Bài giảng dịch tễ học thú y part 3 pot - Pdf 19

33
7. Sự nhiễm (infection)

Là tác nhân truyền nhiễm có khả năng xâm nhập,
phát triển và nhân lên trong cơ thể động vật sống.
8. Sự ô nhiễm (contamination)

Là sự có mặt của các tác nhân gây nhiễm trong môi
trường với một số lượng vượt quá chỉ tiêu cho
phép.
9. Tính cường độc (virulence)

Là khả năng của một tác nhân có thể gây bệnh
nặng cho động vật.
VII. THUẬT NGỮ ĐỐI VỚI BỆNH KHÔNG TRUYỀN NHIỄM
1. Giai đoạn cảm ứng

Là thời gian từ lúc phơi nhiễm với tác nhân đến khi
xuất hiện bệnh (giống như thời thời kỳ nung bệnh
trong bệnh truyền nhiễm)
2. Sự ô nhiễm

Là sự có mặt của các chất độc, các khí thải có hại
cho sức khoẻ của con người và động vật với một số
lượng vượt quá các chỉ tiêu cho phép ở trong một
môi trường ngoại cảnh nhất định.
CHƯƠNG 3
CÁC THÔNG SỐ ĐO LƯỜNG
DỊCH TỄ HỌC
34
I. KHÁI NIỆM VỀ SỐ LIỆU VÀ BẢNG SỐ LIỆU


Các biến số đơn lẻ điều tra thu thập được, sẽ được
tập hợp thành bảng số liệu hay mục lục (có thể coi
đây là cơ sở của dữ liệu hay ngân hàng số liệu). Tập
hợp của các số liệu thường được sắp xếp theo hệ
thống mô hình 2 chiều tên của các biến số được xếp
theo chiều ngang còn các số liệu thu được xếp theo
chiều dọc.

Thông thường các bảng số liệu sẽ được sắp xếp theo
những chuyên đề, khi cần có thể tra cứu dễ dàng. Có
thể dùng máy tính để lưu trữ hoặc sắp xếp số liệu,
nếu không có máy tính thì dùng tay để ghi chép, tổng
hợp, lưu trữ, sắp xếp số liệu.
35

Do các số liệu thu được là những thông tin rất cần
thiết trong bất kỳ nghiên cứu nào nên cấu trúc của
các bảng số liệu phải khoa học, có hệ thống. Đây là
cơ sở để tra cứu, tích luỹ, phân tích, trao đổi thông
tin và giúp phục hồi số liệu khi cần thiết một cách
thuận lợi nhất.

Tóm lại phải xây dựng được một cơ sở dữ liệu cho
thật cẩn thận, chi tiết và dễ dàng xử lý khi cần thiết
(số liệu không biết sắp xếp và xếp không đúng chỗ
coi như số liệu đó đã chết hoặc bị mất).
3. Phương pháp thu thập số liệu

Khi thu thập số liệu trong bất kỳ chương trình điều

tuỳ thuộc tính chất và tình hình dịch bệnh.

Lựa chọn biện pháp: nhận định, đánh giá, rút ra kết
luận về các biện pháp đã giải quyết là được hay
không được, chấp nhận hay không chấp nhận. Tuy
nhiên, dù được hay chưa, chấp nhận hay không
cũng đều phải được kiểm tra lại từ đầu.

Hệ thống sắp xếp số liệu: sắp xếp lại các số liệu thu
thập được theo từng chuyên đề nghiên cứu riêng
hoặc đánh số, theo thư mục để khi cần sử dụng có
thể tra cứu dễ dàng, thuận lợi.
4. Trao đổi dữ liệu

Giữa những người làm công tác chuyên môn, giữa
các trung tâm nghiên cứu có thể trao đổi dữ liệu:

Trao đổi các báo cáo, thông tin về lĩnh vực chuyên
môn…

Giới thiệu các kết quả nghiên cứu trên sách báo,
tạp chí, Internet

Thu nhận các thông tin qua máy tính có nối mạng
giữa những người nghiên cứu, các phòng ban,
Trung tâm, Cục, Vụ, Viện, Trường, địa phương,
giữa các quốc gia về các vấn đề cùng quan tâm.
II. KHÁI NIỆM VỀ TỶ SỐ, TỶ LỆ, TỶ SUẤT

Thông số đo lường về bệnh là công việc đầu tiên,

sánh các tỷ lệ.

