Tế bào - Đơn vị căn bản của
sự sống
Ti thể là nơi chuyển hoá năng lượng:
Trong các tế bào Eukaryotic, sự phân giải các phân tử nhiên liệu như
glucose bắt đầu trong cytosol. Các phân tử từ quá trình phân giải này sẽ
vào ti thể mà chức năng cơ bản của chúng là chuyển hóa các năng lượng
háo học thành các dạng năng lượng mà tế bào có thể sử dụng như các
phân tử giàu năng lượng, ATP. Các phân tử cao năng ATP trong ty thể
được tạo ra bằng cách sử dụng các phân tử nhiên liệu từ cytosol và phân
tử oxy được gọi là hô hấp tế bào .
Các ti thể trong tế bào rất nhỏ đuờng kính khỏang 1.5 micromet và dài
khoảng 2-8 µm là cỡ của nhiều loại vi khuẩn. Số lượng của ti thể trong
các tế bào khác nhau là khác nhau, số lượng của nó có thể lên đến một
trăm nghìn trong tế bào trứng lớn. Trung bình ở tế bào gan của người có
chứa khoảng hơn một nghìn ti thể. Tế bào nào càng cần sử dụng nhiều
năng lượng thì có số lựong ti thể càng lớn.
Cấu tạo trong của ti thể
Ti thể có 2 màng: màng trong và màng ngoài. Màng ngoài trơn và có
chức năng bảo vệ ti thể. Màng trong của ti thể tạo thành nhiều nếp gấp,
do đó diện tích bề mặt của cúng gấp nhiều lần so với màng ngoài. Màng
trong ti thể chứa một lượng lớn các phân tử protein lớn, các protein này
tham gia vào quá trình hô hấp của tế bào. Bên trong màng trong là
matrix (chất nền), tại đây nó chứa nhiều ribosome và DNA của ti thể
nhằm sinh tổng hợp các protein cần thiết cho quá trình hô hấp.
Trong chương 7 chúng ta sẽ nói về vai trò của các bộ phận khác nhau
nhưng không phải là tất cả protein của lục lạp. Tế bào của động vật thì
không sản sinh ra lục lạp nhưng có mọt vài tế bào mang các chức năng
của lục lạp. Nhưng tế bào này đưa vào trong chúng những lục lạp tự do
của thự vật xanh như tảo, đó là mối liên quan giữa động vật và thực vật.
Màu xanh của san hô và một số loại hải quỳ là kết qủa của lục lạp chứa
trong tảo, chúng sống trong các động vật này(hinh16).
hinh4.16
Các động vật nguyên sinh nhận một số chất dinh dưỡng từ quang hợp,
đó là do chúng có chứa lục lạp của một số loại tảo sống kí sinh mang lại.
Mối quan hệ giữa hai loài khác nhau gọi là Symbiois.
Các loại lạp khác :
Cũng chứa các sắc tố hoặc các polyssaccharides.
Chromoplast(sắc lạp): Các hạt chứa các sắc tố đỏ, vàng cam, hoặc sắc tố
vàng đem lại màu cho các thực vật như màu của hoa (hình4.17a).
hình 4.17 Tới nay, chromoplast không biết có chức năng hóa học trong tế bào , tuy
nhiên màu sắc trên hoa và trái của chúng đóng vai trò thu hút côn trùng
thụ phấn cũng như sự phát tán hạt. Leucoplast(vô sắc lạp hay bột lạp):là
nơi dự trữ bột và chất béo.
Hiện tượng nội cộng sinh giải thích nguồn gốc của ty thể và lục lạp
Mặc dù lục lạp và ti thể là các dạng có trong tế bào,chúng có thể tổng
lục lạp và các prokarypte có khả năng quang hợp.
Để giải thích cho việc có hai lớp màng bao quanh ti thể và lục lạp, người
ta cho rằng màng ngoài của ti thể và lục lạp là do sự nhấn sâu vào của
màng tế bào chất của tế bào chủ tạo thành, còn màng trong là màng của
bản thân chúng.
Các bào quan khác
Các tế bào Eukaryote có nhiều các bào quan khác được bao bọc bởi 1
màng đơn.
Peroxisome – nơi diễn ra các phản ứng hóa học trong tế bào
Peroxisomes là những bào quan loại bỏ những độc tố cho tế bào (như là
oxi già, H2O2), đây là những sản phẩm tất yếu của các phản ứng hóa
học. Những chất độc này có thể được phá hủy dễ dàng bên trong các
peroxisomes mà không ảnh hưởng đến các phần khác của tế bào.
Peroxisomes là những bào quan nhỏ, đường kính khoảng 0,2 đến 1,7
µm. Chúng có 1 màng đơn và phần bên trong chứa các enzymes đặc biệt
(hình 4.19). Peroxisomes được tìm thấy trong 1hay nhiều loại tế bào
khác nhau trong hầu hết các loài có tế bào nhân thật (tế bào eukaryote).
1 bào quan có cấu trúc tương tự, glyoxysome, chỉ được tìm thấy ở tế bào
thực vật. Glyoxysome, dễ thấy nhất là trong các cây non, là nơi dự trữ
lipid để chuyển thành dạng carbonhydrates để cung cấp cho quá trình
sinh trưởng của tế bào.
Không bào chứa nước và các dịch hòa tan
Nhiều tế bào eukaryote, nhưng đặc biệt là thực vật và sinh vật đơn bào,
có không bào có màng bao quanh chứa các dịch lỏng chứa nhiều chất