật bệnh và động vật nghi lây.
1.1. Động vật mang trùng
•
Phải tìm mọi cách phát hiện bằng cách xét nghiệm
VSV học, huyết thanh học, phản ứng dị ứng. Khi
phát hiện những con vật vật này cần được cách ly,
không cho phơi nhiễm với động vật khoẻ.
•
Nếu số lượng động vật mang trùng ít thì xử lý theo
hướng dẫn của cơ quan thú y và pháp luật về thú y.
Nếu mang trùng nhiều thì đem nuôi nhốt tập trung
vào một chỗ riêng biệt.
1.2. Động vật bệnh
•
Động vật bệnh là trung tâm của ổ dịch vì nó là
nguồn bệnh, nó báo hiệu sự có mặt của các nguồn
bệnh tiềm tàng khác.
•
Muốn dập tắt ổ dịch cần phải nhằm đối tượng chủ
yếu và trước tiên là động vật bệnh, phải phát hiện
sớm bằng mọi cách, nếu chưa xác định được hoặc
nghi ngờ vẫn phải có biện pháp đề phòng lây lan.
141
•
Nguyên tắc nếu một động vật bệnh sốt chưa rõ
nguyên nhân phải được nghi là mắc bệnh truyền
nhiễm.
•
Động vật bệnh được phát hiện phải được cách ly tại
chỗ, kịp thời và triệt để.
hạn chế lây lan, hạn chế hiện tượng mang trùng và
ngăn ngừa được một số bệnh mạn tính.
•
Trong khi điều trị phải vừa tiêu diệt mầm bệnh và
độc tố vừa nâng cao sức đề kháng.
•
Nguyên tắc điều trị là:
Điều trị sớm để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan
Điều trị mọi mặt, bằng nhiều biện pháp
Điều trị căn nguyên cơ chế là chủ yếu, kết hợp điều trị
triệu chứng
Điều trị lành bệnh, còn những gia súc trở thành mang
trùng thì không nên điều trị
Điều trị phải có quan điểm kinh tế, nếu chữa lâu dài,
tốn kém mà cuối cùng vẫn mất giá trị thì không nên
điều trị.
Những bệnh nguy hiểm cho người thì không tiến hành
điều trị
Những cơ sở dùng để chữa bệnh truyền nhiễm phải
được cách ly tốt với xung quanh.
•
Các phương pháp điều trị bệnh truyền nhiễm
đường máu, tiêu diệt chúng và làm cho cơ thể động
vật sinh kháng thể.
Các hoá dược đó được tiêm cho những con khoẻ
mạnh có thể gây ra một loại miễn dịch hoá học
trong một thời gian nhất định (Naganin, Trypanxin).
Điều trị bằng protein: Khi tiêm một protein lạ vào cơ
thể theo một liều lượng thích hợp nó sẽ gây một
kích thích không đặc hiệu làm tăng thân nhiệt, tăng
bạch cầu, tăng hoạt động của hệ thống võng mạc
nội mô, biến đổi tính chất lý hoá của máu, làm tăng
tiết men và trao đổi chất trong tế bào.
Nó còn gây phản ứng cục bộ giúp cơ thể thanh toán
nhanh chóng hiện tượng viêm bệnh lý, thúc đẩy quá
trình thực bào.
Trong thú y, người ta đã dùng máu bò để chữa
bệnh lợn con tiêu chảy, dùng lòng trắng trứng để
chữa bệnh Đóng dấu lợn.
144
Điều trị bằng Vacxin: Một số bệnh truyền nhiễm của
gia súc có thể chữa bằng vacxin chế từ mầm bệnh
phân lập được trên gia súc bệnh. Phần lớn những
vacxin này chữa những bệnh mạn tính, cho con vật
suy yếu không còn phản ứng bảo vệ.
Vacxin kích thích cơ thể sản sinh kháng thể đặc hiệu