Thí dụ: trong một mẫu nghiên cứu về đại gia súc,
trong đó có 600 trâu, 300 bò. Tỷ số trâu/bò là 2
hoặc bò/trâu là 0,5 hoặc 1/2, cả 2 tỷ số này hệ số k
đều bằng 1.
2. Tỷ lệ (Proportion)

Tỷ lệ là một phân số nói lên sự biến đổi của một đại
lượng này (ghi ở tử số) so với sự thay đổi của một
đại lượng khác (ghi ở mẫu số). Đại lượng ghi ở
mẫu số này thường dùng là đơn vị thời gian, nên có
sự quan hệ chặt chẽ giữa tử số và mẫu số.

Tỷ lệ là một dạng đặc biệt của tỷ số, mà sự kiện
được nêu đều xảy ra trong một khoảng thời gian
xác định, trong đó số đo của tử số là một bộ phận
của mẫu số, cả hai đại lượng này đều được đo
đồng thời.
38

Một tỷ lệ có dạng:
{a/(a+b)}x100

Trong đó:

a là tần số xuất hiện sự kiện, hiện tượng cần quan
tâm, thí dụ: số con nhiễm, mắc bệnh, chết…

b là tần số không xuất hiện sự kiện, hiện tượng cần


Tỷ suất được biểu thị dưới dạng:
(a/b) x k

Trong đó:

Tử số a của tỷ suất: là tần số xuất hiện sự kiện,
hiện tượng A (nhiễm, ốm, bệnh, chết) ở một quần
thể xảy ra trong một khoảng thời gian t1 – t2.

Mẫu số b là tần số xuất hiện của sự kiện, hiện
tượng B, trong thời gian đó, quần thể đó. b là tần
số xuất hiện sự kiện A nhưng ở một thời gian khác,
quần thể khác. Đại lượng mẫu số này (b) thường
khó ước lượng được chính xác.

Hằng số k là một luỹ thừa của 10, nó phụ thuộc vào
kích thước tương đối của các đại lượng a và b.
Chọn hằng số k sao cho tỷ suất chỉ có 1 đến 2 chữ
số đứng trước dấu phẩy để dễ dàng khi đọc tỷ lệ.

Chú ý: tính tỷ suất trong dịch tễ học là để so sánh
cùng một hiện tượng ở 2 quần thể khác nhau, 2
thời gian khác nhau, 2 khu vực khác nhau, 2 hiện
tượng khác nhau ở cùng một quần thể, cùng một
thời gian và ngược lại

VD: trong một trại lợn có 500 con, sau bữa ăn trưa khoảng 5
tiếng có 50 lợn bị tiêu chảy, trong đó có 32 lợn con và 18 lợn hâu
bị, ta có thể tính:


đ

ng v

t m

c b

nh
T

l

1 = x 100
T

ng s

đ

ng s

đ

ng v

t có nguy cơ m

c b

đ

ng v

t có nguy cơ m

c b

nh

Tỷ lệ này ước tính số lần động vật có thể bị mắc
bệnh trong quần thể có nguy cơ trong thời gian
nghiên cứu.

Chú ý: Cả 2 tỷ lệ này đều được tính cùng trong một
thời gian nghiên cứu, khi có số sự kiện khác nhau
như trên thì trong cả hai trường hợp tử số phải
được xác định rõ ràng.

Khi không có sự khác biệt thì tử số thường được
tính là số động vật mắc bệnh và tỷ lệ mắc bệnh là
biểu thị xác suất đối với một đối tượng động vật.
41
5. Đặc điểm mẫu số của tỷ lệ

Mẫu số của tỷ lệ (nhiễm, mắc, chết…) là tổng số
các cá thể có trong quần thể được đếm một cách
chính xác trong thời gian nghiên cứu.

Tuy nhiên, vì số mắc và số chết phải phủ kín trong

là số hiện mắc của một bệnh nhất
định nào đó, bao gồm tất cả các cá thể đang có
bệnh đó mà ta có thể đếm được trong một quần
thể ở một thời điểm nhất định hoặc trong khoảng
thời gian nhất định.

T

l

m

c (phát) b

nh:
là cơ sở nền móng của điều
tra dịch tễ học, nó đánh giá sự rủi ro bình quân trở
thành một ca bệnh hay đánh giá khả năng gây bệnh
trong một giai đoạn nhất định.
42

Tỷ lệ mắc bệnh có thể tính theo 2 cách:

Tỷ lệ mắc bệnh so với tổng đàn bình quân:
S

gia súc m

c b



ng đàn gia súc b

đe do

trong th

i gian đó

Chú ý: Tỷ lệ mắc bệnh là sự đánh giá khả năng gây bệnh
của một “tác nhân” nào đó đối với quần thể. Nên tỷ lệ
mắc bệnh phải bao gồm cả sự đánh giá về thời gian nằm
trong mẫu số, vì vậy nó được đánh giá bằng những đơn vị
thời gian nhất định.

Do vậy khi nói tỷ lệ mắc bệnh bao giờ cũng phải xác định
thời gian kèm theo, nếu không sẽ không mang ý nghĩa gì
về mặt dịch tễ học.

Trong nghiên cứu dịch tễ học thì mẫu số cũng quan trọng
như tử số, các đại lượng này có quan hệ chặt chẽ với
nhau, nếu không có một trong 2 đại lượng trên thì không
thể tính được các thông số của dịch tễ học.

Bởi vì tử số là các trường hợp bệnh hoặc chết, còn mẫu
số là các trường hợp không bệnh, các động vật khoẻ hoặc
số động vật bị đe doạ.
2. Tỷ lệ nhiễm

T

Tỷ lệ hiện mắc sẽ có được bằng cách đem số hiện
mắc chia cho tổng số cá thể của quần thể (quần thể
có nguy cơ, quần thể định danh…) tuỳ mục tiêu của
nghiên cứu. Tỷ lệ hiện mắc được ký hiệu là P
(Prevalence).

Có 2 số đo của tỷ lệ hiện mắc:

T

l

hi

n m

c đi

m:
Tỷ lệ này được thu thập khi
tiến hành một nghiên cứu ngang, nó cho biết chính
xác tỷ lệ bệnh trong quần thể ở vào một thời điểm
nhất định khi nghiên cứu.
S

hi

n m

c c

trên thực tế thời điểm ở đây được hiểu là một thời
gian ngắn: một ngày, một tuần, 2 tuần

T

l

hi

n m

c k

:
Tỷ lệ này được thiết lập khi tiến
hành một cuộc nghiên cứu dọc (nghiên cứu hồi cứu
hay tương lai).
S

hi

n m

c c

a qu

n th

trong th

phải xác định thời gian kèm theo, nếu không sẽ
không có ý nghĩa gì cả. VD: Tỷ lệ mắc bệnh Nhiệt
thán ở trâu bò trong năm 1998 ở tỉnh Lai Châu là
4/1000 hay 0,4%.
44
4. Số mới mắc và tỷ lệ mới mắc

S

m

i m

c:
Có được khi tiến hành một cuộc
nghiên cứu dọc. Nghĩa là một nghiên cứu được tiến
hành trong một khoảng thời gian dài, mà trong
khoảng thời gian đó người ta chỉ đếm số mới mắc
là số động vật mắc bệnh có thời điểm phát bệnh
nằm trong khoảng thời gian nghiên cứu (Không
gồm số động vật bệnh có thời điểm phát bệnh xảy
ra trước thời điểm bắt đầu nghiên cứu).

T

l

m

i m

Là tỷ lệ mắc trong một đơn vị thời
gian xảy ra dịch tuỳ theo tình hình, diễn biến của
dịch mà đơn vị thời gian tính có thể là ngày, tuần,
tháng, quí, năm.
T

l

m

i m

c trong th

i k

nghiên c

u
TĐMM =
Đơn v

th

i gian nghiên c

u

Số này còn gọi là số mắc trung bình hoặc tốc độ
mắc trung bình hoặc tốc độ tấn công trung bình


l

t

n công th

phát:
Tử số là những cá thể mắc
thêm (không tính các cá thể đã mắc đợt đầu), mẫu
số là tổng số các cá thể có nguy cơ đã trừ đi số mắc
lần đầu tiên.

Cách tính này thường được áp dụng đối với những
bệnh có “đuôi dịch”. VD: những vụ nhiễm độc thức
ăn có kèm nhiễm khuẩn.

T

l

m

i m

c tích lu

(Cumulative Incidence Rate -
CIR):
Nguy cơ phát ra một bệnh được lượng hoá bằng

cá th

trong qu

n th

t

i th

i đi

m b

t đ

u nghiên c

u
46

Số mới mắc tích luỹ bao giờ cũng được biểu thị
dưới dạng tỷ lệ mới mắc tích luỹ. Số mới mắc tích
luỹ được tính bằng cách đếm số mới mắc được
trong các đơn vị thời gian nghiên cứu

VD: Theo dõi về khả năng mắc bệnh Lao của đàn
bò 100 con (lúc đầu kiểm tra bằng phản ứng
Tuberculin không có con nào mắc bệnh), 6 tháng
kiểm tra một lần, sau 3 năm (6 lần kiểm tra) thấy

S

m

i m

c trong qu

n th

trong th

i k

nghiên c

u
IDR=
T

ng s

đơn v

đ

dài th

i gian có nguy cơ
theo dõi đư


VD: nghiên cứu theo dõi một đàn gà mái 60 con đối với bệnh do
Salmonella trong thời gian 12 tháng. Cứ 3 tháng kiểm tra một lần bằng
phản ứng huyết thanh ngưng kết. Nhận thấy có 55 con qua 4 lần kiểm
tra đều bình thường (âm tính) và có 5 con ở lần kiểm tra thứ 3 (tức sau
9 tháng có phản ứng dương tính ở hiệu giá 1/160 – có bệnh).

Ta có thể tính tổng số thời gian theo dõi đàn gà trên như sau:

Tổng thời gian theo dõi đối với 55 gà bình thường: 12 tháng x 55con =
660 tháng – con

Tổng thời gian theo dõi đối với 5 gà bệnh là: 9 tháng x 5 con = 45 tháng
- con

Tổng thời gian theo dõi của cả đàn gà là: 660 tháng-con + 45 tháng-con
= 705 tháng-con

Trong thời gian theo dõi này có 5 trường hợp mắc bệnh, do đó: IDR =
5/705 tháng-con= 1/141 = 0,00709 tháng – con
5. Liên quan giữa tỷ lệ hiện mắc và tỷ lệ mới mắc

Khái niệm về bệnh kỳ và bệnh có tình hình dừng

B

nh k

:
là thời gian kéo dài từ thời điểm phát bệnh

tăng cường sức khoẻ cho quần thể động vật…),

Hoặc cùng lúc tiến hành cả hai biện pháp này.
6. Liên quan giữa tỷ lệ mới mắc tích luỹ (CIR)
và mật độ mới mắc (ID)

Khái ni

m v

th

i k

phơi nhi

m:
Thời gian phơi
nhiễm (L) được tính là thời gian kể từ khi bắt đầu
phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ đến thời điểm
phát hiện bệnh. Nó chính là thời gian đáp ứng đối
với liều đáp ứng tối thiểu, nó tương đương với thời
kỳ nung bệnh trong các bệnh truyền nhiễm.

Mối liên quan được biểu diễn bằng công thức:
ID = CIR/L

VD: một bệnh có CIR = 1,87% trong 1 năm, mà
thời kỳ nung bệnh L = 6 tháng thì ID = 0,0031
tháng - con


i gian
CDR = x 100
T

ng đàn bình quân c

a qu

n th

trong th

i gian đó

Tỷ lệ này có thể được thể hiện bằng nhiều cách
khác nhau nó phản ánh nguy cơ chết cho cả một
quần thể nên thường được dùng để so sánh nguy
cơ chết của các quần thể khác nhau trong cùng một
giai đoạn hoặc ở những giai đoạn khác nhau.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status